Tóm tắt Luận án Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Chương 3

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG

PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ

GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1991

Về nội dung điều chỉnh của pháp luật. từ năm 1945 đến trước năm 1975

pháp luật quy định các chủ thể giám sát của nhân dân đối CQHCNN chủ yếu là

công dân. Từ năm 1975 đến năm 1991, pháp luật ghi nhận MTTQ Việt Nam,

Tổng Công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp Nông dân Việt Nam, Đoàn TNCS

Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam và Ban TTND có quyền giám sát đối với

Chính phủ, Bộ, UBND các cấp, cán bộ, viên chức, công chức hành chính. Pháp

luật đã có những quy định mang tính nguyên tắc, xác định phạm vi giám sát của

nhân dân đối với CQHCNN là hoạt động quản lý hành chính trên các lĩnh vực của

đời sống. Tuy nhiên, do đất nước có chiến tranh nên chưa có đủ những văn bản

pháp luật để điều chỉnh các quan hệ giám sát phát sinh hoạt động của CQHCNN.

Mặc dầu vậy, pháp luật đã mở ra nhiều phương thức để nhân dân thực hiện quyền

giám sát đối với CQHCNN và tùy thuộc vào các chủ thể giám sát mà pháp luật có

những quy định hình thức và phương pháp giám sát phù hợp. Nhóm các quy phạm

về trình tự, thủ tục giám sát quy định cụ thể cho từng chủ thể, bảo đảm sự linh

hoạt, tiện lợi để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với CQHCNN. Cùng với

những quy định trên, pháp luật có những quy định về hậu quả pháp lý đối với các

kiến nghị giám sát như trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

phải tiếp nhận, xử lý, trả lời kiến nghị giám sát.

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 14/12/2020 | Lượt xem: 40 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
át của nhân dân với đối tượng giám sát là CQHCNN, thực hiện hoạt động chấp hành điều hành diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là một bộ phận của pháp luật về giám sát quyền lực nhà nước. Xuất phát từ đặc điểm chủ thể giám sát của nhân dân phong phú, đa dạng và đối tượng giám sát là hoạt động của CQHCNN nên hệ thống VBQPPL được thể hiện ở nhiều cấp độ với các hiệu lực pháp lý khác nhau và được thể hiện trong nhiều ngành luật. 2.1.3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, điều chỉnh các nhóm quan hệ sau: 9 Một là, nhóm các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý của chủ thể giám sát và đối tượng giám sát. Hai là, nhóm các quy phạm pháp luật xác định phạm vi giám sát. Ba là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định các hình thức giám sát, phương pháp giám sát. Bốn là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động giám sát. Năm là, nhóm các quy phạm pháp luật quy định hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát. 2.1.4. Vai trò của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Qua phân tích khái niệm, đặc điểm của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN, luận án nhận định vai trò của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là: pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền làm chủ của nhân dân đối với Nhà nước nói chung và hoạt động giám sát của nhân dân đối với CQHCNN nói riêng; góp phần củng cố tổ chức, là cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động quản lý hành chính; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, góp phần đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hành vi tiêu cực khác trong CQHCNN. Đặc biệt, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, lợi ích của Nhà nước, xã hội. 2.2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 2.2.1. Tiêu chí hoàn thiện Từ những tiêu chí chung của hệ thống pháp luật, luận án chia các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN thành 3 nhóm: nhóm tiêu chí về nội dung pháp luật, nhóm tiêu chí về hình thức pháp luật và nhóm tiêu chí về tổ chức thực hiện pháp luật. 2.2.1.1. Tiêu chí về nội dung Thứ nhất, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải phù hợp với các quan điểm, chủ trưởng của Đảng về giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước nói chung CQHCNN nói riêng. 10 Thứ hai, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm tính phù hợp với thực tế và ổn định. Thứ ba, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm và tôn trọng thực hiện quyền con người. Thứ tư, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. 2.2.1.2. Tiêu chí về hình thức Thứ nhất, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm tính toàn diện. Thứ hai, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm tính thống nhất. Thứ ba, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm tính đồng bộ. Thứ tư, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN phải bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Thứ năm, về hình thức văn bản, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN được thể hiện chủ yếu và cơ bản nhất là các VBQPPL, phải bảo đảm kỹ thuật lập pháp hiện đại. 2.2.1.3. Tiêu chí về tổ chức thực hiện Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN sẽ trở thành pháp luật “trên giấy” nếu như không được tổ chức thực hiện trong cuộc sống, hoặc không đạt được mục đích của việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Do đó, ngoài việc định ra những tiêu chí về nội dung và hình thức pháp luật, luận án còn đưa ra các tiêu chí về tổ chức thực hiện pháp luật. Các tiêu chí đó là: Thứ nhất, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Thứ hai, đào tạo đội ngũ cán bộ của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với CQHCNN. Thứ ba, thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. 2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Yếu tố về chính trị - tư tưởng. Đó là chủ trương, chính sách của Đảng về bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Ngoài ra, cần có môi trường chính trị ổn 11 định để thực hành dân chủ trong các tầng lớp nhân dân. Ý thức và văn hóa chính trị của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, trách nhiệm của Nhà nước có vai trò to lớn đến việc hoàn thiện các nội dung của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Yếu tố về kinh tế - xã hội. Đó là những điều kiện, phương tiện vật chất, môi trường xã hội trong đó tồn tại các thiết chế như gia đình, cộng đồng, tổ chức xã hội, các hiệp hội, tập thể lao động, những giá trị truyền thống, đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể pháp luật, trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, với xã hội là những bảo đảm xã hội rất cần thiết để tạo ra “dư luận xã hội”, có vai trò gây “ảnh hưởng” đến quá trình thực hiện kết quả giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Một số yếu tố về pháp lý khác. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa giám sát nhà nước, giám sát của Đảng với giám sát của nhân dân. Có cơ chế xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và xử lý những kiến nghị giám sát của nhân dân đúng luật định. Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của cán bộ, công chức, của các tầng lớp nhân dân có tác động tích cực đến việc hoàn thiện các nội dung của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. 2.3. PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM 2.3.1. Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở một số nước trên thế giới Nghiên cứu pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở một số nước cho thấy, cấu trúc của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này cũng có những nhóm quy phạm như sau: nhóm các quy phạm xác định chủ thể, nhóm quy phạm về phạm vi, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Qua nghiên cứu, luận án chỉ ra rằng ngoài những sự khác biệt còn có những điểm tương đồng trong pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Chính vì vậy, có thể tham khảo và học tập những giá trị trong pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở một số nước trong quá trình hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam hiện nay. 2.3.2. Những giá trị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm về hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở một nước có thể tham khảo những kinh nghiệm sau đây: hoàn thiện các quy phạm pháp luật về chủ thể giám sát nhân dân đối với CQHCNN phải tạo điều kiện và phát huy tính chủ động, tích cực, đa dạng của các 12 chủ thể giám sát; tạo ra cơ chế phối kết hợp giữa giám sát của Nhà nước với giám sát của nhân dân; đồng thời, hoàn thiện các quy phạm pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của công dân bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Việc hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa các hình thức giám sát, chú ý hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục và sử dụng công nghệ thông tin tạo ra sự thuận tiện cho nhân dân trong hoạt động giám sát đối với CQHCNN. Chương 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUANHÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 3.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 3.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1991 Về nội dung điều chỉnh của pháp luật. từ năm 1945 đến trước năm 1975 pháp luật quy định các chủ thể giám sát của nhân dân đối CQHCNN chủ yếu là công dân. Từ năm 1975 đến năm 1991, pháp luật ghi nhận MTTQ Việt Nam, Tổng Công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp Nông dân Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam và Ban TTND có quyền giám sát đối với Chính phủ, Bộ, UBND các cấp, cán bộ, viên chức, công chức hành chính. Pháp luật đã có những quy định mang tính nguyên tắc, xác định phạm vi giám sát của nhân dân đối với CQHCNN là hoạt động quản lý hành chính trên các lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, do đất nước có chiến tranh nên chưa có đủ những văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ giám sát phát sinh hoạt động của CQHCNN. Mặc dầu vậy, pháp luật đã mở ra nhiều phương thức để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với CQHCNN và tùy thuộc vào các chủ thể giám sát mà pháp luật có những quy định hình thức và phương pháp giám sát phù hợp. Nhóm các quy phạm về trình tự, thủ tục giám sát quy định cụ thể cho từng chủ thể, bảo đảm sự linh hoạt, tiện lợi để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với CQHCNN. Cùng với những quy định trên, pháp luật có những quy định về hậu quả pháp lý đối với các kiến nghị giám sát như trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xử lý, trả lời kiến nghị giám sát. Về hình thức của pháp luật. Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, lúc đầu có những quy định của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN tồn tại dưới dạng Sắc lệnh. Về sau quyền giám sát của cá nhân công dân đối với cơ quan nhà nước nói chung, CQHCNN nói riêng được quy định trong Hiến pháp tuy nhiên cũng chưa được cụ thể hóa thành luật. Trên cơ sở những văn bản pháp luật 13 này, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN được bổ sung, hoàn thiện sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992. 3.1.2. Quá trình phát triển của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước từ năm 1992 đến nay Về nội dung điều chỉnh của pháp luật: So với trước đây, từ năm 1992 đến nay, pháp luật quy định có nhiều chủ thể nhân dân tham gia giám sát CQHCNN. Ngoài các giám sát nhân dân đối với CQHCNN như trước đây, có thêm các tổ chức xã hội như Ban GSĐTCCĐ. Giám sát của cá nhân công dân được thực hiện quyền giám sát đối với CQHCNN thông qua quyền tiếp cận thông tin, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ở CQHCNN. Bên cạnh đó, pháp luật quy định trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp cung cấp thông tin, có trách nhiệm trả lời kiến nghị giám sát của nhân dân. Phạm vi giám sát của nhân dân đối với CQHCNN được pháp luật quy định là giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào các chủ thể giám sát mà pháp luật quy định hình thức giám sát phù hợp. Tương tự, trình tự, thủ tục, phương pháp giám sát được pháp luật quy định linh hoạt, có thể bằng đối thoại, gửi kiến nghị, hay tọa đàm, thảo luận giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát đề làm rõ những nội dung giám sát. Các văn bản pháp luật hiện hành ghi nhận các chủ thể giám sát nhân dân có quyền gửi kiến nghị giám sát đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết. Bên cạnh đó, pháp luật quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải trả lời kiến nghị giám sát trong thời gian luật định. Về hình thức của pháp luật: Đặc điểm pháp luật giai đoạn này là, với khoảng thời gian dài hơn hai thập kỷ, trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, nhiều văn bản pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN được ban hành trong đó có nhiều văn bản đã hết hiệu lực thi hành, được thay thế bằng văn bản pháp luật mới. Hiến pháp năm 2013 có nhiều quy định mới liên quan đến quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước nói chung, CQHCNN nói riêng. Do vậy, từ những quy định đó, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN đứng trước nhu cầu đổi mới và hoàn thiện một cách căn bản. Việc đánh giá thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN hiện nay là nhiệm vụ cần thiết. 3.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNHNHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAMHIỆNHÀNH 3.2.1. Thực tiễn nội dung quy định của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước 3.2.1.1. Nhóm các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý của chủ thể giám sát nhân dân và đối tượng giám sát Pháp luật hiện hành quy định có nhiều chủ thể thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với hoạt động của CQHCNN. Đó là MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt 14 trận như Công đoàn, Đoàn NTCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội CCB Việt Nam; Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ; cá nhân công dân. Đồng thời pháp luật có những quy định tạo ra có chế phối hợp giữa giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận với giám sát của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND). Nhóm các quy phạm này còn có quy định xác định trách nhiệm của đối tượng giám sát là Chính phủ và UBND, cán bộ, công chức, viên chức hành chính các cấp bảo đảm để MTTQ và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, công dân giám sát các hoạt động của CQHCNN. Bên cạnh những kết quả đạt được, nhóm quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý của chủ thể giám sát nhân dân và đối tượng giám sát bộc lộ một số bất cập như chưa tạo ra sự độc lập của các chủ thể nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động CQHCNN; chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa hai loại hình giám sát của nhân dân (giám sát của MTTQ và các tổ chức thành viên, Ban TTND, Ban GSTĐCCĐ) với giám sát của Nhà nước (Quốc hội, HĐND) đối với hoạt động của CQHCNN. Tiêu chí về tính đồng bộ trong các quy định về địa vị chủ thể giám sát cũng chưa đáp ứng. Cụ thể là, pháp luật mới chỉ tập trung ở những quy định xác định vai trò giám sát của MTTQ, trong khi đó các quy định về vai trò giám sát của các tổ chức thành viên của Mặt trận đối với CQHCNN rất mờ nhạt, chủ yếu là một số quy định về trách nhiệm của các tổ chức này trong việc động hội viên và nhân dân tham gia giám sát. Mặt khác, một số quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của đối tượng bị giám sát chưa thật rõ ràng, cụ thể, minh bạch do vậy hiệu quả hoạt động giám sát đối với CQHCNN chưa cao. 3.2.1.2. Nhóm quy phạm pháp luật xác định phạm vi giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Hiến pháp năm 2013 và Luật MTTQ Việt Nam năm 1999, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan đã xác định phạm vi giám sát của MTTQ và các tổ chức thành viên, GSĐTCCĐ và công dân bao trùm cả hoạt động của CQHCNN, việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức hành chính nhà nước. Đồng thời, nhiều văn bản pháp luật cũng ghi nhận phạm vi giám sát của nhân dân đối với các lĩnh vực của hoạt động quản lý hành chính, gắn với chức năng và nhiệm vụ của từng chủ thể, mục đích là phát huy lợi thế của các chủ thể, bảo đảm “tính chuyên sâu” trong hoạt động giám sát đối với CQHCNN. Tuy nhiên, có những lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước cần giám sát nhưng lại chưa được giám sát, hoặc hiệu quả giám sát chưa đạt yêu cầu. Chẳng hạn, nhiều quan hệ giám sát phát sinh trong quản lý nhà nước về dịch vụ y tế tư nhân, hay về thực hiện chính sách an ninh, quốc phòng đang còn bỏ ngỏ Những quy định về phạm vi giám sát của cá nhân công dân đối với CQHCNN cũng chưa đầy đủ, đồng bộ đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Ví dụ luật quy định công dân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm 15 pháp luật của cán bộ, công chức thì luật khiếu nại chỉ quy định quyền khiếu nại của công dân đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính. 3.2.1.3. Nhóm quy phạm pháp luật quy định hình thức và phương pháp giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Pháp luật đã có nhiều quy định bảo đảm các hình thức, phương pháp giám sát nhân dân đối với CQHCNN đa dạng, phong phú, tạo ra sự thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền giám sát đối với CQHCNN. Thực hiện các quy định pháp luật đã tạo ra bầu không khí cởi mở, đối thoại và tạo ra sự đồng thuận giữa chủ thể giám sát và các đối tượng giám sát trong việc kiếm tìm giải pháp để giải quyết những kiến nghị về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN. Tuy vậy, nhóm quy pháp luật về hình thức và phương pháp giám sát của các chủ thể giám sát nhân dân đối với CQHCNN có những bất cập: một số quy định về hình thức giám sát chưa cụ thể, rõ ràng, chưa bảo đảm tính khả thi; do vậy, pháp luật chưa khẳng định được vai trò giám sát của MTTQ và các tổ chức thành viên. Nhóm quy phạm pháp luật về quyền chính trị, dân sự bảo đảm quyền giám sát nhân dân mới chỉ tồn tại ở những quy định có tính nguyên tắc, tuyên ngôn như: quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền tiếp cận thông tin. 3.2.1.4. Nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Pháp luật đã tạo ra quy trình khách quan, bảo đảm tính kịp thời, thuận tiện, đại chúng của hoạt động giám sát của nhân dân đối với CQHCNN cho từng loại chủ thể: trình tự, thủ tục thực hiện nhiệm vụ giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; trình tự, thủ tục giám sát của Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ; trình tự, thủ tục của cá nhân công dân qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sởTuy nhiên, pháp luật chưa tạo ra cơ chế công khai, cung cấp thông tin trong hoạt động giám sát, xác định rõ trình tự, thủ tục và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận giải quyết kiến nghị giám sát. Do vậy, một số kiến nghị, phản ánh về kết quả hoạt động giám sát của nhân dân gửi đến CQHCNN chưa kịp thời xử lý, hoặc chưa được giải quyết thấu đáo. Việc giải quyết, trả lời ý kiến của một số bộ, ngành, các cơ quan chức năng còn hình thức. 3.2.1.5. Nhóm quy phạm xác định hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Pháp luật có nhiều quy định xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi nhận được kiến nghị của Mặt trận thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn theo quy định của pháp luật; đồng thời, pháp luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ hoạt động giám sát, trách nhiệm giải trình của đối tượng giám sát. Mặc dầu vậy, pháp luật chưa có quy định bắt buộc, hoặc chưa có biện pháp chế tài thích 16 hợp với các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong việc không hoặc chậm tiếp nhận và xử lý kết quả giám sát do MTTQ kiến nghị. Do vậy, dẫn đến tình trạng có trường hợp cơ quan chức năng không xử lý, không giải quyết kết quả giám sát của MTTQ theo kiến nghị cũng không phải chịu trách nhiệm, thậm chí nếu có giải quyết thì chỉ mang tính chiếu lệ. 3.2.2. Những kết quả và bất cập, hạn chế về hình thức của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giám sát phát sinh giữa các chủ thể giám sát nhân dân (như MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội như Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ, cá nhân) đối với đối tượng giám sát là CQHCNN, được thể hiện trong các VBQPPL có cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, đi vào những chế định cụ thể, có thể thấy, về mặt hình thức, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN còn những hạn chế, bất cập như chưa bảo đảm tính toàn diện, nhiều quy định chưa bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ; tồn tại những quy định thiếu tính khả thi, hình thức. Thực tế còn nhiều quy định pháp luật dưới dạng quy chế nên giá trị pháp lý thấp, nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc đã lỗi thời và thiếu ổn định. Trong khi đó một số quy định chỉ dừng ở những nguyên tắc chính trị - pháp lý chung, mang tính luật khung, thiếu các quy định cụ thể, chưa có quy định về các biện pháp để theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, đề nghị giám sát CQHCNN. Về kỹ thuật lập pháp, một số quy định trong văn bản pháp luật chưa rõ ràng, chưa bảo đảm tính hiện đại. 3.2.3. Những kết quả đạt được và bất cập của việc tổ chức thực hiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước 3.2.3.1. Những kết quả đạt được MTTQ các cấp tuyên truyền, phổ biến nhiều văn bản pháp luật, những quy định của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến vai trò của MTTQ trong việc thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của CQHCNN. Các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (GDPL) là MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp tổ chức tuyên truyền, phổ biến; phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành của chính quyền, với Hội đồng phối hợp phổ biến GDPL địa phương; lồng ghép với các cuộc vận động do MTTQ Việt Nam các cấp tổ chức, gắn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật với việc giám sát công tác cải cách hành chính, công tác giải quyết khiếu nại - tố cáo của công dân, Hội thi tìm hiểu pháp luật, kết hợp với báo cáo chuyên đề cho cán bộ - công chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân tại xã - phường - thị trấn, phối kết hợp tổ chức tập huấn cho cán bộ làm công tác giám sát đối với CQHCNN. Quán triệt quan điểm quả Đảng về nhiệm vụ giám sát của MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ, phát huy quyền giám sát của công dân, gần đây các cấp ủy đảng, MTTQ Việt Nam các cấp, chính quyền 17 đã chú trọng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Tiến hành kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN cho thấy, các chủ thể giám sát nhân dân, đối tượng giám sát đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ giám sát của mình đối với hoạt động của CQHCNN. Hoạt động kiểm tra, rà soát những quy định pháp luật mâu thuẫn, bất cập liên quan đến hoạt động giám sát của nhân dân đối với CQHCNN cũng được tiến hành thường xuyên. 3.2.3.2. Một số bất cập Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN diễn ra chưa đồng đều, chưa đi sâu vào từng nội dung của giám sát hoạt động các CQHCNN, một số nơi còn hình thức, chủ yếu tập trung vào các hoạt động bề nổi. Sự phối hợp giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền và MTTQ và các tổ chức thành viên ở các cấp chưa toàn diện, thiếu tính thống nhất. Các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCN nhưng tiến hành chưa thường xuyên, thiếu kinh phí hoạt động. Trong khi đó, nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ giám sát chưa chưa sát thực tế, vẫn chỉ dừng lại ở mức chung chung, chưa đi vào từng vấn đề cụ thể của hoạt động quản lý hành chính của CQHCNN. Nhiều vấn đề nóng như giám sát việc quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm, quản lý nhà nước đối với hành nghề y tế tư nhân, quản lý nhà nước về môi trường ở cơ sở, giám sát quản lý vốn trong đầu tư, xây dựng cơ bản hầu như còn bỏ ngỏ. Đội ngũ cán bộ MTTQ và các tổ chức thành viên thực hiện nhiệm vụ giám sát còn thiếu, chưa được đào tạo bài bản, nhất là ở cấp huyện và ở cơ sở; vì vậy, một số cán bộ thiếu kỹ năng tác nghiệp, năng lực nhìn nhận, phân tích, đánh giá và kết luận vấn đề trong quá trình giám sát còn bất cập. Hình thức, cách thức tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu tính ổn định và chưa khoa học. Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN chưa được tiến hành thường xuyên và đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Tồn tại tình trạng một số cơ quan đùn đẩy, né tránh việc trả lời kiến nghị giám sát của nhân dân, hoặc chưa quan tâm giải quyết, trả lời theo quy định pháp luật đối với đơn, thư của công dân và kiến nghị của Mặt trận. Trách nhiệm của CQHCNN trong việc xử lý hậu quả hoạt động giám sát của nhân dân chưa xác định cụ thể, rõ ràng. 3.2.4. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 3.2.4.1. Nguyên nhân khách quan Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN mặc dù được quan tâm sửa đổi, bổ sung nhưng chưa theo 18 kịp với những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống. Trong khi đó, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, những vấn đề lý luận về kiểm soát, giám sát quyền lực của nhân dân đối với bộ máy nhà nước nói chung, CQHCNN nói riêng là vấn đề mới và khó; do vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và làm sáng tỏ. 3.2.4.2. Nguyên nhân chủ quan Một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa quan tâm đầy đủ, đúng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftt_hoan_thien_phap_luat_ve_giam_sat_cua_nhan_dan_doi_voi_co_quan_hanh_chinh_nha_nuoc_o_viet_nam_4897.pdf
Tài liệu liên quan