Tiểu luận Kinh tế tri thức gắn với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã xác định rõ "Công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước phải bằng và dựa vào khoa học công nghệ"; "khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng vàđộng lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Đến đại hội IX của Đảng điều này lại được khẳng định lại một lần nữa lại được khẳng định: "Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi sự phát triển giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng vàđộng lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá".

doc14 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 17/01/2014 | Lượt xem: 1242 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Kinh tế tri thức gắn với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ội đã tạo nên ý thức, ý thức theo nhận xét của Các Mác và Ph.Ăngghen trong "hệ tư tưởng Đức" ngay từđầu là sản phẩm của xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại. Xét về nguồn gốc, tri thức bắt nguồn từ trong quá trình lao động và giao tiếp giữa con người với con người. Phương tiện giao tiếp đầu tiên chính là tiếng nói, ngôn ngữ; Nhờ có tiếng nói lần đầu tiên con người có thể biểu đạt được những suy nghĩ, những tình cảm và sự nhận thức của mình ra thế giới bên ngoài. Từđó có thểđưa ra những hoạch định, những quy định có tính mục đích xác định đó là những tri thức đầu tiên của con người. Như vậy tri thức nói riêng, ý thức nói chung là sự kết hợp giữa đối tượng nhận thức thế giới hiện thực với bộ não có cấu tạo đặc biệt với tư cách là tổ chức vật chất cao nhất của con người . Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức về thế giới hiện thực của con người. Trong quá trình đó các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực đã tác động lên bộ não con người thông qua các giác quan và nhờđó có bộ não tiến hóa nhất, tư duy con người đã tái hiện lại những mối quan hệ bản chất, những thuộc tính… từđó chúng được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành những khái niệm, phạm trù, phán đoán, quy luật… vàđược biểu đạt dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác nhau. Do đó sự tác động của thế giới hiện thực lên bộ não con người chính là nguồn gốc của tri thức. Tri thức có nguồn gốc từ thế giới hiện thực, là sự phản ánh thế giới đó trong đầu óc con người thông qua quá trình nhận thức. Cho nên bản chất của tri thức là hình ảnh của thế giới hiện thực trong đầu óc con người. Hình ảnh đó càng ngày càng được nhận thức của con người bổ sung cho chi tiết, chính xác hơn trên con đường nhận thức và cải biên tự nhiên. Việc bổ sung, hoàn thiện dần bức tranh về thế giới hiện thực là quá trình vận động của nhận thức đi từ thực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lí luận. Quá trình này diễn ra liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự phản ánh lịch sử phát triển của tư duy con người. Quá trình từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lí luận hay từ tri thức rời rạc đến hệ thống tri thức khoa học diễn ra trong sự nhận thức của từng con người, cũng như trong suốt tiến trình phát triển của duy nhân loại. Tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận đều là tri thức chân thực, nhưng chúng ở những trình độ nhận thức khác nhau, biểu hiện những cấp độ khác nhau là sự phản ánh hiện thực khách quan. Tri thức kinh nghiệm là tri thức được hình thành nhờ vào quá trình nhận thức cảm tính. Bản thân thức kinh nghiệm cũng có 2 loại: "Tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học, tri thức khoa học thông thường bao gồm những hiểu biết, những quan niệm của con người được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình hoạt động sống hàng ngày, được tích lũy lại và truyền từđời này sang đời khác thành thói quen, tập quán… đáp ứng được những yêu cầu của đời sống xã hội, cộng đồng và còn ở trình độ nhận thức giản đơn. Tri thức kinh nghiệm khoa họcđược hình thành trên cơ sở quan sát, mô tả phân tích so sánh các thực nghiệm, thí nghiệm khoa học, sống vẫn chưa vượt khỏi trình độ nhận thức kinh nghiệm bởi vì nó còn phải tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu. Nhìn chung tri thức kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở sự nhận thức cá biệt, đơn lẻ, rời rạc, những mối quan hệ và liên hệ bên ngoài của các sự vật, hiện tượng, quátrình, nghĩa là mới chỉ nắm bắt được các thuộc tính bên ngoài của đối tượng nghiên cứu. Song, tri thức kinh nghiệm là một giai đoạn nhận thức không thể thiếu được, nó là nền tảng là một nấc thang cần thiết để sự nhận thức của con người bước lên một trình độ cao hơn, trình độ lý luận. Đúng như Ph.Ănghen đã nhận xét: "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự do không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tất yếu… Nhưng bằng chứng của tính tất yếu làở trong hoạt động của con người trong kinh nghiệm, trong lao động…. Tri thức lí luận là trình độ cao của nhận thức, trình độ lý tính hay "tư duy trừu tượng", nó bao gồm những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hóa, khái quát hóa vàđã hoàn thành nên các học thuyết khoa học, được trình bày dưới dạng hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật……với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, tri thức lý luận tuy đã tách khỏi đối tượng nghiên cứu, nhưng lại có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách toàn diện, sâu sắc đầy đủ, chính xác, vạch ra mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình từđó chỉ ra các quy luật vận động, biến đổi và phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy. Một trong những hình thức cao nhất va chung nhất của tri thức lí luận là phép biện chứng duy vật. Tri thức kinh nghiệm, đặc biệt là tri thức kinh nghiệm khoa học và tri thức lí luận tuy là hai hình trình độ phản ánh hiện thực khác nhau, nhưng chúng có quan hệ khăng khít, bền chặt với nhau. Tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận đều có chung nguồn gốc, đều xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, từ nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới của con người. Ngay cả toán học - môn khoa học có tính trừu tượng cao, cũng sinh ra từ nhu cầu thực tiễn của con người từ việc do diện tích các khoảnh đất và việc đo dung tích nhưng bình chứa, tính thời gian… vàđối tượng của toán học thuần tuý là những hình không gian và những quan hệ số lượng của thế giới hiện thực. Tri thức kinh nghiệm là nền tảng là cơ sở của tri thức lí luận. Tri thức lí luận của khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội đều phải xuất phát từ các sự kiện hiện thực. Những tri thức kinh nghiệm nhận được từ sự nghiên cứu các sự kiện hiện thực là cơ sở tất yếu của tri thức lí luận khoa học là nguồn gốc làđộng lực phát triển của nó. Bằng thực tiễn thông qua tri thức con người kiểm tra được tính chân thực của tri thức. Rõ ràng trong một giai đoạn nhất định nào đó quá trình nhận thức, những quy luật được rút ra từ thế giới hiện thực được hệ thống hoá và khái quát hoá, sau đó con người lại đem ứng dụng những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của mình. Thực tiễn là nơi kiểm nghiệm sự thống nhất của tính chân thực của tri thức. Và thực tiễn xã hội là một quá trình không ngừng vận động, biến đổi và phát triển, do vậy tri thức của con người cũng phải luôn đổi mới. - Khái niệm về tri thức khoa học: Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều quan niệm khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, mặt khác phụ thuộc vào trình độ của nhận thức. Xét về phương diện xã hội khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phương diện nhận thức, khoa học là giai đoạn cao nhất của nhận thức, nhận thức lí luận về phương diện triết học, khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt. Khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào xã hội, những chân lý của nóđược thực tiễn xã hội kiêm nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên tài: Khoa học là yếu tố ngày càng có vai tròđặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xã hội nói chung. Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từđó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận độngvà phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận hức của con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, tư duy trừu tượng đến thực tiễn dưới dạng khái niệm phạm trù, quy luật, lý thuyết… Như vậy, tri thức kha học là sự phản ánh thế giới mà còn được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Tri thức khoa học còn có thểđược hình thành nhỏ trực giác hoặc tuân theo những quy luật của logic học. Loại tri thức khoa học này, xét cho đến cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực vàđược thực tiễn kiêm nghiệm. do đó, một hệ thống tri thức được coi là tri thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn, tính chân thực. Nhờ giáo dục đào tạo, tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt, được phổ biến rộng rĩa và lan truyền rất nhan chóng. Tốc độ lan truyền đóđã tăng lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hoá và công nghệ thông tin. Nó không chỉ là sức mạnh là sự biến đổi mau lẹ mà còn là biểu hiện sự giàu có, thịnh vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân. Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nóđang trở thành tài sản chung của xã hội loài người. - Tri thức và tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. Tri thức rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Bởi vì mọi việc mà chúng ta làm đều phụ thuộc vào tri thức một cách đơn giản làđể sống, chúng ta phải biến đổi những nguồn lực mà chúng ta có thành những đồ vật mà chúng ta cần vàđiều đó cần phải có tri thức. Trong lao động sản xuất ra của cải phát triển, con người phải nắm bắt, nhận thức được đối tượng lao động và công cụ lao động để dùng những tri thức đó tạo ra vật chất, những tri thức về xã hội sẽ giúp con người phát triển quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất từđó tạo ra sự phát triển về phương thức sản xuất. Trong chính trị - xã hội, con người sử dụng những tri thức của mình để tạo ra một xã hội ổn định hoà bình, văn minh, đời sống văn hoá tinh thần, không ngừng được nâng cao. Nói tóm lại, xã hội muốn phát triển được thì cần phải có tri thức, tri thức là chìa khoáđể phát triển sản xuất, phát triển xã hội. Đặc biệt, là tri thức khoa học, tri thức khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động thực tiễn. Vai trò của tri thức khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội. Ngày nay, tri thức khoa học đã thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những ngành sản xuất mới, công nghệmới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu được của người lao động biến người lao động thành người điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn. Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội như kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển vàđóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người cóđầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn suy rộng. Điều này đặc biệt cóý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm bắt được cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính sách, đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia. Ngày nay việc quản lý xã hội, trong đó quan trọng là quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, thành công đến mức nào là tuỳ thuộc vào khả năng xử lý thông tin. Không theo kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà khư khư giữ lấy cách quản lý cũ, lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vươn lên để tiến kịp cùng thời đại và thoát ra sự trì trệ. Cùng với những biến đổi về chất lượng trong lực lượng sản xuất, trong kinh tế và trong quản lý xã hội, tiến bộ khoa học, kỹ thuật còn tạo nên những biến đổi ghê gớm trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, trong việc tạo ra những phương tiện phá hoại và huỷ diệt sự sống, làm gay gắt những vấn đề toàn cầu của thời đại. Nhờ tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà càng ngày người ta càng tạo ra được nhiều loại nguyên liệu và vật liệu có thể thay thế những thứ từ trước đến nay chỉ có thể dựa vào sự cung cấp của thiên nhiên. Vì vậy tiến bộ khoa học kỹ thuật đang làm ưu thế dưới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nên tương đối. Tiến bộ khoa học kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nước thoát ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu như biết định hướng đúng, nếu có một tiềm năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần thiết để tiếp thu các công nghệ tương đối hiện đại khi đã có những kỹ thuật và công nghệ mới, tiến bộ thì vấn đềđặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho số lao động dôi ra tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm…. Nếu giải quyết tốt thì chúng khả năng hội nhập của các nước này với trào lưu chung của thế giới là hiện thực. Song tiến bộ khoa học - kỹ thuật thời đại chúng ta còn có một mặt khắc nghiệt ngã là hoàn toàn có khả năng nhấn các nước kém phát triển chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu và phụ thuộc, đồng thời còn tạo nên một khoảng cách còn lớn gấp bội so với khoảng cách đã từng tồn tại trước đây giữa họ và các nước phát triển nếu như họ không tìm ra con đường thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ, thói quen cũ, không thích nghi với những biến đội của thời đại. Như vậy, tri thức khoa học ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội và thế giới ngày nay, nó là người bạn đồng hành của xã hội văn minh tiến bộ. 2. Vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối với quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoáở Việt Nam - Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ cong là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với côngnghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Hiện đại hoá trong sản xuất trước hết là hiện đại hoá trong lực lượng sản xuất. Xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là không ngừng thay thế dần các thiết bị, các quy trình công nghệ chưa hoàn thiện bằng các trang thiết bị, quy trình công nghệ cao, công nghệ sạch. Nước ta đang ở vào một thời kỳ phát triển mới - thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong đường lói và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đại hội Đảng lần thứ 9 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Đường lối kinh tế của Đảng ta là: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tếđộc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp" và chỉ rõ "phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm". Bởi vì, chỉ có bằng con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta mới có thể thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, mới có thể hoà vào dòng thác phát triển chung của toàn nhân loại. Vậy phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng cách nào? - Tri thức, tri thức khoa học là tiền đề vàđộng lực cho quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã xác định rõ "Công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước phải bằng và dựa vào khoa học công nghệ"; "khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng vàđộng lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Đến đại hội IX của Đảng điều này lại được khẳng định lại một lần nữa lại được khẳng định: "Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi sự phát triển giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng vàđộng lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển sản xuất xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất nhằm thoả mãn các nhu cầu ngày càng tăng của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm những yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất (đối tượng lao động, công cụ lao động, khoa học công nghệ, hạ tầng cơ sở…) và con người. Ngày nay tri thức đã thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong nền kinh tế tri thức mà một số nước công nghiệp phát triển đang thực hiện, tri thức khoa học đặc biệt là tri thức của một số lĩnh vực như tin học, điều khiển học, sinh học… đã trực tiếp gia nhập vào quá trình sản xuất và dịch vụ của xã hội. Bằng cách này lực lượng sản xuất sẽ không ngừng được bổ sung vàđổi mới theo hướng gia tăng tính hiện đại, tiên tiến. Xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là không ngừng thay thế dần các trang thiết bị, các qui trình công nghệ chưa hoàn thiện (cho năng suất thấp, tiêu hao nhiên liệu, gây ô nhiễm….) bằng các trang thiết bị, quy trình công nghệ cao, công nghệ sạch. Điều đó là dựa vào tri thức khoa học. Như vậy tri thức khoa học đã thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đaịi vàđó là nền tảng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội. Tri thức khoa học có vai trò to lớn quyết định trong việc biến đổi yếu tố con người trong lực lượng sản xuất theo chiều hướng hiện đại. Bằng tri thức con người có thể nhanh chóng vận hành tốt và thích nghi với những trang thiết bị hiện đại, tiên tiến trong sản xuất, cũng nhưđủ sức giải quyết những tình huống phức tạp, có vấn đề trong sản xuất vàđời sống. Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới của trang thiết bị sản xuất vàđời sống nó buộc con người thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức để khỏi bịđào thảo ra khỏi quá trình sản xuất xã hội vàđể thích ứng với cuộc sống hiện tại. Trình độ chất lượng của đội ngũ người lao động trong lực lượng sản xuất không ngừng được nâng cao và hoàn thiện. Do đó với tư cách là yếu tố thuộc lực lượng sản xuất, tri thức khoa học có vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất. Ngoài ra nhờ có tri thức khoa học mà quan hệ sản xuất phát triển con người nắm bắt, truyền đạt thông tin nhanh hơn nhờđó thúc đẩy sản xuất. Ngày nay tri thức khoa học liên quan chặt chẽ và tác động trực tiếp, mạnh mẽ lên cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Bên cạnh đó tri thức khoa học còn có vai trò trong hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, nhằm mục tiêu thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tri thức khoa học đóng góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của xã hội. - Thực tiễn vận dụng tri thức và tri thức khoa học vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoáở Việt Nam. Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy ởđâu có sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp khoa học công nghệ thìởđó có sự tiến bộ vượt bậc. Về nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụđiển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động vật tư có thể mang lại. Chính sách mớilàm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn. Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân khoa học - công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo nâng cấp hệ thống sông, đê ngăng chặn nước mặn lên biển, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân . Về công nghiệp qua quá trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty nhờđi thẳng vào công nghệ hiện đại màđãđạt được những thắng lợi ngoài mong đợi. Trong các ngành, bưu chính viễn thông, khai thác dầu khí và các ngành khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào kỹ thuật công nghệ hiện đại màđạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn định văn hoá - giáo dục được nâng cấp, đầu tư một cách thoảđáng. Về kinh tế tổng sản lượng trong năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nên kinh tế từ tìn trạng hàng hoá khan hiếm nay đã sản xuất đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Nề kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông - lâm- ngư nghiệp tăng bình quân 5,7% trong một năm. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng hoá năm 13,5%. Đầu tư sản xuất ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Về chính trị xã hội nghiên cứu, khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996 - 2000 đã cóđóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Khoa học xã hội và nhân văn còn đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các băn bản dưới luật các chính sách và hiệp định quốc tế. Giáo dục ngày càng được chú trọng. Ở Việt Nam từ 1997 đến nay nhân lực khoa học công nghệ cả nước tăng 1,5 lần cán bộ khoa học công nghệ có trình độđại học xấp xỉ 1,3 triệu và hàng năm bổ sung thêm khoảng 180 nghìn người. Trình độ năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như: nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khíđạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực.. khoa hoạc công nghệđã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng…. Bên cạnh những thành tựu đạt được thì vấn đề khoa học công nghệ trong công cuộc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoáở nước ta còn tồn tại những mâu thuẫn sau: + Mâu thuẫn giữa nhu cầu rất cấp bách, rất lớn về các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đểđẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với thực trạng công nghệ còn quá lạc hậu của đất nước ta hiện nay. + Mâu thuẫn giữa sựđòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật đủ mạnh và phù hợp đểđưa công nghệ hiện đại vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước với thực trạng cuộc sống vật chất - kỹ thuật còn quá nghèo nàn, lạc hậu, không đồng bộ hiện nay. + Mâu thuẫn giữa sựđòi hỏi cao về xã hội hoá tri thức để cóđủ trình độ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mặt bằng dân trí còn nhiều hạn chế, đặc biệt làở vùng nông thôn rộng lớn chiếm 3/4 tổng dân số. + Mâu thuẫn giữa sựđòi hỏi rất cao về công tác tổ chức, quản lý và thông tin cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá thị trường với trình độ năng lực và kinh nghiệm còn yếu kém và với trình độ và cơ sở vật chất kỹ thuật, thông tin còn nhiều hạn chế của giai đoạn phát triển ban đầu. + Mâu thuẫn giữa nhu cầu rất lớn về các nguồn tài nguyên cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với hiện trạng suy thoái và cạn kiệt của các nguồn tài nguyên hiện nay. - Đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước về sự vận dụng tri thức trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Việt Nam là nước đi sau có nhiều khả năng tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ thế giới. Do đó có thể rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước ở các nước, công nghiệp phát triển. Việt Nam không chỉ tích cực chuẩn bị cho bước phát triển này, mà cần phải tiếp nhận tri thức ở những ngành lĩnh vực có khả năng vàưu thế. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực vừa đặt ra những thách thức song cũng cho ta nhiều cơ hội để nâng cao trình độ khoa học công nghệ và xây dựng tiềm lực khoa học. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã vạch ra chiến lược: + Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nghị quyết đại hội IX của Đảng, nâng cao nhận thức toàn dân và các cấp, các ngành về vai trò nền tảng vàđộng lực của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. + Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh tế xã hội theo hướng tạo điều kiện, vừa khuyến khích vừa ràng buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếđầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ; đổi mới và nâng cao tính cạnh tranh thị trường trong nước và nước ngoài. + Đưa luật khoa học - công nghệ vào cuộc sống rộng rãi hơn, tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động khoa học công nghệ những năm qua và kịp thời thể chế hoá những mô hình tốt, cách làm hay đãđợc thực tiễn thử thách vàchứng minh. Đồng thời tích cực đổi mới vè cơ bản cơ ché quản lý khoa học - công nghệ theo tinh thần luật khoa học - công nghệđể nhanh chóng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khoa học - công nghệ. + Tháo gỡ những khó khăn để mở rộng và phát triển khai thông thị trường khoa học - công nghệđây là nhiệm vụ hết sức cấp bách cơ bản và lâu dài, để phát huy hết vai tròđộng lực của khoa học công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. + Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng để nhanh chóng hội nhập với thế giới và khu vực, đặc biệt là cơ sở hạ tầng về thông tin khoa học, trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. + Tạo thị trường cho khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế tài chính nhằm khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dụng khoa học công nghệ với sản xuất, kinh doanh, quản lý dịch vụ coi trọng việc nghiên cứu cơ bản trong các ngành khoa học. Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ. + Đầu tưđể phát triển giáo dục, khoa học ít ra v

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTr33.doc