Bài giảng Tâm lí học nhận thức - Chương 6: Trí nhớ hằng ngày và lỗi trí nhớ - Nhan Thị Lạc An

Kịch bản là một loại giản đồ.

Là quan niệm của chúng ta về những kinh nghiệm thông

thường, là chuỗi những hành động mô tả cho một hành

động nào đó.

Ví dụ: kịch bản của bạn về việc đến trường gồm

(1) đến lớp trước 10 phút khi buổi học bắt đầu (2)Bước vào

lớp và tìm một chỗ ngồi (3) Ghi bài của giảng viên (4) Rời

lớp khi giảng viên kết thức buổi học

 Kịch bản có thể ảnh hưởng đến trí nhớ của chúng ta do

việc đưa ra những mong đợi về những gì xảy ra trong một

tình huống thông thường

Thí nghiệm của Gordon Bower và cs (1979)

Người tham gia nhớ một đoạn văn ngắn sau:

Nha sĩ

Bill có một cái răng bị đau. Nó dường như không ngừng

đau cho đến khi anh ta quyết định đến nha khoa. Bill nhìn

xung quanh vào những áp pích sức khỏe trên tường. Cuối

cùng y tá kiểm tra và chụp X quang cho răng của anh. Anh

ngạc nhiên về những gì nha sĩ làm. Nha sĩ nói với Bill có

một số hốc trong răng. Ngay khi anh đặt một cuộc hẹn

khác, anh rời phòng nha khoa.

pdf45 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 441 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng Tâm lí học nhận thức - Chương 6: Trí nhớ hằng ngày và lỗi trí nhớ - Nhan Thị Lạc An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đó là khoảng thời gian của tuổi trẻ, thời gian của “chúng ta” Con người trở lại khi họ thấy luyến tiếc cho khoảng thời gian tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày Theo giả thuyết nhận thức (Cognitive hypothesis) Chúng ta mã hóa tốt hơn trong giai đoạn có sự thay đổi nhanh, theo sau là sự ổn định. Tuổi thiếu niên và đầu tuổi trưởng thành phù hợp với quan điểm vì có sự thanh đổi nhanh chóng, sau đó là sự ổn định của cuộc sống trưởng thành. Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày 10/22/2017 6 Để chứng minh cho quan điểm này  tìm những người có sự thay đổi nhanh chóng trong cuộc đời xuất hiện khoảng thời gian thanh thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành. Robert Schrauf và David Rubin (1998) đã xác định sự nhớ lại của những người nhập cư vào Mỹ những năm 20 tuổi và giữa 30 tuổi. Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày Đường cong trí nhớ của 2 nhóm nhập cư cho thấy sự hồi tưởng thông thường ở những người nhập cư sớm và dời 15 sau với những người nhập cư trễ hơn. Trí nhớ trong cuộc sống mỗi ngày 10/22/2017 7 Trí nhớ đèn chớp (Flashbuld Memories) Con người có thể nhớ lại nơi mà họ đang ở và họ đang làm gì khi nghe về những sự kiện gây sốc và cảm xúc mạnh gây nên Trí nhớ đèn chớp (Flashbuld Memories) Roger Brown và James Kulick (1977) Brown và Kulick cho rằng có một cơ chế đặc biệt chịu trách nhiệm cho trí nhớ đèn chớp. Nó được nhớ sau thời gian dài không chỉ nhờ vào tình huống có cảm xúc mạnh, nhưng đặc biệt mạnh mẽ và chi tiết. Đặc tính của sự kiện gây nên trí nhớ đèn chớp là nó mang lại kết quả mạnh mẽ  có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của người đó. Quan điểm về cơ chế đặc biệt 10/22/2017 8 Nghiên cứu của Martin Conway và cs (1994) cho thấy những người Anh có trí nhớ chính xác và lâu dài về ngày mà Thủ tướng Anh Margaret Thatcher từ chức (22/10/1990) hơn những người Mỹ. Quan điểm về cơ chế đặc biệt Những người Anh nhớ chính xác về ngày Thatcher từ chức hơn những người Mỹ (Conway và cs, 1994) Quan điểm về cơ chế đặc biệt 10/22/2017 9 Trí nhớ đèn chớp không phải lúc nào cũng liên quan đến cảm xúc mạnh (Talarico & Rubin, 2003). Nhưng cảm xúc mạnh là thành tố tạo thành trí nhớ đèn chớp. Những nghiên cứu sinh lý học cho thấy có sự liên hệ giữa cảm xúc, trí nhớ và cấu trúc não dưới vỏ gọi là hạch hạnh nhân. Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ Stephen Harmann và cs (1999) nghiên cứu mối liên hệ giữa cảm xúc và sinh lý bằng cách đo hoạt động não bằng PET. Họ đưa ra những bức tranh thay đổi cảm xúc của con người như tranh vui vẻ hoặc không vui và tranh trung lập như cảnh gia đình. Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ 10/22/2017 10 Stephen Harmann và cs (1999) cho thấy những bức tranh làm thay đổi cảm xúc gây nên hoạt động mạnh hơn ở hạch hạch nhân hơn ở khu khác. Những bức tranh gây nên hoạt động mạnh ở hạch hạnh nhân thì có khả năng được nhớ hơn về sau (Cahill & cs, 1996) Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ Quan điểm cũng được chứng minh khi kiểm tra một bệnh nhân B.P., có hạch hạnh nhân bị phá hủy. Những người không có tổn thương não và B.P được xem nhanh những hình về đứa bé trai bị mẹ đánh, làm tổn thương  tăng trí nhớ về phần cảm xúc trong câu chuyện. Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ 10/22/2017 11 Kết quả: Những người không có não tổn thương và B.P. nhớ phần đầu câu chuyện như nhau. Nhưng B.P thì không nhớ nhiều hơn ở phần cảm xúc (Cahill và cs, 1995)  Cảm xúc có thể gây ra những cơ chế ở hạch hạnh nhân giúp chúng ta nhớ những sự kiện liên quan đến cảm xúc Cảm xúc mạnh có thể làm tăng trí nhớ Ulric Neisser (2000) cho rằng chúng ta có thể nhớ những sự kiện giống như sự kiện 11/9 nhưng không phải do cơ chế đặc biệt Bởi vì chúng ta cứ nhắc lại sau khi nó xuất hiện.  Giả thuyết nhắc lại tường thuật (narrative rehearsal hypothesis). Việc nhắc đi nhắc lại sự kiện làm cho chúng ta nhớ sự kiện một cách đặc biệt. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt 10/22/2017 12 Nhớ sự kiện đặc biệt mạnh mẽ, nhưng nhớ lại thường không chính xác. Neisser hỏi nhiều người là họ đã nghe tin về vụ nổ tàu không gian Challenger năm 1986 như thế nào (Neisser & Harsch, 1992) Người tham gia điền vào bảng hỏi sau vụ nổ 1 ngày, sau đó thì 2,5 – 3 năm sau. Một người cho biết lần 1 nghe tin đó trong lớp, nhưng 2,5 năm thì họ cho là nghe tin đó khi ngồi cùng bạn xem TV. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt Ngay sau vụ nổ: 21% cho biết họ nghe tin trên TV 2,5 – 3 năm sau: 45% cho biết họ nghe tin trên TV. Tăng trí nhớ liên quan đến TV vì nguồn tin tức chủ yếu là từ TV.  Trí nhớ đèn chớp không chính xác và bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm hằng ngày, kiến thức của chúng ta. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt 10/22/2017 13 Nghiên cứu của Schmolck và cs, 2000 về vụ giết người O.J.Simpson. So sánh câu trả lời gần và sau một thời gian xa hơn  nhiều trả lời vào 32 tháng sau là không chính xác.  Từ những nghiên cứu cho thấy trí nhớ đèn chớp có thể suy yếu giống như trí nhớ bình thường (Schmolck và cs, 2004) Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt Nghiên cứu trên nhóm SV trường ĐH về sự kiện ngày 11/9, hỏi vào ngày 12/9 (Talarico & Rubin, 2003) “Bạn nghe tin đó lần đầu tiên khi nào?” và những câu hỏi tương tự về sự kiện hằng ngày trong cuộc sống trước ngày tấn công 1 ngày. Họ được kiểm tra lại sau 1 tuần, 6 tuần và số khác là 32 tuần. Người tham gia ít nhớ chi tiết và mắc sai lầm vào thời gian dài hơn sau sự kiện. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt 10/22/2017 14 Ít có sự khác biệt kết quả của trí nhớ đèn chớp và trí nhớ hằng ngày  Không có một cơ chế đặc biệt nào cho trí nhớ đèn chớp. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt Có sự khác biệt giữa trí nhớ đèn chớp và trí nhớ hằng ngày. Niềm tin về sự chính xác của trí nhớ đèn chớp sau 32 tuần giảm so với niềm tin về sự chính xác của trí nhớ hằng ngày. Chống lại quan điểm cơ chế đặc biệt 10/22/2017 15 Kết quả có ý nghĩa trong nghiên cứu O.J.Simpson thể hiện trong hình. Sau 32 tháng, nhiều người trả lời dựa trên kinh nghiệm của họ trong quá khứ trong việc nghe những tin tức quan trọng. Lý do con người thường nhớ không chính xác II. TRÍ NHỚ ĐƯỢC TẠO NÊN NHƯ THẾ NÀO? 10/22/2017 16 Trí nhớ = thực tế những gì đang diễn ra + nhân tố khác (sự hiểu biết, kinh nghiệm, mong đợi)  cách tiếp cận kiến tạo (constructive) Trí óc tạo nên trí nhớ dựa trên các nguồn thông tin Thí nghiệm Cuộc chiến của các linh hồn của Bartlett Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ (Constructive approach to memory) Thí nghiệm “Cuộc chiến của các linh hồn” của Bartlett Nhà TLH người Anh Fredrick Bartlett chỉ đạo nghiên cứu cổ điển chứng minh bản chất kiến tạo của trí nhớ. Xuất bản năm 1932. Người tham gia được đọc 1 câu chuyện văn học dân gian của người Canada gốc Ấn. Sau đó họ được yêu cầu nhớ lại câu chuyện. Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ (Constructive approach to memory) 10/22/2017 17 Thí nghiệm “Cuộc chiến của các linh hồn” của Bartlett Kết quả: ▪ Người tham gia quên nhiều thông tin trong câu chuyện. ▪ Sự tái tạo của họ ngắn hơn so với nguyên bản và bỏ sót nhiều chi tiết, không chính xác. ▪ Những kiểu thay đổi xuất hiện có xu hướng phản ánh văn hóa của chính người tham gia. Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ (Constructive approach to memory) Thí nghiệm ở sinh viên khi được yêu cầu nhớ lại điểm thời trung học (Bahrick và cs, 1996) Kiểm tra báo cáo của sv và bảng điểm thời trung học  SV nhớ chính xác điểm A (89%), điểm D (29%). 79/99 sinh viên thổi phồng điểm hơn điểm thực. Nguyên nhân: • Con người có xu hướng nhớ những sự kiện tích cực dễ hơn nhớ sự kiện tiêu cực (Loftus, 1982) • SV tốt nhớ điểm dựa trên dự đoán là hầu hết điểm của họ là A và B  quan điểm kiến tạo về trí nhớ Cách tiếp cận kiến tạo về trí nhớ (Constructive approach to memory) 10/22/2017 18 Nguồn kiểm tra là quá trình chúng ta xác định trí nhớ gốc, kiến thức và niềm tin (M.K.Johnson và cs, 1993). Ví dụ: Mai bất ngờ gặp một người mà cô gặp gần đây. Cô nhớ tên anh ta mà Minh, nhưng không thể nhớ lần đầu tiên gặp anh ta là khi nào. Mai đã tìm lời giải từ nguồn kiểm tra bằng cách xác định gặp anh ta lần đầu tiên khi nào. Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết (Source Monitoring and Source Misattribution) Nguồn kiểm tra  chứng minh về bản chất kiến tạo của trí nhớ. Chúng ta thường khôi phục trí nhớ đầu tiên và sau đó sử dụng quá trình quyết định để xác định trí nhớ đến từ đâu (Mitchell & Johnson, 2000). Đôi lúc chúng ta mắc sai lầm dẫn đến nguồn quy kết Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết (Source Monitoring and Source Misattribution) 10/22/2017 19 Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989) Phần thu nhận: người tham gia đọc một số tên không nổi tiếng (Sebastian Weissdorf, Valerie Marsh) Kiểm tra tức thì: phân biệt danh sách gồm: (1) Tên người không nổi tiếng mà họ đã đọc (2) Tên mới của người không nổi tiếng mà họ chưa thấy trước đó (3) Tên của người nổi tiếng (hầu hết đều biết vào 1988) Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết (Source Monitoring and Source Misattribution) Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết (Source Monitoring and Source Misattribution) Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989) Kiểm tra tức thì:  họ nhận diện chính xác hầu hết những tên không nổi tiếng cũ 10/22/2017 20 Thí nghiệm của Larry Jacoby và cs (1989) Kiểm tra trì hoãn: thực hiện sau 24h. Kiểm tra với những tên tương tự  người tham gia có khả năng nhận ra những tên cũ không nổi tiếng thành nổi tiếng. Ví dụ: Tên Sebastian Weissdorf là tên không nổi tiếng ở phần kiểm tra tức thì  nổi tiếng trong kiểm tra trì hoãn.  “Trở nên nổi tiếng chỉ sau 1 đêm”  Tên nghe quen thuộc vì họ đã thấy 24h trước hoặc đó là người nổi tiếng. Nguồn kiểm tra và nguồn quy kết (Source Monitoring and Source Misattribution) III. SỰ HIỂU BIẾT VỀ NHỮNG KINH NGHIỆM TRONG QUÁ KHỨ GÂY RA LỖI TRÍ NHỚ 10/22/2017 21 Thí nghiệm của John Bransford và Marcia Johnson (1973) ▪ Người tham gia đọc một số câu chỉ hành động ▪ Nhóm thí nghiệm: John đang cố sửa cái nhà chim câu. Anh ta đập vào móng tay khi cha anh đến xem và giúp anh ta làm việc (John was trying to fix the birdhouse. He was pounding the nail when his father came out to watch him and help him do the work) ▪ Nhóm đối chứng: John đang cố sửa cái nhà chim câu. Anh tìm cái đinh khi cha anh ta đến xem và giúp anh làm việc (John was trying to fix the birdhouse. He was looking for the nail when his father came out to watch him and help him do the work) 3.1 Tạo ra suy luận Thí nghiệm của John Bransford và Marcia Johnson (1973) Kiểm tra: Đưa ra một số câu mà họ chưa từng thấy trước đó, yêu cầu họ cho biết liệu họ đã từng đọc nó trước đây chưa. Ví dụ: Nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng đều xem câu sau: John dùng búa sửa nhà của chim câu khi cha anh đến xem và giúp anh làm việc. John was using a hammer to fix the birdhouse when his father came out to watch him and help him do the work. 3.1 Tạo ra suy luận 10/22/2017 22 Thí nghiệm của John Bransford và Marcia Johnson (1973) Kết quả: + Nhóm thí nghiệm có khả năng bị sai hơn so với nhóm đối chứng + Câu nguyên thủy không có từ “búa” nhưng chúng ta thường nghĩ rằng đập móng tay là do búa  suy luận của người tham gia  nhớ sai 3.1 Tạo ra suy luận Nghiên cứu chỉ ra rằng trí nhớ bị ảnh hưởng bởi giản đồ. Giản đồ là sự hiểu biết của 1 người về những khía cạnh của môi trường. Người tham gia được ngồi trong 1 phòng chờ trước khi làm thí nghiệm 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) 10/22/2017 23 Sau đó họ được gọi vào một phòng khác, họ được cho biết là thí nghiệm trí nhớ. Yêu cầu họ viết xuống những gì họ thấy trong khi họ ngồi trong văn phòng (Brewer & Treyens, 1981) Họ viết xuống những gì họ nhớ đã thấy, nhưng cũng gồm những gì không có trong phòng nhưng phù hợp với “giản đồ văn phòng” Ví dụ: sách. Có 30% người tham gia cho viết họ có thấy sách. 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) Kịch bản là một loại giản đồ. Là quan niệm của chúng ta về những kinh nghiệm thông thường, là chuỗi những hành động mô tả cho một hành động nào đó. Ví dụ: kịch bản của bạn về việc đến trường gồm (1) đến lớp trước 10 phút khi buổi học bắt đầu (2)Bước vào lớp và tìm một chỗ ngồi (3) Ghi bài của giảng viên (4) Rời lớp khi giảng viên kết thức buổi học  Kịch bản có thể ảnh hưởng đến trí nhớ của chúng ta do việc đưa ra những mong đợi về những gì xảy ra trong một tình huống thông thường 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) 10/22/2017 24 Thí nghiệm của Gordon Bower và cs (1979) Người tham gia nhớ một đoạn văn ngắn sau: Nha sĩ Bill có một cái răng bị đau. Nó dường như không ngừng đau cho đến khi anh ta quyết định đến nha khoa. Bill nhìn xung quanh vào những áp pích sức khỏe trên tường. Cuối cùng y tá kiểm tra và chụp X quang cho răng của anh. Anh ngạc nhiên về những gì nha sĩ làm. Nha sĩ nói với Bill có một số hốc trong răng. Ngay khi anh đặt một cuộc hẹn khác, anh rời phòng nha khoa. 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) Thí nghiệm của Gordon Bower và cs (1979) Người tham gia được đọc 1 số đoạn văn giống như vậy (đi gặp nha sĩ, đi bơi, đi dự tiệc). Sau thời gian trì hoãn  họ được yêu cầu đặt tựa đề cho câu chuyện họ đã đọc, viết xuống những gì họ nhớ về mỗi câu chuyện. Kết quả: họ tạo nên những câu chuyện có những chi tiết hợp với câu chuyện ban đầu, nhưng những chi tiết không có nhưng là một phần của kịch bản cho hành động được mô tả. 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) 10/22/2017 25 Kết quả của những thí nghiệm còn chỉ ra kiến thức có thể ảnh hưởng đến trí nhớ, trí nhớ ngữ nghĩa ảnh hưởng đến nhớ tình tiết. Nhớ ngữ nghĩa: sự hiểu biết về những gì thường có trong văn phòng làm việc, búa thì làm giập ngón tay, liên quan đến khi đi gặp nha sĩ Nhớ tình tiết: nhớ 1 câu chuyện hoặc nhớ cái gì có trong văn phòng mà bạn đã thấy gần đây. 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) Thí nghiệm sau cho thấy kiến thức con người về thế giới gây ra lỗi trí nhớ tình tiết, sự tương tác giữa trí nhớ tình tiết và nhớ ngữ nghĩa. Người tham gia đọc 1 danh sách từ, 1từ/ giây, viết xuống những từ họ nhớ 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) 10/22/2017 26 Những người tham gia cho biết họ nhớ có từ “ngủ”. Nhớ từ “ngủ” là lỗi trí nhớ  xuất hiện bởi vì chúng ta liên hệ từ “ngủ” trong danh sách từ trên (Deese, 1959; Roediger & McDermott, 1995)  quá trình kiến tạo về trí nhớ. 3.2 Giản đồ và kịch bản (Schemas and Scripts) TRÍ NHỚ KHÔNG PHẢI LÀ CUỘN BẰNG GHI HÌNH 10/22/2017 27 Trí nhớ không phải là cuộn băng phát lại những gì chúng ta đã trãi qua Trí nhớ thường không “copy” đầy đủ tất cả những gì đang diễn ra. Trí nhớ = thông tin đi vào + những nhân tố khác  trí nhớ bị bóp méo Trí nhớ không phải là cuộn băng ghi hình Chúng ta sẽ ra sao nếu có hệ thống trí nhớ luôn “ghi” và “phát lại” mọi thứ? Một người tên Shereshvskii (S) có trí nhớ có thể nhớ chính xác những từ trong 1 cuộc đối thoại mà anh thực hiện trước đây. Nhà TLH người Nga, A.R.Luria (1975) kết luận S có một trí nhớ “hầu như vô hạn” Trí nhớ của S gây cho cuộc sống của anh có nhiều khó khăn. Tại sao nó làm việc như vậy? 10/22/2017 28 Anh không thể quên những gì anh không cần đến. Anh không có khả năng đưa ra suy luận hoặc “điền vào chỗ trống” dựa trên thông tin một phần. Tại sao nó làm việc như vậy? Trí óc của S hoạt động thiếu hiệu quả vì mọi thứ ập vào cơ quan nhận cảm làm hệ thống trở nên quá tải. Để tránh quá tải, hệ thống trí nhớ của chúng ta được thiết kế để lựa chọn nhớ những thứ quan trọng cho chúng ta hoặc xuất hiện thường xuyên trong môi trường (Anderson & Schooler, 1991) Tại sao nó làm việc như vậy? 10/22/2017 29 Trí nhớ nhiều lỗi hơn là hữu ích Trí nhớ hữu ích rõ ràng cho việc tồn tại của con người (mặc dù nó có nhiều lỗi) Hệ thống trí nhớ của chúng ta làm việc như hệ thống tri giác. Mặc dù nó không cho câu trả lời chính xác mọi lúc, nhưng nó thường cung cấp những gì chúng ta cần biết một cách nhanh chóng và hiệu nghiệm, khi chúng ta không có thông tin đầy đủ. Sự hữu dụng của trí nhớ TRÍ NHỚ CÓ THỂ THAY ĐỔI HOẶC ĐƯỢC TẠO NÊN TỪ SỰ ÁM THỊ 10/22/2017 30 Nếu khi người làm thí nghiệm thêm thông tin sau đó thì sao? Ảnh hưởng thông tin sai lệch - thông tin gây hiểu lầm xuất hiện sau khi một người chứng kiến một sự kiện có thể thay đổi như thế nào việc con người mô tả những sự kiện sau đó. Một loạt những thí nghiệm tiên phong thiết lập ảnh hưởng thông tin sai lệch do Elizabeth Loftus và cộng sự thực hiện. Thông tin gây hiểu lầm (misleading posevent information) là MPI. Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) Người tham gia xem một loạt những hình chiếu mô tả một tai nạn giao thông mà một ôtô chạy qua bảng dừng lại và tung vào một ôtô khác. Một vài người tham gia sau đó nghe mô tả chính xác về sự kiện. Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) 10/22/2017 31 Một nhóm khác nghe thông tin sự kiện sai lệch (MPI) là bảng ở đường giao nhau là bảng nhường đường (hơn là một bảng dừng lại mà người tham gia thực sự thấy). Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) Sau đó, người tham gia thực hiện một bài test về những chi tiết bình phẩm trong câu chuyện. Ví dụ: Cho biết họ thấy bảng dừng lại hoặc bảng nhường đường ở đường giao nhau? Ảnh hưởng thông tin sai lệch được chứng minh bằng thực tế là trong nhóm MPI có khả năng chọn bảng nhường đường hơn những người tham gia mà không được đưa ra MPI (Loftus và cs, 1978). Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) 10/22/2017 32 Sự xuất hiện của MPI có thể thay đổi kết luận của họ về đặc tính của tình huống. Trong một thí nghiệm khác (Loftus & Palmer, 1974) Người tham gia mà được cho xem những trình chiếu ôtô đâm nhau thì được hỏi: (1) Cái xem chạy nhanh như thế nào khi nó đâm mạnh (smash) vào một chiếc khác? (2) Cái xe chạy nhanh như thế nào khi nó va (hit) vào chiếc khác?. Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) Ước lượng tốc độ trung bình bởi những người nghe về từ “đâm mạnh” là 65km/h Ước lượng của nhóm nghe từ “va” là 54 km/h. “Có cái kính nào bị vỡ không?” (hỏi 1 tuần sau khi họ được xem hình chiếu) 32 % người tham gia mà nghe “đâm mạnh” trước khi ước lượng tốc độ cho biết có thấy kính bị vỡ 14% người tham gia nghe “va” báo cáo thấy kính bị vỡ. Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) 10/22/2017 33 “Điều gì xảy ra trong trí nhớ của người tham gia”? Những nhà nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những câu trả lời khác nhau. Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) Loftus giải thích ảnh hưởng thông tin sai lệch bằng cách đưa ra giả thuyết trí nhớ sa sút (memory impairment hyphothesis) MPI làm suy yếu hoặc thay thế trí nhớ hình thành trong khi kinh nghiệm 1 sự kiện lần đầu tiên. Thấy bảng dừng lại  vết tích về bảng dừng lại, MPI (bảng nhường đường) thay đổi trí nhớ  trí nhớ về bảng dừng lại bị làm suy yếu đi. Giả thuyết trí nhớ sa sút 10/22/2017 34 Theo Micheal McCloskey và Maria Zaragoza (1985): Ảnh hưởng thông tin sai lệch xuất hiện gây cho người tham gia không hình thành trí nhớ chính xác trong lần đầu tiên Họ dùng MPI để “điền vào” lỗ hổng trí nhớ đó. Thí nghiệm về mù thay đổi không có khả năng nhận ra khi có thay đổi trong một bức tranh về cảnh môi trường Mù thay đổi Nhiều cuộc tranh luận sôi động diễn ra. Không có gì nghi ngờ là ảnh hưởng này là thật Những ám thị của người làm thí nghiệm có thể ảnh hưởng báo cáo của người tham gia trong các thí nghiệm về trí nhớ. Có những bằng chứng cho thấy ám thị có thể gây cho con người tin và những sự kiện xuất hiện ban đầu trong cuộc sống của họ (thực tế không có) Ảnh hưởng thông tin sai lệch (The Misinformation effect) 10/22/2017 35 Ira Hyman và cs (1995) tạo nên trí nhớ sai về một sự kiện rất lâu trong một thí nghiệm. Họ yêu cầu gia đình cung cấp những sự kiện thực tế đã xảy ra khi người tham gia còn nhỏ. Người làm thí nghiệm sau đó cũng tạo sự kiện sau mà không bao giờ xảy ra (một tiệc sinh nhật mà có anh hề và bánh pizza, làm đổ một ly rượu ở quầy tiếp tân trong lễ cưới) Người tham gia được cho một vài thông tin từ sự mô tả của gia đình và nói thêm về nó. Tạo nên trí nhớ sai về những sự kiện trong quá khứ của con người Họ cũng được cho những thông tin về sự kiện sai và nói thêm về nó. Kết quả là 20% sự kiện sai được “nhớ lại” và một vài chi tiết được người tham gia mô tả. Nghe về sự kiện và sau đó chờ đợi gây nên nhiều sự kiện không đúng xuất hiện  nhớ sai. Tạo nên trí nhớ sai về những sự kiện trong quá khứ của con người 10/22/2017 36 Susan DuBreuil và cs (1998) nói với người tham gia rằng họ có một tiểu sử cá nhân Họ cũng được nói rằng trí nhớ là đó cố định, chỉ có vấn đề về việc lấy nó ra khỏi kho. Sau khi nhận được thông tin, những người tham gia được kể rằng “khoảng thời gian họ sinh ra, tại những bệnh viện của Mỹ, do ảnh hưởng của nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thích thị giác ban đầu nên họ bắt đầu treo những cái đồ chơi di động trên nôi em bé”. Tạo nên trí nhớ sai về những sự kiện trong quá khứ của con người Người tham gia sau đó được thôi miên, và được chỉ dẫn đi đến nơi mà họ sinh ra 1 ngày và nằm trên nôi Họ được yêu cầu mô tả những gì họ đã kinh nghiệm. 61% ứng viên cho viết họ thấy đồ chơi di động hoặc mô tả những gì liên quan đến đặc tính chung của đồ chơi di động 1/3 trong số họ tin rằng báo cáo của họ là hầu như chắc chắn hoặc chắc chắn là trí nhớ thật (DuBreuil và cs, 1998). Tạo nên trí nhớ sai về những sự kiện trong quá khứ của con người 10/22/2017 37 TẠI SAO CON NGƯỜI MẮC SAI LẦM TRONG LỜI LÀM CHỨNG Nhân chứng – người đưa ra những lời chứng về tội ác mà anh ta hay cô ta thấy. Có một số những trường hợp người vô tội bị bỏ tù dựa trên những nhận dạng sai lầm của nhân chứng. Họ có thể nhận dạng sai vì một số lý do – những khó khăn trong việc nhận ra khuôn mặt người nào đó, nhớ những gì chúng ta đã nhận được. 10/22/2017 38 Người làm thí nghiệm cho người tham gia xem một cuốn băng an ninh, 1 người có súng xuất hiện trong 8s. Sau đó họ được yêu cầu chọn người có súng trong các tấm hình. Kết quả: người tham gia đều chọn ai đó mà họ nghĩ là họ có súng (thậm chí thủ phạm không có trong xấp hình) (Wells & Bradfield, 1998). Nghiên cứu khác cho thấy có 61% người tham gia chọn một người nào đó từ xấp hình (thủ phạm không có trong đó) (Kneller và cs, 2001). Sai lầm của việc xác định nhân chứng  Nghiên cứu cho thấy có nhiều khó khăn khi phải nhận diện chính xác ai đó khi xem một cuốn băng phạm tội.  Mọi thứ sẽ trở nên phức tạp hơn trong một cảnh phạm tội thực sự Sai lầm của việc xác định nhân chứng 10/22/2017 39 Nhận dạng khuôn mặt là một nhiệm vụ khó khăn và có mắc nhiều lỗi (Henderson và cs, 2001). Nhiều nhân tố làm cho thực hiện nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn: cảm xúc dâng cao, hành động chớp nhoáng, tiếng súng nổ  Ảnh hưởng đến những gì người ta chú ý và những gì con người nhớ về sau. Cảnh phạm tội và thời gian sau đó Tập trung vào vũ khí (weapons focus) có thể ảnh hưởng trí nhớ về những thứ khác. Claudia Stanny và Thomas Johnson (2000) cho thấy người tham gia có khả năng nhớ tốt chi tiết thủ phạm, nạn nhân và vũ khí trong điều kiện “không nổ súng” so với điều kiện “nổ súng”.  Súng nổ làm sao nhãng sự chú ý vào những thứ khác đang diễn ra. Sai lầm do xuất hiện vũ khí 10/22/2017 40 Sai lầm do xuất hiện vũ khí Trường hợp của Donald Thompson, nhà nghiên cứu tâm lý đang nói chuyện về nhầm lẫn của trí nhớ trên chương trình TV ngay thời điểm mà một người phụ nữ bị tấn công tại nhà cô ta. Về sau cô ám chỉ rằng Thompson là người đã cưỡng hiếp cô, dựa trên trí nhớ của cô về khuôn mặt của ông ta. (Schacter, 2001). Sai lầm do sự quen thuộc 10/22/2017 41 Người bán vé ở trạm xe lửa bị cướp. Ông ta nhận dạng một lính thủy là tên cướp. Anh lính này có chứng cứ ngoại phạm khi vụ cướp xảy ra. Người bán vé nói rằng anh ta trông quen quen. Lý do anh ta trông quen vì anh ta sống gần trạm xe lửa và mua vé xe lửa từ trạm này trong một vài lần. Người lính thủy, vì thế, bị biến đổi, thành nguồn quy kết, từ người mua vé thành kẻ cướp đường (Ross và cs, 1994) Sai lầm do sự quen thuộc Thí nghiệm dựa trên sự quen thuộc và lời làm chứng của nhân chứng (Ross và cs, 1994). Sai lầm do sự quen thuộc Trong các tấm hình không có tên cướp, nhưng có thầy giáo, có những điểm giống với kẻ cướp 10/22/2017 42 Nhóm TN chọn thầy giáo cao gấp 3 lần so với nhóm ĐC Sai lầm do sự quen thuộc 18% chọn thầy giáo ở nhóm TN 10% chọn thầy giáo ở nhóm ĐC Sai lầm do sự quen thuộc 10/22/2017 43 Ảnh hưởng thông tin sai lệch: “Anh có thấy cái xe màu trắng”  ảnh hưởng đến lời

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbai_giang_tam_li_hoc_nhan_thuc_chuong_6_tri_nho_hang_ngay_va.pdf