Tiểu luận Thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta từ đổi mới đến nay

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I. Những vấn đề lý luận và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 2

1. Những vấn đề lý luận 2

1.1. Đặc điểm của kinh tế tư nhân 2

1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân nước ta hiện nay 3

2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 5

II. Thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta từ đổi mới đến nay 6

1. Những thành tựu 6

1.1. Khơi dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân cư tham gia vào công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm 6

1.2. Thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế 7

1.3. Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam. 7

1.4. Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội 8

2. Những hạn chế 9

3. Một số nguyên nhân chủ yếu 12

3.1. Nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách của Nhà nước 12

3.2. Nguyên nhân từ bản thân doanh nghiệp 14

III. Giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân 15

KẾT LUẬN 21

 

 

doc24 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 1314 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta từ đổi mới đến nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n đang rất mất cân đối ở nước ta hiên nay. - Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong những năm gần đây. Đặc biệt, trong nông nghiệp, nó đã đóng góp đáng kể trong trồng trọt, chăn nuôi và quan trọng hơn cả là trong các ngành chế biến, xuất khẩu, nhờ đó kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch quan trọng theo hướng sản xuất hàng hoá, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. - Đóng góp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách. Kinh tế tư nhân là nguồn lực chủ yếu phát triển các mặt hàng mới, mở rộng thị trường xuất khẩu, thậm chí một số doanh nghiệp đã vươn lên chiếm lĩnh thị trường xút khẩu về một số mặt hàng quan trọng. - Đóng góp của các doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước có xu hướng tăng nhanh, bao gồm các nguồn thu: thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế môn bài, VAT trong nhập khẩu và các khoản phí khác. - Khu vực kinh tế tư nhân đã có đóng góp rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư xã hội. - Khu vực kinh tế tư nhân góp phần quan trọng tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, xoá đói giảm nghèo. II. Thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta từ đổi mới đến nay 1.Những thành tựu Nhìn tổng thể, sự hồi sinh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân từ sau đổi mới đến nay đã mang lại nhiều kết quả kinh tế - xã hội to lớn, mà nổi bật là: 1.1. Khơi dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân cư tham gia vào công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm 1.1.1, Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp một lượng vốn đầu tư rất đáng kể cho nền kinh tế: 49% tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội năm 1990 và trên 21% năm 1998, tức là chiếm trên 1/5 tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội - là tỷ trọng không nhỏ. 1.1.2. Tạo việc làm, toàn dụng lao động xã hội Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng tham gia tích cực và có hiệu quả đối với vấn đề giải quyết việc làm. Tính đến năm 1996 đă giải quyết việc làm cho 4.700.742 lao động, chiếm gần 70% lực lượng lao động xã hội trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp. 1.1.3. Đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Năm 1995, khu vực tư nhân đóng góp 43,50% GDP, khối tư bản tư nhân chiếm 7,5% GDP. Mặc dù các năm 1996, 1997 có sự giảm sút nhưng năm 1998 khu vực này vẫn chiếm tỉ trọng 41,1% GDP, khu vực tư bản tư nhân chiếm 7,47% GDP. Nhờ vậy, khu vực kinh tế tư nhân đã góp một phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 8%/năm, liên tục trong giai đoạn 1992 -1997, và đỉnh cao đạt 9,5% vào năm 1995. Ngoài ra, khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần quan trọng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra. Tính đến năm 1998 khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (không kể kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) nộp ngân sách qua thu thuế là 11.086 tỷ đồng, chiếm 3,5% GDP; tính ra bình quân hàng năm đã đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách trên dưới 3% GDP của cả nước, cao gấp trên 3 lần đóng góp của khu vực liên doanh với nước ngoài (0,9% GDP/ năm) và gần bằng đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào nguồn thu ngân sách hàng năm (khoảng 7% GDP/năm). 1.2. Thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế. Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, còn lại hầu hết là do khu vục kinh tế tư nhân tham gia, thậm chí còn chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng hoá bán lẻ, chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may, v.v.. ,đã mang về hàng tỷ đô la ngoại tệ cho nền kinh tế.Chính sự phát triển phong phú, đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh, v.v.. của khu vực kinh tế tư nhân đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc khu vực kinh tế nhà nước phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ,v.v.. để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường. Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nói chung. 1.3. Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam, làm đầu tầu thúc đẩy nên kinh tế bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa hợp tác với bên ngoài. Chúng ta đã từng bước hình thành được đội ngũ các nhà doanh nghiệp hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề với số lượng ngày một lớn: khoảng trên 40.000 chủ doanh nghiệp và trên 120.000 chủ trang trại (trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp), lớn hơn nhiều lần lượng giám đốc doanh nghiệp nhà nước được đào tạo trong nhiều thập kỉ trước. Nhờ được đào luyện trong kinh tế thị trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân đã tỏ rõ bản lĩnh, tài năng, thích ứng khá kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Họ đã vươn lên tham gia và làm chủ hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh, trong đó bao gồm cả những ngành kĩ thuật cao (điện tử, phần mềm, v.v..). Đặc biệt, trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, hàng trăm ngàn trang trại cung cấp nông sản hàng hoá cho xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu gạo.Vai trò của các trang trại ngày càng được khẳng định như đầu tầu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá và tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp nước ta. 1.4. Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội. Chính nhờ phát triển kinh tế tư nhân với nhiều loại hình kinh tế khác nhau, đã góp phần làm cho quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực lượng sản xuất trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nước ta. Trước hết là sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu. Nếu trước đây quan hệ sở hữu ở nước ta chỉ bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thì giờ đây quan hệ sản xuất đã được mở rộng hơn: còn có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp. Sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu nói trên kéo theo sự chuyển biến trong quan hệ quản lý: hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân bên cạnh đội ngũ giám đốc các doanh nghiệp nhà nước; đội ngũ những người lao động làm thuê trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân bên cạnh những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp nhà nước...Xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệ thuê mướn lao động thông qua hợp đồng kinh tế. Quan hệ phân phối giờ đây càng trở nên linh hoạt, đa dạng: ngoài phân phối chủ yếu dựa trên lao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổ phần và các hình thức khác, v.v.. Những chuyển biến của quan hệ sản xuất nói trên đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuât, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn lao động dồi dào và tiềm lực của hàng triệu hộ nông dân, hộ cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân vào công cuộc phát trểin kinh tế đất nước. Nhờ vậy đã góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo (từ 16,5% hộ nghèo đói năm 1995 giảm xuống còn 11% năm 2000), cải thiện đời sống dân cư (mức tiêu dùng của dân cư nông thôn tăng 5,4% hàng năm và của dân thành thị tăng 9,6%); góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhiều năm liền trong khu vực và trên thế giới. 2. Những hạn chế Một là, phần lớn các cơ sơ kinh tế tư nhân đều có quy mô nhỏ, năng lực và sức cạnh tranh hạn chế, dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường. Hiện nay có tới 87,2% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng; trong đó 29,4% có mức vốn dưới 100 triệu đồng; những doanh nghiệp có mức vốn từ 10 tỷ đồng trở nên chỉ chiếm 1%, trong đó từ 100 tỷ đồng trở nên có 0,1%. Ngân hàng thì luôn ở trong tình trạng thủ thế “chờ doanh nghiệp đến vay với đầy đủ các điều kiện về tài sản thế chấp” chứ không phải là “tìm các phương án kinh doanh có hiệu quả để cho vay”. Mặt khác, bản thân doanh nghiệp cũng có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin.Thành lập doanh nghiệp chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm chứ chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ chác chắn, nên hầu hết các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân (nhất là hộ cá thể và tiểu chủ) hoạt động thiếu phương án cũng như kế hoạch kinh doanh, vì vậy dễ đổ vỡ trước biến động của thị trường. Hệ thống ngân hàng, kể cả hệ thống tài chính trung gian yếu kém cùng với những thủ tục thế chấp phức tạp và nạn quan niêu đã khiến cho hơn 20% các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa không muốn vay ngân hàng, chỉ có 18% các doanh nghiệp tư nhân vừa và lớn vay được vốn dài hạn; đối với doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa con số này chắc chắn sẽ còn thấp hơn. Hai là, máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu và nguồn nhân lực còn hạn chế, do đó không nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá. Doanh nghiệp sử dụng máy móc, công nghệ mới cũng như thuê máy móc thiêt bị rất ít; có khoảng 18% số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và 5% số doanh nghiệp ở Hà Nội không thể tăng khả năng sản xuất với những thiết bị hiện có; khoảng 50% số doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng tới 90% công suất của máy móc. Tỷ lệ này ở các thành phố khác chỉ có 13% và ở nông thôn là 15-20%. Số doanh nghiệp được trang bị máy móc công nghệ hiện đại chưa nhiều, chỉ có khoảng 24% doanh nghiệp tư nhân và 25% công ty trách nhiệm hữu hạn. Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kĩ năng, trình độ văn hoá thấp, chỉ có 5,13% lao động có trình độ đại học, khoảng 48,4% số chủ doanh nghiệp không có bằng cấp chuyên môn. Ba là, thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định là tình trạng phổ biến đã tác động bất lợi tới chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Quyền sử dụng đất không được chuyển nhượng công khai, giá đất thiếu ổn định, dẫn tới tình trạng đất đai bị đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả, do đó các cơ sở kinh tế tư nhân mới thành lập rất khó có được mặt bằng đất đai ổn định.Thêm vào đó, sự phân biệt đối xử trong việc giao đất của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và cho thuê đối với các cơ sở kinh tế tư nhân cũng gây ra bất lợi và thiệt thòi cho khu vực kinh tế tư nhân. Ngay cả khi doanh nghiệp đã bỏ ra rất nhiều chi phí để có mặt bằng sản xuất, nhưng sau đó họ lại rất khó khăn trong việc dùng đất đai để làm tài sản thế chấp vay ngân hàng. Bốn là, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề cản trở lớn đến phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân. Hầu hết các doanh nghiệp mua nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra trên thị trường địa phương và dựa vào mạng lưới quan hệ cá nhân (chỉ có khoảng 20% số doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm tại các thành phố lớn và khoảng 33% được bán cho khu vực nhà nước). Hiện nay một số sản phẩm hàng hoá của khu vực kinh tế tư nhân cũng đã có mặt trên thị trường thế giới, tuy vậy sản phẩm đủ chất lượng xuất khẩu còn ít và chịu sức ép cạnh tranh gay gắt, còn lại phần lớn sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Nhưng vài năm gần đây, do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, thu nhập của dân cư sút kém nên sức mua trong nước cũng giảm.Thêm vào đó, hàng hoá trong nước còn tồn đọng với khối lượng lớn, cùng với hàng nhập lậu tràn lan không kiểm soát được (qua biên giới) đã làm cho việc tiêu thụ hàng hoá rơi vào tình thế cực kì bất lợi, làm cho nhiều cơ sở sản xuất bị đình đốn, phá sản. Năm là,khả năng cạnh tranh để tồn tại, đứng vững trong cơ chế thị trường của các cơ sở kinh tế tư nhân còn hạn chế, một số tiêu cực nảy sinh đã làm cho tốc độ phát triển của cả khu vực kinh tế tư nhân đang chững lại và có biểu hiện suy giảm trong những năm gần đây, từ mức 32% năm 1997 giảm xuống còn 4% năm 1998. Một số doanh nghiệp lớn chia nhỏ doanh nghiệp, không muốn đăng kí thành lập các doanh nghiệp lớn, mà chỉ liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể để núp bóng trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép, hoạt động kinh tế ngầm; một số chủ doanh nghiệp móc nối, cấu kết với một số cán bộ nhà nước thoái hoá để bòn rút, chiếm đoạt tài sản nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt đối với nền kinh tế - xã hội, v.v..Tình hình trên một mặt do sự tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nhưng mặt quan trọng hơn lại bắt nguồn từ sự yếu kém về năng lực của bản thân khu vực kinh tế tư nhân nói riêng và sự yếu kém của nền kinh tế nước ta nói chung - đặc biệt là những hạn chế của chính sách, giải pháp quản lý vĩ mô của Nhà nước. 3. Một số nguyên nhân chủ yếu 3.1. Nguyên nhân từ phía cơ chế, chính sách của Nhà nước Một là, luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước vẫn chưa hoàn toàn tạo lòng tin cho những hộ cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư bản tư nhân, nhất là những nhà doanh nghiệp có vốn lớn, có đầu óc kinh doanh yên tâm làm ăn lâu dài. Một thời gian dài trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã không chủ trương khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, bởi vậy việc tích lũ vốn, trau dồi kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế thị trường và mở rộng quan hệ quốc tế của các doanh nghiệp nay gần như không có. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, Luật Doanh nghiệp v.v.. ,tuy nhiên trong thực tế, nhiều chủ trương, chính sách bị biến dạng qua các tầng nấc hành chính, cơ quan nhà nước vẫn “ hành dân là chính, sự tha hoá trong bộ máy và đội ngũ cán bộ không giảm” nên vẫn không tạo được lòng tin cho các chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân. Mặt khác, ở tầm vĩ mô cũng chưa hình thành được một hệ thống tổ chức có đủ thẩm quyền để quản lý: từ đề xuất định hướng chiến lược phát triển, chích sách hỗ trợ, tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ, thông tin thị trường, giáo dục pháp luật v.v.. cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân. Do đó dẫn tới tình trạng tự phát, mạnh ai nấy làm, phát triển thiếu định hướng, thiếu phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong khu vực kinh tế tư nhân với các khu vực khác còn diễn ra phổ biến, đã không tạo ra sức mạnh chung mà nhiều khi còn kìm hãm lẫn nhau. Hai là, thiếu một sự phối hợp giữa kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân trong một số kế hoạch phát triển có bài bản ở tầm chiến lược. Trong kế hoạch phát triển của các ngành, hầu như không tính đến khu vực kinh tế tư nhân cùng vai trò và vị trí của nó. Chức năng dẫn dắt khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế nhà nước không những mờ nhạt, mà còn có trường hợp các doanh nghiệp nhà nước chèn ép, lấn át khu vực kinh tế tư nhân dành nhiều thuận lợi cho mình. Ơ tầm vĩ mô, chưa có sự phối hợp chặt chẽ và phân công rõ ràng giữa ngành và địa phương trong việc quản lý khu vực kinh tế tư nhân, cụ thể là chưa có một cơ quan nào được giao trách nhiệm chính trong việc quản lý khu vực kinh tế tư nhân. Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân chưa chặt chẽ và không rõ ràng, vì vậy những sơ hở trong quảm lý, cấp phép sản xuất kinh doanh không được kịp thời rút kinh ngiệm, bổ sung, sửa đổi. Sau khi cấp phép kinh doanh thì việc quản lý bị buông lỏng, không có cơ quan nhà nước cụ thể chịu trách nhiệm kiểm tra và hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp một cách chặt chẽ và thường xuyên. Những quan hệ mới về lao động giữa chủ doanh nghiệp và người làm thuê phát sinh trong thực tế nhưng văn bản pháp luật ( quy định về chế độ bảo hiểm, kí kết hợp đồng lao động, chế độ tiền lương, v.v) không được ban hành kịp thời và nhất là thiếu sự kiểm tra giám sát của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động cũng như giới chủ doanh nghiệp. Cho đến nay, việc xác định cụ thể những tiêu chí để đánh giá, phân loại kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân cũng chưa rõ ràng, thống nhất; trong thực tế việc nhìn nhận, đánh giá các loại hình kinh tế này còn tuỳ tiện, chủ quan. Có lẽ vì thế mà nhiều chính sách,giải pháp quản lý kinh tế vĩ mô tỏ ra chưa thực sư sát hợp đối với khu vực kinh tế tư nhân, do đó hạn chế sự phát triển của khu vực này. Ba là, cho đến trước khi Luật doanh nghiệp ban hành và có hiệu lực từ tháng 1 năm 2000 thì thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp còn nhiều phức tạp, phiền hà nên đã không khuyến khích việc thành lập doanh nghiệp và huy động vốn trong nhân dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nạn quan liêu giấy tờ với nhiều thủ tục hành chính phức tạp, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho dân, v.v. đã làm nản lòng những người muốn lập nghiệp. Bốn là, cơ chế thương mại, thể chế tài chính tín dụng, chính sách thuế xà các tổ chức hỗ trợ thị trường, v.v. cho khu vực kinh tế tư nhân còn thiếu và yếu kém. Các doanh nghiệp tư bản tư nhân chưa được tiếp cận đầy đủ các nguồn nhập khẩu và mạnh lưới xuất khẩu, thủ tục hải quan còn nhiều khó khăn, phiền hà. Về tài chính, tín dụng: khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn hiện nay của các doanh nghiệp tư bản tư nhân vẫn còn khó khăn bởi các thủ tục về thế chấp vẫn chưa được giải quyết; thể chế tín dụng ngân hàng chưa làm được vai trò hỗ trợ, giúp đỡ tích cực và có hiệu quả cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Về thuế: có quá nhiều loại thuế và mức thuế. Chẳng hạn doanh nghiệp tư nhân phải nộp 3 loại thuế: thuế doanh thu, thuế tiệu thụ đặc biệt và thuế lợi tức.Với mỗi loại thuế, thuế suất lại khác nhau cho từng loại hình kinh doanh và nhóm mặt hàng: thuế suất doanh thu giao động từ 0 - 40%, thuế suất lợi tức từ 25 - 45%. Chính vì có nhiều loại thuế và nhiều mức thuế suất khác nhau đã tạo ra sự tuỳ tiện trong việc định mức thuế, gây phức tạp cho doanh nghiệp. Ngoài ra còn thiếu các tổ chức hỗ trợ thị trường, hoặc có thì cũng còn rất yếu. Cụ thể là: toà án, các cơ quan thông tin đại chúng, các dịch vụ kế toán,các tổ chức xúc tiến thương mại, các trường đại học, các cơ sở đào tạo, các hiệp hội ngành nghề, các kênh thông tin từ bên ngoài và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân còn thiếu và rất yếu, chưa đóng vai trò hỗ trợ giúp đỡ khu vực kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường. 3.2 Nguyên nhân từ bản thân doanh nghiệp - Chưa tạo lập được danh tiếng cho doanh nghiệpvà sản phẩm của mình. Thực ra, những định kiến của một bộ phận cộng đồng lại do chính một số doanh nghiệp tư nhân gây nên vì đã tung ra thị trường sản phẩm kém chất lượng hoặc chất lượng không ổn định, làm ăn kiểu chụp giựt, “đánh quả”, chạy theo lợi ích trước mắt, vì vậy đã tạo ra tâm lý không lâu bền đối với khách hàng và bạn hàng trong kinh doanh. Rất ít doanh nghiệp xây dựng chiến lược thương hiệu hoặc xây dựng chích sách tạo lập và phát triển thương hiệu. - Trình độ quản lý, kinh doanh còn hạn chế do không được đào tạo cơ bản, chủ yếu vừa làm vừa học. Theo thông tin của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội, khoảng một nửa số chủ doanh nghiệp (trong số 12.000 doanh nghiệp) chưa qua đào tạo chính thức.Trong điều kiện như vậy, nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân chỉ có thể kinh doanh nhỏ, không thể mở rộng phạm vi hoạt động hoặc khó thiết lập quan hệ với các đối tác làm ăn bài bản. - Chưa có quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp khu vực tư nhân với nhau và với các doanh nghiệp khác, do đó hạn chế sức mạnh của khu vực này. III. Giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân 1.1. Giải pháp ở tầm vĩ mô 1.1.1. Hỗ trợ tài chính Thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam vừa được khôi phục lại với thời gian không nhiều trong một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Do vậy, vốn cho các hộ, các doanh nghiệp tư nhân tất yếu phải được quan tâm hỗ trợ bằng nhiều hướng và nhiều cách: hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước (kể cả miễn giảm thuế), hỗ trợ thông qua các dự án trong và ngoài nước, hỗ trợ thông qua các quỹ và hệ thống ngân hàng. Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức hiệp hội khác để xây dựng những chương trình mục tiêu cụ thể theo hướng xác định để trình Chính phủ phê duyệt. Do đó cần phải có những định hướng cơ bản cho từng phương thức hỗ trợ tài chính như sau: - Hỗ trợ trực tiếp qua ngân sách nhà nước: Nhà nước phải tạo được tâm lý yên tâm và niềm tin của chủ đầu tư dám chuyển hết số tiền có thể có vào vốn đầu tư. Trong trường hợp cần thiết và những hoàn cảnh cụ thể, Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước có thể tham gia đầu tư thông qua mua trái phiếu hoặc đầu tư liên doanh với các chủ doanh nghiệp tư nhân. Với các doanh nghiệp thuộc dạng nghiên cứu và triển khai cần có sự hỗ trợ của chính phủ về chi phí cho các công trình, sản phẩm nghiên cứu hoặc các chuyến đi tìm hiểu thị trường nước ngoài được tổ chức hàng năm (như các chương trình do các tổ chức có uy tín của Nhật Bản, của các nước ASEAN về việc phát triển các doanh nghiệp ASEAN tổ chức) để tìm hiểu công nghệ mới, tìm đối tác liên doanh hay tham gia vào các chương trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo khoa học trong lĩnh vực kinh doanh. Ngoài ra, Chính phủ có thể hỗ trợ một phần vốn điều lệ qua các ngân hàng thương mại thẩm định và cấp vốn hoặc cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi. Đồng thời tranh thủ các dự án của các tổ chức phi chính phủ hoặc các chính phủ cho các doanh nghiệp của phụ nữ, của vùng sâu, vùng xa. - Về vốn vay ngân hàng: Cần giúp khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận tốt hơn với ngân hàng qua “Chương trình hỗ trợ vốn với khu vực kinh tế tư nhân” giúp họ hiểu rõ hơn về các dịch vụ của các ngân hàng trên cả nước. Đồng thời cần giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về chế độ cho vay và ưu đãi vay, giúp cho các chủ doanh nghiệp tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin và nhanh chóng tìm ra những ngân hàng phù hợp với mình. Ngân hàng nhà nước nên có một Website mang tính thống kê cho chương trình này. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước cũng cần phối hợp với các tỉnh, thành phố để xác định chính xác hơn danh mục mặt hàng được vay ưu đãi, tránh tình trạng có tỉnh không được cho vay ưu đãi ngay với mặt hàng chủ lực của tỉnh. Cải tiến về các điều kiện thế chấp tài sản: Nhà nước cần điều chỉnh lại giá nhà, đất cho phù hợp với thực tế. Trong khi chưa có điều chỉnh này, các ngân hàng cần phải linh hoạt trong việc định giá đối với tài sản thế chấp để số tiền cho vay gần bằng giá trị tài sản thế chấp. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với các địa phương để triển khai tốt Quỹ bảo lãnh tín dụng. Bên cạnh đó cần gia tăng các hoạt động tư vấn và các hoạt động đan xen giữa ngân hàng với các công ty được cho vay vốn để có thể kiểm soát tình hình sử dụng vốn, đồng thời tăng niềm tin giữa doanh nghiệp với ngân hàng. Về lâu dài, cần nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm của các nước phát triển trong việc thành lập các quỹ, các tổ chức ngân hàng chuyên phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ. 1.1.2. Bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp và quản lý trong khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam Cần phải có những chưong trình, dự án khác nhau như Chương trình đào tạo nghề, Chương trình tư vấn phát triển, Chương trình đào tạo quốc gia. Nguồn tài trợ cho hoạt động này thu từ các doanh nghiệp: chủ doanh nghiệp phải nộp từ 1-3% thu nhập của công nhân nhưng không cao hơn một mức cố định nào đó. Chương trình hỗ trợ đào tạo nghề tạo điều kiện cho công nhân nâng cao tay nghề hay học hỏi những nghề mới để họ có thể tìm được việc làm ổn định. Có nhiều mức tài trợ, có thể dao động từ 90%, 70%, 50%, 30% toàn bộ các chi phí đào tạo hàng năm. Chương trình tư vấn phát triển khu vực kinh tế tư nhân nhằm khuyến khích và hỗ trợ các công ty trong nước thuê ngắn hạn các chuyên gia nước ngoài để nâng cao nghiệp vụ trong các hoạt động kinh doanh, tổ chức các khoá huấn luyện công nhân, nâng cao tay nghề và chuyển giao công nghệ tiên tiến. Nghiên cứu chương trình đào tạo quốc gia. Nhiều doanh nghiệp mong muốn được chính phủ tỏ chức huấn luyện và đào tạo sâu hơn về chuyên môn. Việt Nam hiện nay, đào tạo sau đại học có thể đáp ứng được phần nào nhu cầu đó. 1.1.3. Cải thiện môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân Môi trường tâm lý thuộc về hai yếu tố: xã hội và bản thân cơ sở kinh doanh. Về phía xã hội, cần phải giải toả nhận thức về thành phần kinh tế và giai cấp, về trách nhiệm của mỗi người trong phát triển kinh tế tư nhân. Có thế thì niềm tin của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và đầu tư phát triển cũng như hiệu quả của nó với xã hội sẽ có những thay đổi đột biến. Về phía doanh nhân và cơ sở sản xuất cũng cần phát huy nội lực của mình. Song trong phạm vi vấn đề tâm lý cũng cần thấy rõ:chính bản thân doanh nghiệp và doanh nhân mới là trung tâm giải quyết vấn đề tâm lý xã hội đối với doanh nghiệp tư nhân nói chung và tâm lý của người lao động đối với doanh nhân và doanh nghiệp nói riêng. 1.1.4. Hỗ trợ phát triển - Chính sách hỗ trợ khoa học kĩ thuật - công nghệ cần có chương trình riêng. Chương trình này

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững vấn đề lý luận và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.DOC
Tài liệu liên quan