Tóm tắt Luận án Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - Xãhội

Công trình nghiên cứu đầu tiên liên quan đến phân loại về cá nước

ngọt ở Việt Nam của H.E. Sauvage (1881) “Nghiên cứu về khu hệ cá

Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”. Công trình đã

thống kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài

mới ở miền Bắc Việt Nam. Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của

G. Tirant (1883), H.E. Sauvage (1884), L. Vallant (1891), J.

Pellegrin (1906, 1907, 1928, 1932); P. Chabanaud (1924), v.v. Kế

tiếp là các công trình nghiên cứu của một số các nhà khoa học trong

nước và nước ngoài như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958,

1959); Đào Văn Tiến và cs (1961); Mai Đình Yên (1962); Hoàng

đức Đạt (1964); Nguyễn Văn Hảo (1964); P. Bănărescu (1967, 1970,

1971); Mai Đình Yên (1978); Nguyễn Hữu Dực (1982); Mai Đình

Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991);

pdf28 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 11/12/2020 | Lượt xem: 27 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - Xãhội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng bộ. Hệ sinh thái thủy vực nước lợ, mặn ĐBSCL có hai hệ sinh thái thủy vực đặc trưng gồm: nước ngọt và nước lợ, mặn. Sự tương tác của thủy triều biển và hệ thống sông Cửu Long tạo ra vùng nước lợ, vào thời điểm tương tác của thủy triều mạnh hơn sông làm cho độ mặn tăng cao. Từ cửa Tiểu (Tiền Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang) có nhiều sông, kênh, rạch đổ ra biển, trong đó 17 sông và 3 kênh lớn đổ ra biển Đông và biển Tây, có tác động mạnh đến vùng ven bờ. Hệ sinh thái thủy vực mặn, lợ ở ĐBSCL có vai trò quan trọng cũng không kém so với hệ sinh thái thủy vực nước ngọt ở ĐBSCL. Hệ sinh thái thủy vực nước lợ là hệ sinh thái chuyển tiếp, tạo nên sự phong phú và đa dạng, là vùng chuyển tiếp các quần thể và tạo cơ hội cho các loài sống rộng sinh thái, các loài di cư kiếm ăn, sinh sản. Hệ sinh thái vùng CSVB ở ĐBSCL là một phần của vùng hạ lưu hệ thống sông Mê Công, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều biển Đông và biển Tây, sự tương tác, giao thoa mạnh giữa sông và biển. Các tiểu vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long Vùng ĐBSCL có hệ sinh thái thủy vực phong phú và đa dạng, gồm hệ sinh thái nước ngọt, lợ, mặn. Mang tính đặc trưng của vùng ngập lũ, bán ngập, chịu tác động của thủy triều biển Đông, biển Tây. Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia vùng sinh thái ở ĐBSCL, 7 tuỳ theo mục đích và đối tượng nghiên cứu (theo ngành, lĩnh vực chuyên môn), như: phân vùng sinh thái theo địa lý, môi trường, nuôi trồng thủy sản, v.v. Theo Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Văn Trọng (2001), phân chia vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản ven biển ĐBSCL thành các vùng, gồm: Vùng I, từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Bồ Đề; Vùng II, từ cửa sông Bồ Đề đến sông Đồng Cùng; Vùng III, từ cửa sông Đồng Cùng đến Hà Tiên. Theo Lương Quang Xô, phân chia vùng ĐBSCL thành 5 vùng chính gồm: Bán đảo Cà Mau (BĐCM); Tứ giác Long Xuyên (TGLX); vùng giữa sông Tiền và sông Hậu; vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) và tiểu vùng Vàm Cỏ. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VÀ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ ĐBSCL Công trình nghiên cứu đầu tiên liên quan đến phân loại về cá nước ngọt ở Việt Nam của H.E. Sauvage (1881) “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”. Công trình đã thống kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam. Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của G. Tirant (1883), H.E. Sauvage (1884), L. Vallant (1891), J. Pellegrin (1906, 1907, 1928, 1932); P. Chabanaud (1924), v.v. Kế tiếp là các công trình nghiên cứu của một số các nhà khoa học trong nước và nước ngoài như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958, 1959); Đào Văn Tiến và cs (1961); Mai Đình Yên (1962); Hoàng đức Đạt (1964); Nguyễn Văn Hảo (1964); P. Bănărescu (1967, 1970, 1971); Mai Đình Yên (1978); Nguyễn Hữu Dực (1982); Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991); Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994), v.v. Ở miền Nam, trước năm 1975 có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanir (1965); M. Yamarmura (1966); Kawamoto và cs (1972); 8 Y. Taki (1975); Từ sau năm 1975 đến nay, được biết thêm một số tài liệu của các tác giả: Akihito và Merguro (1976); Mai Đình Yên (1982); Mai Đình Yên và cs (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Hoàng Đức Đạt và Thái Ngọc Trí (2001), v.v. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về khu hệ cá ở ĐBSCL, còn có một số công trình nghiên cứu về sinh học cá thể, sinh sản nhân tạo, cá bột, cá con, sinh học phân tử, có thể kể một vài tác giả: Phạm Văn Khánh (1996); Nguyễn Bạch Loan và Nguyễn Hữu Phụng (2002); Nguyễn Tuần (2000); Nguyễn Văn Trọng (1997); Bùi Lai và cs (2002, 2012); Hoàng Đức Đạt và cs (2003); Thái Ngọc Trí và cs (2011, 2012); Nguyễn Thanh Tùng (2005); Nguyễn Bạch Loan (2012); Vũ Đặng Hạ Quyên và cs (2014); v.v. CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT THỰC ĐỊA - Đối tượng nghiên cứu: Các loài cá tự nhiên thuộc vùng nước nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long. Một số các cộng đồng ngư dân. - Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu ở 14 khu vực với 40 điểm tọa độ khảo sát vùng ĐBSCL từ tháng 10/2011 đến tháng 4/2015 (Hình 1). Hình 1. Bản đồ thu mẫu nghiên cứu ở thực địa 9 - Thu mẫu: Mẫu cá được thu thập bằng nhiều loại ngư cụ khác nhau, gồm: Lưới giăng (nhiều loại mắt lưới khác nhau), Câu (giăng, cắm), Chài, Vó gạt, Vó bè, Te, Xiệp, Đáy, Dớn, Đăng mé, Lợp, v.v., đánh bắt trực tiếp cùng với ngư dân. Mẫu cá được sử dụng nghiên cứu hình thái và sinh học phân tử. - Điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu phỏng vấn theo từng hộ gia đình, các cơ quan quản lý tại địa phương, hội thảo cộng đồng. - Thiết bị và hóa chất sử dụng: thiết bị giải phẫu ngư loại, Ethanol (EtOH) 70% và EtOH 90%, Formaldehyt 10%, lọ đựng mẫu mô thể tích 1,5 ml có gắn mã vạch (Barcoding), Máy ảnh, GPS, v.v. Dữ liệu thứ cấp ở thực địa; Các hình ảnh, cùng với sinh cảnh được mô tả, thời gian, địa điểm (tọa độ địa lý), người thu thập, v.v. được ghi chép vào nhật ký thực địa và lưu giữ trong máy tính xách tay. XỬ LÝ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM - Nghiên cứu về hình thái học (Định loại, xác định tên khoa học dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài), xử lý dữ liệu, hoàn thành luận án tại phòng Thí nghiệm Viện Sinh học Nhiệt đới, Việt Nam. - Nghiên cứu sinh học phân tử được thực hiện tại phòng Thí nghiệm tích hợp Đa dạng sinh học, Bảo tồn và Gen, Khoa Sinh học, Đại học Saint Louis, Missouri, Hoa Kỳ. CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐBSCL Đa dạng về thành phần loài Đa dạng về thành phần loài: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đã phân tích và xác định được 216 loài cá, thuộc 60 họ, 19 bộ. Trong đó, lớp cá sụn có hai bộ: Bộ cá mập (Carcharhiniformes) và bộ cá đuối ó (Myliobatiformes); Lớp cá 10 Tỷ lệ thành phần loài giữa các Bộ Bộ cá thát lát Bộ cá mập Bộ cá đuối ó Bộ cá nóc 0,5% 1,9% 2,3% Bộ cá măng biển 0,9% 0,9% Bộ cá mòi đường 0,5% Bộ cá chình 2,3% Bộ cá mù làn 0,5% Bộ cá mang liền 2,8% Bộ cá ngựa xương 0,5% Bộ cá kìm Bộ cá cóc 2,3% 0,5% Bộ cá đèn sông 0,9% Bộ cá hồng nhung 0,5% xương có 17 bộ. Trong 19 bộ cá đã được xác định, bộ cá vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất, với 66 loài thuộc 27 họ, chiếm tỷ lệ 30,6%; Xếp thứ hai là bộ cá chép (Cypriniformes), có 55 loài thuộc 3 họ, chiếm tỷ lệ 25,5%; Xếp thứ ba là bộ cá nheo (Siluriformes), có 40 loài thuộc 7 họ, chiếm tỷ lệ 18,5%. Các bộ còn lại có số lượng loài dao động từ 1 loài - 12 loài, chiếm tỷ lệ từ 0,5% - 5,6% trong cấu trúc thành phần loài của khu hệ. (Hình 2). Hình 2. Tỷ lệ thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL Các loài ghi nhận mới cho khu hệ cá vùng ĐBSCL: Kết quả nghiên cứu, đã ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ 2 bộ, cho khu hệ cá vùng ĐBSCL, gồm: cá Lòng tong đuôi vàng Rasbora tornieri Ahl, 1922; cá Cóc nhiều râu Cyclocheilichthys heteronema (Bleeker, 1854); cá Khoai (Acantopsis sp.1); cá Khoai (Acantopsis sp.2); cá Khoai (Acantopsis sp.3) và cá Mang rổ Toxotes microlepis Günther, 1860. Các loài cá quý hiếm và loài nhập nội ở ĐBSCL: Trong 216 loài cá thuộc 60 họ, 19 bộ ở vùng ĐBSCL, có 19 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2014), với tình trạng bị đe dọa ở các mức độ khác nhau (Bảng 1). B ộ c á ch ép 2 5 ,5 % 11 Bảng 1. Danh sách các loài bị đe dọa Stt TÊN TIẾNG VIỆT TÊN KHOA HỌC (1) (2) I BỘ CÁ ĐUỐI Ó MYLIOBATIFORMES 1 Họ cá Đuối bồng Dasyatidae 1 Cá đuối bồng viền trắng Himantura signifer Compagno & Roberts, 1982 EN II BỘ CÁ THÁT LÁT OSTEOGLOSSIFORMES 2 Họ cá Thát lát Notopteridae 2 Cá còm Chitala ornata (Gray, 1831) VU LC III BỘ CÁ MĂNG BIỂN ELOPIFORMES 3 Họ cá Măng biển Elopidae 3 Cá cháo biển Elops saurus Linnaeus, 1766 VU LC 4 Họ cá Cháo Megalopidae 4 Cá Cháo lớn Megalops cyprinoides (Broussonet, 1782) VU DD IV BỘ CÁ MÒI ĐƯỜNG ALBULIFORMES 5 Họ cá Mòi đường Albulidae 5 Cá Mòi đường Albula vulpes (Linnaeus, 1758) VU NT V BỘ CÁ TRÍCH CLUPEIFORMES 6 Họ cá Trích Clupeidae 6 Cá mòi không răng Anodontostoma chacunda (Hamilton, 1822) VU 7 Cá cháy nam Tenualosa thibaudeaui (Durand, 1940) VU VU 8 Cá cháy bẹ Tenualosa toli (Valenciennes, 1847) VU VI BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES 7 Họ cá Chép Family Cyprinidae 9 Cá chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 VU 10 Cá duồng Cirrhinus microlepis Sauvage, 1878 VU VU 11 Cá hô Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898 EN CR 12 Cá trà sóc Probarbus jullieni Sauvage, 1880 VU EN VII BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES 8 Họ cá Lăng Bagridae 13 Cá chốt cờ Mystus bocourti (Bleeker, 1864) VU 9 Họ cá Tra Pangasiidae 14 Cá bông lau Pangasius krempfi Fang & Chaux, 1949 VU 15 Cá tra dầu Pangasianodon gigas Chevey, 1931 VU CR 16 Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) EN VIII BỘ CÁ VƯỢC PERCIFORMES 10 Họ cá Hường Datnioididae 17 Cá hường vện Datnioides polota (Hamilton, 1822) VU LC 18 Cá hường (Thái hổ) Datnioides microlepis Bleeker, 1854 VU 12 Stt TÊN TIẾNG VIỆT TÊN KHOA HỌC (1) (2) 11 Họ cá Mang rổ Toxotidae 19 Cá mang rổ Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) VU Ghi chú: (1) Sách Đỏ Việt Nam, (2007) (2) IUCN Red list Status, (2014) Trong 19 loài cá bị đe dọa có mặt ở ĐBSCL, hiện nay một số loài đã được sinh sản nhân tạo, gồm: cá Còm, cá Chép, cá Duồng, cá Hô, cá Trà sóc, cá Tra, cá Hường vện, một số loài trong chúng là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế như cá Chép, cá Tra, cá Còm. Ở Việt Nam, các loài cá nhập nội được di nhập vào từ những năm 1958, phục vụ cho nghề nuôi cá thịt và nghề nuôi cá cảnh. Các loài cá và các dòng cá nhập có nguồn gốc từ nhiều nước và châu lục, gồm: châu Phi, châu Mỹ (Brazil), châu Âu (Hungari), châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc,) và Đông Nam Á (Thái Lan, Philippine, v.v.). Cùng với nghề khai thác cá, nghề nuôi cá ở ĐBSCL có truyền thống và phát triển mạnh trong những thập niên gần đây. Các đối tượng nuôi khá phong phú, có hai nguồn gốc: (1) Tuyển chọn sử dụng giống từ các loài cá có nguồn gốc bản địa ở ĐBSCL; (2) Sử dụng nguồn giống là các loài nhập nội hoặc từ vùng khác trong nước đến phục vụ cho nghề nuôi, nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt thực phẩm, hoặc di nhập phục vụ nghề cá cảnh. Kết quả điều tra, thu thập thông tin từ ngư dân và tham khảo các tài liệu, đã xác định ở ĐBSCL hiện nay có 14 loài cá thuộc 7 họ, 5 bộ, là những loài nhập nội chủ yếu phục vụ nghề nuôi cá thịt phổ biến ở ĐBSCL. Một số loài nhập nội đã hình thành quần thể tác động đến các loài bản địa, đến hệ sinh thái, môi trường. Chúng thích nghi với môi trường sống tự nhiên ở ĐBSCL, phát triển nhanh về quần thể, cạnh tranh nguồn thức ăn, nơi sống của các loài cá bản địa như: cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus), cá Trê phi (Clarias gariepinus), cá Rô phi đen (Oreochromis mossambicus), v.v. Hiện nay, loài cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus) là vấn nạn ở các 13 thủy vực nước ngọt và nước lợ ĐBSCL. Cá Tỳ bà là loài cá nhập nội phục vụ nghề nuôi cảnh, thích nghi tốt với điều kiện vùng nước tự nhiên ở ĐBSCL, phát triển mạnh về quần thể. Đa dạng nguồn gen Giải trình tự DNA và xây dựng cây phát sinh chủng loài của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) (Hình 3). Hình 3. Sơ đồ cây phát sinh chủng loài Kết quả phân tích, kiểm tra đa dạng di truyền trong COI, cho thấy khoảng cách di truyền giữa các taxon dao động từ 0.001 (1,0%) Acantopsis sp1/ Acantopsis sp3 và 0,229 (22,9%) (Henicorhynchus siamensis và Acantopsis sp.2). Sự sai khác giữa các trình tự nucleotic của 3 taxon thuộc giống Acantopsis như sau: Acantopsis sp1/ Acantopsis sp2: 21,4%; Acantopsis sp1/ Acantopsis sp3: 1,0%; Acantopsis sp2/ Acantopsis sp3: 21,6%. Đa dạng hệ sinh thái thủy vực ĐBSCL Đa dạng hệ sinh thái thủy vực: Hệ sinh thái thủy vực nội địa ĐBSCL phong phú và đa dạng, chịu sự tác động của một số yếu tố vô sinh 14 như: pH, sự xâm nhập mặn, chế độ dòng chảy của hệ thống sông Mê Công, chế độ bán nhật triều của biển Đông, nhật triều của biển Tây, các hệ thống công trình thủy lợi, đê bao ngọt hóa, ngăn mặn, các công trình ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, v.v. Trên cơ sở đó, có thể phân chia ĐBSCL thành 5 tiểu vùng sinh thái gồm: (1) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng TGLX, (2) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng ĐTM, (3) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng trung tâm ĐBSCL, (4) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng BĐCM và (5) tiểu vùng sinh thái thuộc vùng CSVB (từ cửa Tiểu Tiền Giang đến Kiên Giang). Tiểu vùng TGLX và tiểu vùng ĐTM, đặc trưng cho vùng thượng nguồn ĐBSCL chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ bởi lưu vực sông Mê Công, các loài cá chiếm ưu chế chủ yếu có nguồn gốc ngọt, đồng thời cũng là tiểu vùng chịu ảnh hưởng bởi phèn có nhiều loài “cá đen” sinh sống trong mùa khô. Tiểu vùng trung tâm ĐBSCL được xem là vùng giao thoa và chuyển tiếp giữa nước ngọt và nước mặn. Tùy vào chế độ tương tác giữa nguồn nước ngọt của sông Mê Công và chế độ triều của biển theo mùa (mưa hoặc khô), tạo nên vùng lợ hoặc xâm nhập mặn (XNM) sâu trong tiểu vùng. Đây là vùng có thành phần loài đa dạng gồm nhóm cá có nguồn gốc ngọt, mặn, lợ. Tiểu vùng CSVB chịu sự chi phối và tác động chính của chế độ thủy triều (bán nhật triều và nhật triều) biển Đông, biển Tây cùng với các yếu tố về TĐL của biển - sông và chế độ GMĐB hoặc GMTN. Ngoài yếu tố chi phối bởi tác động sông - biển, còn chịu sự chi phối và tác động bởi các hệ thống công trình thủy lợi và đê biển. Các nhóm cá đại diện có nguồn gốc mặn, lợ chiếm ưu thế. Tiểu vùng BĐCM, chịu sự chi phối và tác động chính của chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây và sự tương tác giữa biển Đông và 200 150 100 50 0 Mùa lũ Mùa khô Mùa khô Mùa lũ 53% 47% 15 biển Tây theo chế độ GMĐB hoặc GMTN; Sự chi phối của các hệ thống công trình thủy lợi, đê biển; Sự tương tác giữa sông Mê Công và biển Đông, biển Tây. Các nhóm cá đại diện và đặc trưng cho tiểu vùng này có nguồn gốc biển Đông và biển Tây chiếm ưu thế và một số đại diện có nguồn gốc ngọt của hạ lưu hệ thống sông Mê Công. Đặc điểm cấu trúc thành phần loài theo mùa và nguồn gốc phân bố: Khu hệ cá ĐBSCL, có hai nhóm cá điển hình: (1) Nhóm cá có nguồn gốc ngọt hoàn toàn chiếm ưu thế vào mùa lũ, có 178 loài chiếm tỷ lệ 47% thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL. Ở ĐBSCL về mặt sinh thái các loài cá nước ngọt thường phân biệt: nhóm “cá trắng” hay cá sông, ưa nước chảy, thoáng có hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO) cao, và nhóm “cá đen” sống ở lung đầm, trong rừng tràm nước đứng, nhiễm phèn, pH thấp, DO thấp. Tuy vậy, về mùa lũ “cá trắng”, “cá đen” đều cùng sống, kiếm ăn trong vùng ngập lũ của ĐBSCL. (2) Nhóm cá có nguồn gốc mặn, lợ sống rộng muối chiếm ưu thế vào mùa khô ở vùng hạ lưu cửa sông, ven biển, có 197 loài chiếm tỷ lệ 53% về thành phần loài của khu hệ cá ĐBSCL (Hình 4). Hình 4. Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL theo mùa Khu hệ cá ĐBSCL một phần của khu hệ cá sông Mê Công có mối quan hệ chặt chẽ trong chu kỳ sống và phát triển gắn liền với chế độ thủy văn của sông Mê Công; Hàng năm về mùa lũ cá bột, cá con của nhiều loài từ sông Mê công di cư theo dòng nước lũ về ĐBSCL vào S ố l o ài , 1 7 8 S ố h ọ , 3 7 S ố b ộ , 1 2 S ố l o ài , 1 9 7 S ố h ọ , 6 0 S ố b ộ , 1 9 16 sinh sống trong vùng ngập, lớn lên bổ sung vào trữ lượng cho khu hệ cá ĐBSCL. Các loài cá có nguồn gốc biển sống rộng muối ở vùng biển gần bờ, cửa sông, vào sâu trong vùng hạ lưu theo sự xâm nhập mặn trong mùa khô, một số loài di cư vượt sông Cửu Long lên trung lưu sông Mê Công sinh sản. Đặc điểm sinh học, sinh thái khu hệ cá ĐBSCL: Đặc điểm về sinh học, sinh thái của khu hệ cá ĐBSCL gắn liền với điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL (Thời tiết, khí hậu, mùa khô và mùa mưa lũ), chế độ thủy văn của sông Mê Công, sự tương tác giữa sông - biển và chế độ triều của biển Đông, biển Tây. Hoạt động sinh sản, dinh dưỡng, sinh trưởng của phần lớn các loài cá ĐBSCL phụ thuộc vào chế độ mưa lũ của sông Mê Công và chế độ thủy triều của biển Đông và biển Tây. Di cư là đặc điểm sinh thái học quan trọng của phần lớn các loài cá ĐBSCL. Di cư sinh sản: nhiều loài trong bộ cá Chép (Cypriniformes), bộ cá Nheo (Siluriformes), một số loài cá có nguồn gốc biển di cư lên trung lưu sông Mê Công để sinh sản. Nhều loài cá trong bộ cá Chép (Cypriniformes), bộ cá Vược (Perciformes) sống ở sông, kênh rạch đến mùa lũ di cư vào vùng ngập lũ để sinh sản. Di cư phát triển, dinh dưỡng, sinh trưởng: trứng phôi, cá bột, cá con từ trung lưu sông Mê Công theo dòng nước lũ di cư thụ động về hạ lưu theo sông Cửu Long, vào các vùng ngập lũ rộng lớn phát triển thành cá con, kiếm ăn lớn lên, nước lũ rút chúng theo xuống kênh, rạch, sông lớn. Ấu trùng, cá con (Cá trưởng thành) của một số loài cá có nguồn gốc biển theo dòng thủy triều vào vùng hạ lưu sinh sống. Giá trị và vai trò của khu hệ cá ĐBSCL ĐBSCL có hệ thống thủy vực phong phú đa dạng, tài nguyên thủy sản đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng, sản lượng khai thác hàng năm lớn, cung cấp thực phẩm cho nhu cầu trong nước 17 và xuất khẩu, trong đó các loài cá chiếm tỷ trọng lớn. Trong 216 loài cá của khu hệ cá ĐBSCL có 79 loài cá thuộc 30 họ, 9 bộ chiếm tỷ lệ 36,57%, có 24 loài là đối tượng nuôi. Những năm gần đây, sản lượng cá da trơn (các loài trong giống Pangasius) nuôi ở ĐBSCL đã đạt trên một triệu tấn/năm. Một số loài cá có chất lượng thịt ngon được coi là đặc sản. Nhiều loài cá có màu sắc, hình dạng đẹp, có tập tính đặc biệt có thể tuyển chọn thuần hóa làm cá cảnh. Khu hệ cá ĐBSCL là một phần của khu hệ cá sông Mê Công, nhiều loài cá có giá trị cao là nguồn gen quí hiếm cá nước ngọt của thế giới, (cá Hô, cá Tra dầu, v.v.) trong chu kỳ sống của chúng gắn liền với cả dòng sông Mê công từ trung, thượng lưu đến hạ lưu - ĐBSCL. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐA DẠNG KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Trong những thập niên gần đây, sự xuất hiện các hiện tượng cực đoan của thời tiết (sự BĐKH), đã tác động không nhỏ đến hệ sinh thái thủy vực nội địa vùng ĐBSCL. Theo Bộ TN&MT (2012), nếu mực nước biển dâng 1 m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập, gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng trực tiếp. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng kịch bản BĐKH và NBD (B2, A1F1) chi tiết đến cấp xã, vùng ven biển của 5 cửa sông từ cửa Tiểu, Tiền Giang đến cửa Cổ Chiên, Bến Tre (Bảng 2), (Hình 5 và Hình 6). Bảng 2. Kịch bản trị số nước biển dâng ở vùng nghiên cứu MỐC THỜI GIAN 2020 (kịch bản B2) 2050 (kịch bản B2) 2100 (kịch bản B2) 2100 (kịch bản A1F1) Trị số NBD (cm) theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) 8 29 70 100 Trị số mức tăng độ sâu ngập lụt 18 40 83 115 18 cực đại (cm) tại VNC theo kết quả tính toán và số liệu thực đo Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2020 (lũ+triều cường) Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2020 (lũ+triều cường), có GPTU Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2020 (lũ+triều cường+bão cấp 12) Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2050 (lũ+triều cường) Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2050 (lũ+triều cường), có GPTU Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2050 (lũ+triều cường+bão cấp 12) Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2100 (lũ+triều cường+bão cấp 12) Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2100 (lũ+triều cường+bão cấp 12), có GPTU Bản đồ phân bố độ ngập lụt cực đại vào năm 2100 (lũ+triều cường) kịch bản A1F1 Hình 5. Kịch bản ngập lụt vùng CSVB (từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên) Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2020 do kiệt, triều cường và gió chướng Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2020 do kiệt, triều cường và gió chướng; có GPUP Biên độ mặn cực đại 4g/l vào năm 2020 do kiệt, triều cường và gió chướng Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2050 do kiệt, triều cường và gió chướng Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2100, B2 do kiệt và triều cường Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2050 do kiệt, triều cường và gió chướng; có GPUP Bản đồ phân bố độ mặn cực đại vào năm 2100, B2 do kiệt và triều cường; có GPUP Biên độ mặn cực đại 4g/l vào năm 2050 do kiệt, triều cường và gió chướng Biên độ mặn cực đại 4g/l vào năm 2100, B2 do kiệt và triều cường Hình 6. Kịch bản XNM vùng CSVB (từ cửa Tiểu đến cửa Cổ Chiên) Kết quả kịch bản BĐKH và NBD (B2) cho thấy: vào những năm 2020, 2050, 2100 nước biển dâng làm cho vùng nhiễm mặn ở ĐBSCL mở rộng và thời gian nhiễm mặn có thể kéo dài hơn, làm thay đổi, thu hẹp và hạn chế vùng phân bố của các loài cá có nguồn gốc nước ngọt; Các loài cá nguồn gốc biển, sống rộng muối có thể tăng số lượng thành phần loài và phân bố sâu vào vùng nước nội địa nhiễm mặn trong thời gian dài. Cấu trúc về thành phần loài của khu hệ cá VCSVB sẽ thay đổi, các loài cá có nguồn gốc ngọt sẽ bị đẩy lùi, các loài có nguồn gốc mặn, lợ sẽ tiến sâu vào vùng nội địa (có thể sẽ xuất hiện trong các kênh rạch nội đồng). BĐKH và NBD, sẽ gây ra những tác động không nhỏ đối với nghề cá và cộng đồng ngư dân sinh sống ở VCSVB, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở hạ tầng, tài sản phương tiện đánh bắt, ngoài ra còn có khả năng đe dọa đến tính mạng của cộng đồng ngư dân trong khi đánh bắt. 19 Tác động của các hoạt động phát triển Kinh tế - Xã hội Các hoạt động xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa, phát triển công, nông nghiệp: Trong khoảng 30 năm nay ĐBSCL đã phát triển công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp chế biến), nông nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, du lịch, đô thị hoá, lượng chất thải ngày càng nhiều, gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước, ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật trong đó có các loài cá. Gia tăng sản xuất nông nghiệp (trồng lúa 3 vụ), xây dựng đê bao chống lũ hoàn toàn, hoặc lũ đầu và giữa vụ để bảo vệ lúa vụ 3 làm giảm diện tích vùng ngập trong mùa lũ ở ĐBSCL, dẫn đến vùng sinh sống của các loài cá bị thu hẹp, đặc biệt là cá bột và cá con. Việc vận hành hệ thống cống thoát lũ đã đưa một lượng lớn cá bột và cá con ra biển, chúng sẽ bị chết trong môi trường nước lợ, mặn ở vùng CSVB. Những ảnh hưởng của hoạt động Kinh tế - Xã hội trên toàn lưu vực sông Mê Công đối với ĐDSH khu hệ cá ĐBSCL: Những hoạt động ngăn dòng sông chính, các phụ lưu để xây dựng thủy điện, thủy lợi, khai phá rừng trong lưu vực để làm nông nghiệp, v.v., ở trung, thượng lưu sông Mê Công đã và sẽ ảnh hưởng đến vùng hạ lưu, trong đó có ĐBSCL. Việc trữ nước cho các hồ chứa thủy điện, thủy lợi từ đầu đến giữa mùa mưa, làm thay đổi thời gian và cường độ lũ trên sông, các loài cá có tập tính sinh sản trên sông vào đầu mùa lũ sẽ không có đủ điều kiện sinh thái để sinh sản. Nguồn cá bột, cá con di cư theo nước lũ về ĐBSCL sẽ giảm sút, v.v. Phương thức khai thác, sử dụng nguồn lợi cá: Trong những thập niên gần đây, hoạt động nghề cá ở ĐBSCL luôn là áp lực đối với nguồn lợi cá, lực lượng khai thác lớn, cường độ khai thác cao, thời gian khai thác liên tục (quanh năm), khai thác ở khắp các loại hình thuỷ vực, ngư cụ khai thác đa dạng về chủng loại, phong phú về số lượng, sử 20 dụng nhiều loại ngư cụ lạc hậu, lạm sát, kích điện; Cùng với sở thích sử dụng các loài cá con, chưa trưởng thành (cá lóc con, cá rô hạt bí), các loài cá đang mang trứng, v.v., đã góp phần không nhỏ làm suy giảm nguồn lợi cá trong tự nhiên. Hiện trạng bảo vệ ĐDSH khu hệ cá ĐBSCL: Cùng với hệ thống văn bản pháp lý (Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản, sách Đỏ Việt Nam, v.v.), Cơ quan quản lý Trung ương và các địa phương ở ĐBSCL, đã thực hiện các giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi cá, như: chương trình thả cá phục hồi nguồn lợi hàng năm, xây dựng các khu Bảo tồn Thủy sản nội địa; Kiểm tra xử phạt những vi phạm trong khai thác cá, các hoạt động khác gây hại nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, cho đến nay tình hình vẫn chưa được cải thiện nhiều. Một trong các giải pháp để tổ chức bảo vệ và khai thác, sử dụng bền vững nguồn lợi cá, đã được lựa chọn và áp dụng cho ngành thủy sản là xây dựng mô hình Đồng quản lý nghề cá. Đây là một hướng đi mới tạo điều kiện để ngư dân tham gia chủ động vào quản lý, bảo vệ, khai thác bền vững tài nguyên thủy sản vì sự phát triển bền vững, hướng đến quản lý nghề cá thích ứng. KẾT QUẢ LỒNG GHÉP XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ GẮN VỚI BẢO TỒN ĐDSH Kết quả xây dựng mô hình ĐQL nghề cá Vùng đất ngập nước Búng Bình Thiên đã được nghiên cứu về hiện trạng Kinh tế - Xã hội, hệ sinh thái, môi trường, tài nguyên đa dạng sinh học và đánh giá, xác định các nhu cầu, năng lực của cộng đồng, các bên có liên quan, để

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftai lieu (8).pdf
Tài liệu liên quan