Tiểu luận Xây dựng con người Việt Nam hiện nay theo quan điểm Triết học Mác - Lênin

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục. cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu".

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 22927 | Lượt tải: 296download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Xây dựng con người Việt Nam hiện nay theo quan điểm Triết học Mác - Lênin, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n, biến dị, tiến hóa... quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người. Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần. Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội. I.2 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Trên cơ sở vận dụng phép biện chứng duy vật Mác đã khảo sát bản chất con người bắt đầu từ hoạt động thực tiễn, từ trong hoàn cảnh xã hội lịch sử - cụ thể. Khi vạch ra bản chất con người Mác đặc biệt nhấn mạnh “trong tính hiện thực”, bởi vì luận điểm xuất phát của Mác là luận điểm cho rằng xét về thực chất, quá trình hình thành và phát triển đời sống con người là hoạt động sản xuất, hoạt động thực tiễn của con người. Còn các quá trình tư tưởng- tinh thần là sự thể hiện của đời sống thực tiễn mang tính khách quan của con người. Luận điểm này chỉ rõ bản chất con người là bản chất được xem xét “trong tính hiện thực” cụ thể, không phải là bản chất loài trừu tượng thoát ly tính lịch sử, tính xã hội. Để nhận thức đúng đắn về con người, về bản chất con người, mối quan hệ: Tự nhiên – Con người – Xã hội (lịch sử) thì phải xem xét con người với tư cách là con người hiện thực, con người với cuộc sống tộc loại, với đời sống xã hội hiện thực của nó, với sự phát triển lịch sử của nó, thông qua những hành động lịch sử và các mối quan hệ của nó. Do vậy, cá nhân được xem xét trong định nghĩa này là những cá nhân trong hiện thực, là những cá nhân đang hoạt động trong giới hạn, tiền đề và những điều kiện vật chất nhất định, tức là cá nhận trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn là đặc điểm cơ bản của con người hiện thực. Chỉ có nắm vững điều này mới giải thích đúng bản chất con người. Con người nói chung chung không tồn tại trong cuộc sống hiện thực. “Bản chất con người là tổng hòa nhựng quan hệ xã hội” – Luận điểm này cho thấy con người là một thực thể có tính loài. Đặc tính “loài” của con người hiện thực tức là tính người. Tính người bao gồm toàn bộ các thuộc tính vốn có của con người, trong đó có ba thuộc tính cơ bản nhất đó là thuộc tính tự nhiên, thuộc tính xã hội và thuộc tính tư dưy, trong ba thuộc tính ấy thì thuộc tính nào là thuộc tính bản chất con người? Như chúng ta đã biết bản chất của mọi sự vật là sự tổng hợp những mặt, những yếu tố, những thuộc tính tất nhiên vốn có bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của sự vật đó. Tổng họp không phải là tổng cộng giản đơn các thuộc tính của sự vật mà tổng hợp chính là thuộc tính đặc trưng giữ vai trò chi phối các thuộc tính cơ bản của sự vật đó. Trong ba thuộc tính cơ bản của con người thì thuộc tính tự nhiên của con người là cái đặc trưng và bản năng vốn có của sinh vật tự nhiên, là điều kiện sinh lý để loài người sinh tồn và phát triển, nó đóng vai trò là cơ sở vật chất của thuộc tính xã hội và thuộc tính tư duy, nhưng thuộc tính tự nhiên chỉ biểu thị mặt nguồn gốc và lien hệ giữa con người với các sinh vật khác, nó chưa nói lên được sự khác nhau căn bản giữa con người và con vật vì thế nó không phải là thuộc tính bản chất của con người. Còn thuộc tính tư vì thế nó không phải là thuộc tính bản chất của con người. Còn thuộc tính tư duy của con người (ngôn ngữ, tư duy, lý tính…,) là hiện tượng riêng có ở loài người, song nó cũng không phải là thựoc tính bản chất vì nó kông có ý nghĩa chi phối đối với các thuộc tính khác. Chỉ có thuộc tính xã hội là thuộc tính chế ước và quy định thuộc tư duy và thuộc tính tự nhiên của con người, khiến cho dấu ấn xã hội được in đậm, thấm sâu vào nội dung của các thuộc tính đó. Bởi so tác động của thuộc tính xã hội mà các nhu cầu tự nhiên ở con người đã bị xã hội hóa và ý thức, ngôn ngữ.v.v.. của con người là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội. Theo quan điểm của triết học Mác, tồn tại con người là tồn tại mang tính tự nhiên, con ngưồi là bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm cao nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên. Cùng với đó, con người còn là một thực thể xã hội. Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội và do vậy yếu tố sinh học trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòa quyện vào nhau tồn tại trong yếu tố xã hội. Do đó, bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội và được cải biến trong đó. Con người là một thực thể hiện thực, thực thể sinh học – xã hội và trong tính hiện thực ấy, “bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”. Quan hệ xã hội đây được hiểu là tổng thể những quan hệ mà con người đã có, đang có và trong chừng mực nào đó nó còn bao hàm cả những quan hệ trong tương lai. Các quan hệ xã hội của loài người bao gồm hai loại quan hệ: Quan hệ vật chất (quan hệ sản xuất) và quan hệ tư tưởng (quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đưc…) trong đó quan hệ vật chất quy định quan hệ tư tưởng. Chỉ có đặt con người trong tổng hòa các quan hệ xã hội đó để tiến hành khảo sát, tổng hợp thì mới có thể năm bắt được toàn diện bản chất con người. Bản chất con người không phải là cái gì nhất thành bất biến mà luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động phát triển, biến đổi của hoàn cảnh sống, với những biến đổi của thời đại, gắn liền với phương thức sản xuất ra của cải vật chất. Chính vì vậy mà thời đại nào thì sản sinh ra con người của thời đại ấy. Bản chất con người vừa phản ánh cái chung của sự phát triển xã hội loài người, vừa phản ánh cái riêng của mỗi thời đại lịch sử, và vì vậy, con người có bản chất chung xuyên suốt mọi thời đại. Đặc tính chung này do bản năng sinh vật, những nhu cầu, lợi ích của con người quy định. Nhưng cái chung lại được thể hiện thông qua cái riêng. Do vậy trong xã hội có giai cấp, bản chất của con người mang tính giai cấp, thể hiện trong xã hội có giai cấp con người ta có quyền sở hữu khác nhau đối với tư liệu sản xuất và do đó có sự khác nhau về lợi ích vật chất, tư tưởng, đạo đức, tác phong … của giai cấp. Vì bản chất con người mang tính chất giai cấp nhất định cho nên cái gọi là con người trừu tượng, siêu giai cấp không tồn tại. Bản chất chung được hiểu là tính người, tính nhân loại – là cái chung nằm trong tính giai cấp – tức cái riêng. Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội nhưng con người bao giờ cũng là con người riêng biệt, con người cụ thể ứng với những thời đại, những giai đoạn lịch sử nhất định, với từng tập đoàn người. Đồng thời nó cũng mang bản chất chung của nhân loại, phát triển trong toàn bộ lịch sử loài người. Mỗi cá nhân từ khi sinh ra buộc phải tiếp nhận những quan hệ xã hội đã có và đang có, quá trình con người lớn lên, trưởng thành, nắm bắt văn hóa xã hội hòa nhập vào xã hội, hòa nhập vào các quan hệ xã hội, quá trình xã hội hóa ấy chính là quá trình hình thành bản chất con người. Tổng hòa các quan hệ xã hội tạo thành bản chất con người, không những là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật mà còn là cơ sở để phân biệt giữa cá nhân với cá nhân trong cộng đồng, bởi vì mỗi cá nhân do hoạt động thực tiễn của họ khác nhau cho nên quan hệ xã hội của họ khác nhau. Tổng hòa các quan hệ xã hội không những cho phép giải thích bản chất cộng đồng của loài người mà còn giải thích được bản chất đặc thù của cá nhân trong cộng đồng đó. Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội...) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người. I.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu". Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình. Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người. Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là "tổng hoà các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người. Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người. I.4 Quan niệm về sự giải phóng con người. Xuất phát từ quan điểm duy vật về con người, coi bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, triết học Mác đã lấy tư tưởng “vì con người và giải phóng nhân loại” và “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” làm tư tưởng nền tảng để xây dụng học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin về xã hội nói chung, về xã hội cộng sản chủ nghĩa nói riêng. Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của chế độ xã hội mới mà giai cấp vô sản có sứ mệnh xây dựng thành công là giải phóng con người, giải phóng nhân loại. Trong quan niệm của triết học Mác mục tiêu cao nhất của chế độ xã hội mới là phát triển con người toàn diện, “tạo nên những con người mới”-những con người “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình”. Nói đến vấn đề giải phóng con người, giải phóng nhân loại, trong triết học Mác đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa “giải phóng chính trị” và “giải phóng con người”. Giải phóng chính trị là sự giải phóng con người thoát khỏi sự khép kín về đảng cấp, về địa vị, về vị trí của con người trong xã hội, là sự thừa nhận bản chất phổ biến của con người, thừa nhận bản tính của con người trái với tất cả sự khác biệt hiện thực, xuyên suốt sự tồn tại hiện thực của con người. Từ quan niệm ấy về giải phóng chính trị các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đi đến kết luận rắng một thời đại mới về nguyên tắc trong sự phát triển của con người chỉ có thể bắt đầu nhờ giải phóng con người. Chỉ bằng cách giải phóng con người, chúng ta mới khắc phục được tính phân đôi, tính độc lập giữa nhà nước chính trị và xã hội công nhân, giữa công nhân trừu tượng của nhà nước với thành viên hiện thực của xã hội công dân, giữa con người với tư cách thực thể loài với con người với tư cách là cá nhân ích kỷ. Sự giải phóng con người là con đuờng, là phương thức thực hiện đúng đắn bản chất loài của con người. Nhờ giải phóng ấy, con người sẽ nhận thức được và tổ chức hoạt động của mình với tư cách hoạt động xã hội, và sẽ không còn tách hoạt động ấy ra khỏi đời sống hiện thực của mình dưới dạng một hoạt động độc lập. Giải phóng con người là xóa bỏ sự đối lập giữa con người cá nhân với người công dân trừu tượng, việc xóa bỏ ấy chỉ có thể thực hiện được bằng hoạt động tích cực của con người. Đó là cuộc đấu tranh nhằm mục đích xóa bỏ sự tha hóa của con người. Cơ sở cho sự tha hóa của con người chính là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất gắn liền trực tiếp với chế độ tư bản chủ nghĩa. Bởi thế, việc xóa bỏ chế độ tư hữu ấy là tiền đề cơ bản cho việc xóa bỏ mọi tha hóa của con người, cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội. Lực lượng thực hiện này là giai cấp vô sản. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII), Đảng ta đã có sự đánh giá đúng đắn, khách quan về những thành tựu, những yếu kém của con người Việt Nam trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực hoạt động, phản ánh ngày càng đầy đủ, toàn diện và kịp thời cả những mặt mạnh, ưu điểm lẫn những hạn chế, khiếm khuyết của con người Việt Nam hiện nay. II.1 Điểm mạnh của con người Việt Nam hiện nay: Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới đất nước, trong điều kiện mới của khu vực và thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn gắn bó mật thiết với những giá trị văn hoá truyền thông, với những phẩm giá của dân tộc mà điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Biểu hiện của điểm mạnh này là thái độ tích cực của mỗi công dân trước vận mệnh của Tổ quốc, trước các chuyển đổi về kinh tế, xã hội hiện nay. Thứ hai, con người Việt Nam vẫn luôn thể hiện đức tính cần cù, sáng tạo trong mọi hoạt động. Đức tính này là một giá trị đặc trưng, chiếm vị trí xứng đáng trong bảng giá trị về nhân cách của con người Việt Nam. Thái độ tích cực của con người Việt Nam trong định hướng và lựa chọn giá trị này là điều kiện hết sức thuận lợi cho công tác giáo dục, từ giáo dục truyền thống, lối sống đến giáo dục đạo đức, nhân cách con người hiện đại... nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của con người Việt Nam là truyền thông cộng đồng, lòng nhân ái, nhũng tình cảm vị tha và khoan dung... vẫn được giữ vừng, phát huy trong điều kiện mới của đất nước. Những giá trị mang tính nền tảng cốt lõi ấy là cơ sở để phát triển tính nhân văn và xây dựng văn hoá Việt Nam hiện đại, tiên tiến, mang bản sắc dân tộc. Có thể khẳng định rằng, đây là một thuận lợi căn bản để chúng ta thực hiện chương trình văn hoá trong toàn xã hội đối với các thế hệ con người Việt Nam hiện nay và mai sau. Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thông hiếu học, tôn sư trọng đạo và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá và con người đã chứng minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ năm, trong công cuộc đổi mới, mô hình gia đình truyền thống đang có những biến đổi lớn, phức tạp do sự tác động của kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường, do những biến đổi của xã hội đang quá độ lên CHXH... Tuy vậy, những giá trị tinh thần, đạo lý của gia đình truyền thông vẫn được giữ vững, có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình Việt Nam, vẫn là nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội. II.2 Một số yêu kém trong con người Việt Nam hiện nay. Đất nước chúng ta chịu ảnh hưởng nặng nề tính phong kiến của Trung Quốc do qua gần một thế kỷ chịu ách đô hộ của Trung Quốc đã hình thành con người Việt Nam mang tính gia trưởng nặng nề, chính điều này làm cho sự phát triển về giới chưa được toàn diện, vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong gia đình và xã hội. Điều này đã bóp chết sự giải phóng phụ nữ khỏi những công việc nội trợ gia đình, thoát khỏi tư tưởng nề hà phong kiến để đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Phong cách sản xuất nhỏ biểu hiện trong thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử, nếp suy nghĩ, lề thói làm ăn... của người Việt Nam vẫn đang là những cản trở không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực tới sự phát triển con người Việt Nam. Một trong những biểu hiện rõ nét của xu hướng này là sự suy giảm về mặt đạo đức của không ít người, nhất là lớp trẻ, thậm chí của cả một số cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất. Cùng với đó là sự xuất hiện các yêu tố tiêu cực khác, như chủ nghĩa cục bộ, địa phương, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, đề cao quá mức tiện nghi vật chất, xa hoa, lãng phí, sự phát triển chủ nghĩa cá nhân vị kỷ biểu hiện trong lối sống, trong cách ứng xử giữa người với người. Những tiêu cực này đang ảnh hưởng đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta. Vấn đề đặt ra ở đây chính là vấn đề quan hệ con người trong nền kinh tế thị trường, là ý thức về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của cá nhân đối với những người thân trong gia đình, đối với cộng đồng và toàn xã hội. Nếu không đặt vấn đề giáo dục truyền thống, nếu không chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống... một cách đúng mức cả trong gia đình, nhà trường lẫn xã hội thì tình trạng suy thoái đạo đức chẳng những không sớm được ngăn chặn, mà còn đứng trước nguy cơ tiếp tục gia tăng. Ý thức pháp luật còn kém, hiện tượng biết sai vẫn còn, lách luật, chống luật, phá luật, mù luật. Con người Việt Nam làm việc theo cảm tính không theo một quy cũ nào, không nhất quán trong công việc, tính độc lập tác chiến cao tuy nhiên tính làm việc nhóm tổ không tốt. Dẫn đến công việc cứ bị ù nề không nhanh và giải quyết công việc, vấn đề không tốt. Phương pháp tư duy yếu, điều này bắt nguồn từ nền kinh tế nông nghiệp lúa nước do công việc phó mặc vào điều kiện tự nhiên, thời tiết tốt thì được mùa, thời tiết xấu thì mất mùa. Ngoài ra chính nền nông nghiệp lúa nước đã ảnh hưởng đến con người Việt Nam có năng lực tổ chức thực tiễn kém. Con người Việt Nam cần cù lao động tuy nhiên tư tưởng dễ thỏa mãn đã hạn chế khả năng phát huy năng lực của người Việt Nam. Người Việt Nam thông minh sáng tạo tuy nhiên chỉ giỏi đối phó tình cảnh thiếu tầm nhìn dài hạn không chủ động. Trong công việc thì khéo léo tuy nhiên không chịu làm tới cùng chỉ làm cho xong việc không quan tâm kết quả như thế nào. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc học tập nghiên cứu, ít khi học tới nơi tới chốn mặc dù người Việt Nam rất ham học hỏi và có khả năng tiếp thu nhanh. Dẫn đến kiến thức không có hệ thống, mất căn bản. Có tinh thần tương thân tương ái song trong trường hợp khó khăn thì bần hàn. Người Việt Nam có tính hiếu khách tuy nhiên nhiều khi dẫn đến việc hoang phí. Yêu hòa bình nhẫn nhịn song nhiều khi hiếu chiến hiếu thắng vì những lí do tự ái lặt vặt dễ đánh mất đại cuộc. II.3 Mô hình xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trong thời kỳ hiện nay, vận mệnh đất nước đã đổi mới thời kỳ đất nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thời kỳ khoa học thế giới phát triển mạnh mẽ với những thành tựu lớn trong khoa học. Thì con người Việt Nam cũng phải có những phẩm chất nhất định để bắt kịp thời cuộc, theo kịp sự phát triển của thế giới và khu vực. Điều này, làm cho con người Việt Nam phải thay đổi để có thể đáp ứng được các yêu cầu hội nhập thế giới và thời đại. Để đảm bảo cho sự phát triển này cần phải có mô hình xây dựng con người Việt Nam phù hợp với thời đại đáp ứng được nhu cầu của nên văn hóa mới, khoa học mới trên cơ sở xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo thực tiển phát triển hiện tại của xã hội và khoa học nước ta nói riêng và thế giới nói chung đòi hỏi con người Việt Nam những phẩm chất sau: Định hướng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Xây dựng con người "có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính", "xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Để thực hiện và xây dựng mô hình con người Việt Nam hiện nay xã hội và đất nước cần có những chính sách và biện pháp sau: Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giá trị mới cua con người việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể nói, đây là một đòi hỏi rất cao và mới đối với văn hoá. Bởi vì, trong những năm qua, cuộc vận động xây dựng con người mới tuy có bề rộng, nhưng chưa sâu, chưa bền vững ít hiệu quả và chưa hình thành được dư luận xã hội định hướng các chuẩn mực giá trị mới. Đây là một yêu cầu có tính bao quát, tổng thể, đồng thời là cơ sở và định hướng giải quyết các nhiệm vụ trước mắt. Từ những điểm mạnh của con người Việt Nam đã được Đảng xác định, cần cụ thể hoá thành những tiêu chí, chuẩn mực phù hợp với từng giới, từng ngành, từng địa phương đơn vị. Đó là các phẩm chất: có tinh thần yêu nước, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có tinh thần đoàn kết, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương phép nước, cần cù lao động và có ý thức học h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò của con người trong thời đại ngày nay.doc
Tài liệu liên quan