Đề tài Lý luận về lạm phát và vận dụng lý luận đó ở Việt Nam

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT. 2

1.1. Khái niệm, đo lường và phân loại lạm phát. 2

1.1.1. C¸c kh¸i niÖm: 2

1.1.2. Đo lường lạm phát. 3

1.1.3. Ph©n lo¹i l¹m ph¸t: 3

1.2. Nguyên nhân lạm phát 4

1.2.1.Lạm phát theo thuyết Keynes( lạm phát cầu kéo) 4

1.2.2. Lạm phát do chi phí dẩy 5

1.2.3. Lạm phát ỳ 6

1.2.4. Tiền tệ và lạm phát 6

1.3. Những tổn thất xã hội của lạm phát. 7

1.3.1. Đối với lạm phát được dự tính trước. 7

1.3.2. Đối với lạm phát không dự tính trước. 8

2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM. 8

3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM. 11

3.1. Các biện pháp kinh tế chung 11

3.2. Củng cố các yếu tố tài chính 12

3.3. Điều chỉnh yếu tố tiền tệ. 12

3.4. Nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng. 12

3.5. Kiểm soát giá cả và điều chỉnh tiền lương 13

3.6. Hoàn thiện cơ chế, luật pháp. 13

3.7. Gây dựng lòng tin vào đồng nội tệ. 14

3.8. Đấu tranh với những thành phần kinh tế “ngầm”. 14

KÕt luËn 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

 

 

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 2872 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Lý luận về lạm phát và vận dụng lý luận đó ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giá cả của hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh. Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ. Trong bối cảnh lạm phát, thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói cách khác, khi có lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định. Một điều quan trọng nữa mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như giá cả chỉ đột ngột tăng lên rồi lại trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát. Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát. 1.1.2. Đo lường lạm phát. Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kì nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát cho thời kì t được tính theo công thức sau: Πt =(Pt – Pt-1 / Pt-1) * 100% Trong đó: Πt : tỷ lệ lạm phát của thời kì t (có thể là tháng, quý hoặc năm). Pt : Mức giá của thời kì t Pt-1 : Mức giá của thời kì trước đó Người ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá chung. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống thì chỉ số giá tiêu dùng thích hợp hơn. Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát thường được tính trên cơ sở CPI. 1.1.3. Ph©n lo¹i l¹m ph¸t: Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. - Phân loại lạm phát theo tỷ lệ lạm phát: Theo tiêu thức này, các nhà kinh tế thường phân biệt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát. - Lạm phát vừa phải: Được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán trước được. Đối với cá nước đang phát triển lạm phát một con số thường được coi là lạm phát vừa phải. Đó là mức lạm phát bình thường mà nền kinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế. - Lạm phát phi mã: Lạm phát trong phạm vi hai hoặc ba con số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách. - Siêu lạm phát: là trường hợp lạm phát đặc biệt cao. Định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế học người Mĩ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên. Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách quá lớn. Hơn nữa, lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần trăm so với GDP mà điều này đến lượt nó làm tăng thâm hụt ngân sách và dẫn đến lạm phát cao hơn. -Phân loại lạm phát theo tính chất: Theo tính chất của lạm phát người ta phân biệt được lạm phát được dự tính trước và lạm phát không được dự tính trước. -Lạm phát được dự tính trước: là lạm phát xảy ra đúng như dự tính từ trước của các tác nhân kinh tế. Trong trường hợp này, mọi khoản vay cũng như hợp đồng về cá biến danh nghĩa đã được điều chỉnh phù hợp với lạm phát. -Lạm phát không được dự tính trước: là lạm phát xảy ra bất ngờ ngoài dự tính từ trước của các tác nhân kinh tế. Lạm phát bất ngờ phân phối lại của cải và thu nhập giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực, cống hiến và nhu cầu của họ. 1.2. Nguyên nhân lạm phát 1.2.1. Lạm phát theo thuyết Keynes( lạm phát cầu kéo) Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt mức tự nhiên. Theo lí thuyết này, nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất. Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư. Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại. Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư cà do đó đẩy giá cả tăng lên. Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ từ sự gia tăng quá mức trong những nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng. Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các chương trình đầu tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm. Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu. Khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước. Ngoài ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ tỉ giá hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng. Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu trì trệ và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực rơi vào một cuộc suy thoái. 1.2.2. Lạm phát do chi phí dẩy Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo hướng bất lợi: sản lượng giảm, thất nghiệp và lạm phát tăng. Ba loại chi phí có thể gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu. Khi công doàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện. Vòng xoáy đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mở rộng tiền tệ. Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát. Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng vì chúng tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa. Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỉ lệ thuế trực thu cao, chúng ta có thể nhận định rằng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn thu từ thuế, thì thay đổi thuế gián thu dường như có tác động mạnh hơn tới lạm phát. Đối với nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên liệu, cấu kiện cần thiết mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá cả của chúng (có thế do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước. Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm mạnh giá trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ. Những yếu tố trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra tác động tổng hợp, làm cho lạm phát gia tăng với tốc độ cao (lạm phát cao) và rất cao (siêu lạm phát). Nếu chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua các chính sách thích nghi, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được. 1.2.3. Lạm phát ỳ Trong các nền kinh tế hiện đại trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu hướng ổn định theo thời gian. Hàng năm mức giá tăng lên theo một tỉ lệ khá ổn định. Tỉ lệ lạm phát này được gọi là tỉ lệ lạm phát ỳ. Chúng ta có thể coi đó là tỉ lệ lạm phát cân bằng trong ngắn hạn và nó sẽ được duy trì cho đến khi có các cú sốc tác động đến nền kinh tế. 1.2.4. Tiền tệ và lạm phát Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát. Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệ là luận điềm cho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượng tiền tệ. Họ đã chỉ ra mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát: “ Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ... và nó chỉ xảy ra khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng.” Kết luận này dựa trên hai điều: Thứ nhất, các nhà tiền tệ cho rằng lạm phát gây ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung, và nguyên nhân của sự dư thừa này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông. Nếu cách giải thích này đúng về mặt lịch sử, thì nó khẳng định rằng lạm phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ không phải từ phía cung. Thứ hai, giả sử rằng mối quan hệ nhân quả bắt nguồn từ tác động của cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải giá cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng. Trong mô hình tổng cầu- tổng cung, sự gia tăng cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu làm cho mức giá tăng do đương tổng cung thẳng đứng trong dài hạn. 1.3. Những tổn thất xã hội của lạm phát. 1.3.1. Đối với lạm phát được dự tính trước. Thứ nhất, lạm phát hoạt động giống như một loại thuế đánh vào những người giữ tiền được gọi là thuế lạm phát. Lượng tiền được cung ứng nhiều hơn thường gây ra lạm phát và do đó làm giảm giá trị của những đồng tiền đang lưu hành. Giống như các loại thuế khác, thuế lạm phát cũng gây ra tổn thất cho xã hội bởi vì mọi người lãng phí nguồn lực để tìm cách tránh thuế. Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa, do đó làm giảm nhu cầu về tiền. Nếu bình quân mọi người giữ ít tiền hơn họ sẽ đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền. Sự bất tiện của việc giữ ít tiền hơn tạo nên chi phí mòn giày- đó la thời gian và sự tiện lợi mà bạn phải hi sinh để giữ ít tiền hơn- cái mà bạn không phải trả khi không có lạm phát. Thứ hai, lạm phát gây nên chi phí thực đơn. Đó là những chi phí phát sinh do các doanh nghiệp có thể phải gửi catalogue mới cho khách hàng, phân phối bảng giá mới cho nhân viên bán hàng của mình. Việc này đôi khi cũng gây ra tốn kém. Thứ ba, lạm phát cũng có thể gây ra những thay đổi không mong muốn trong giá tương đối. Giả sử một doanh nghiệp có phát hành catalogue chỉ thay đổi giá cả mỗi năm một lần do các chi phí phát sinh liên quan đến việc in và phân phối catalogue, và giả sử các doanh nghiệp khác thay đổi giá cả thường xuyên hơn. Nếu trong năm các doanh nghiệp khác tăng giá bán cho các sản phẩm của họ, thì giá tương đối của sản phẩm do doanh nghiệp phát hành catalogue sẽ giảm. Trong chừng mực mà lạm phát gây ra sự thay đổi giá cả không đều và do đó làm méo mó giá tương đối, thì sức mạnh của thị trường tự do sẽ bị hạn chế, nội dung truyền đạt thông tin của giá cả sẽ bị thay đổi. Thứ tư, lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân thường trái với ý định của những người làm luật. Trên thực tế, luật thuế thường không tính đến tác động của lạm phát, và do vậy khi thu nhập danh nghĩa tăng, mọi người sẽ nộp mức thuế cao hơn, ngay cả khi thu nhập thực tế của họ không thay đổi và do vậy làm giảm thu nhập khả dụng của họ. Lạm phát ảnh hưởng chủ yếu đén hai loại thuế đánh vào thu nhập từ tiết kiệm: tiền lãi vốn và tiền lãi danh nghĩa. Cuối cùng, lạm phát gây ra sự nhầm lẫn và bất tiện. Như ta biết, tiền là thước đo mà chúng ta sử dụng để đo lường các giao dịch kinh tế, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là bảo đảm tính tin cậy của đơn vị đo lường này. Khi Ngân hàng Nhà nước tăng lượng tiền cung ứng và gây ra lạm phát. Nó làm méo mó giá trị thực tế của tiền. 1.3.2. Đối với lạm phát không dự tính trước. Khi lạm phát xảy ra bất ngờ ngoài dự tính từ trước của các tác nhân kinh tế. Lạm phát bất ngờ phân phối lại thu nhập và của cải giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực, cống hiến và nhu cầu của họ. Lạm phát không dự tính truớc còn gây tổn thất cho những người nhận thu nhập danh nghĩa cố định hoặc có thu nhập danh nghĩa chậm được điều chỉnh theo lạm phát. Trên thực tế, lạm phát cao thường có xu hướng biến động mạnh và khó dự đoán trước, gây ra những bất định cho các hoạt động tiết kiệm và đầu tư, và do đó không có lợi cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. 2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM. Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lí kinh tế vĩ mô là việc kiềm chế lạm phát. Thực ra, từ năm 1980 lạm phát cũng đã tồn tại nhưng biểu hiện của nó không công khai, các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội V về trước không sử dụng khái niệm lạm phát mà chỉ dùng cụm từ “ chênh lệch giữa thu và chi, giữa hàng và tiền...”, “ thị trường vật giá không ổn định”. Lạm phát ở thời kì này là “lạm phát ngầm” nhưng chỉ số giá cả ở thị trường tự do thì tăng cao, vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng cũng như thu nhập quốc dân. Sau một thời kì “ủ bệnh” đã bộc phát thành lạm phát công khai với mức lạm phát phi mã. Đảng đã kịp thời nhân định tình hình này: “ Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu. Việc sử dụng vốn vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách, là nguyên nhân gây ra lạm phát trầm trọng”. Vào năm 1986 tỉ lệ lạm phát ở nước ta lên tới 700%/năm. Sau đó, nhờ những chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ của chính phủ mà tỉ lệ lạm phát đã giảm xuống còn 34.7%/ năm vào năm 1989. Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, như tự do hóa nền kinh tế, áp dụng một tỉ giá hối đoái thực tế hơn, người dân không còn tồn trữ hàng hóa, đôla, vàng, mà bắt đầu tích lũy bằng đồng tiền trong nước, xuất khẩu dầu thô ngày càng tăng. Tuy nhiên những tiến bộ vượt bậc trong năm 1999 đã không được củng cố ngay bằng các chính sách tiền tệ cà tài khoản thận trọng đó, do đó trong các năm 1990, 1991 tỉ lệ lạm phát đã lên tới hơn 67%/năm. Trong giai đoạn sau, những cải cách, đổi mới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các biện pháp trong quản lí kinh tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam, lạm phát đã dần dần được kiểm soát một cách có hiệu quả. Đặc biệt vào năm 1997, khi khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thì ở Việt Nam, lạm phát ở mức 3.6%. Nhưng đến năm 1999, 2000, lạm phát ở nước ta lại xảy ra ở mức thấp và xảy ra hiện tượng thiểu phát: vào năm 1999, tỉ lệ lạm phát là 0.1% và năm 2000 là -0.6%. Nguyên nhân chính là do lượng tiền cung ứng giảm, tỉ trọng tiền trong lưu thông giảm, tiền gửi có kì hạn tăng. Ngoài ra, bắt đầu từ ngày 1/1/1999, Chính phủ áp dụng 2 luật thuế mới là Thuế giá trị gia tăng và Thuế thu nhập; bên cạnh việc tăng thuế chính phủ còn phát hành công trái làm giảm sức mua của người dân; việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ không nhạy bén; do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực làm sức mua giảm sút, đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh. Bước sang các năm tiếp theo, lạm phát ở nước ta vẫn ở tỉ lệ thấp (2001:0.8%, 2002:4%, 2003:3%) nguyên nhân chính là do sự đổi mới về khoa học kĩ thuật trong sản xuất khiến cho giá thành sản phấm hạ. làm cho mức giá chung giảm xuống; dịch SARS bùng nổ gây thiệt hại đáng kể cho ngành du lịch; sức mua xã hội tăng chậm; thu Ngân sách gặp nhiều khó khăn trong khi chi Ngân sách không đảm bảo như dự kiến. Nếu như ở giai đoạn trên lạm phát xảy ra với tỉ lệ thấp thì vào giai đoạn 2004,2005 lạm phát lại ở mức cao ( 2004: 9.5%, 2005: 8.4% ). Lạm phát cao là do nhiều nguyên nhân: + Giá các mặt hàng lương thực và thực phẩm tăng cao do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng. Mặt khác giá thành sản xuất các mặt hàng lương thực cũng tăng lên. Đặc biệt là giá thóc gạo xuất khẩu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long tăng khá bởi nhu cầu thu mua lúa gạo cho xuất khẩu. Do ảnh hưởng cơn bão số 7 ở các tỉnh phía Bắc, lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long, mưa lũ tại các tỉnh miền Trung trong các tháng 10,11 và tháng 12-2005. Bởi vậy đã làm cho giá lương thực trong năm 2005 tăng tới 7,8%. Tuy nhiên vẫn thấp hơn mức tăng 14,3% của mặt hàng lương thực trong năm 2004. Diện tích đất đai sản xuất lương thực có xu hướng giảm. Dịch cúm gia cầm xảy ra ở diện rộng. Nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng ( xi-măng, sắt thép) cũng tăng giá, trong năm 2005 nhóm này đã tăng giá lên 9.8%. Ngoài ra, nhóm hàng phương tiện đi lại cũng tăng đáng kể do giá bán lẻ xăng dầu trong nước tăng cao do ảnh hương bất ổn của giá dầu trên thế giới. + Do chính sách tiền lương của Nhà nước: trong giai đoạn 2004- 2005, nhà nước vẫn tiếp tục điều chỉnh mức lương cơ bản theo hương tăng lên ( 2003, mức lương cơ bản là 290.000đ/tháng; 2005 mức lương cơ bản là 350.000đ/tháng, dự kiến 2006, mức lương cơ bản sẽ là 400.000đ/tháng ). Điều này làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất, làm giá cả hàng hóa tăng cao khiến cho lạm phát tăng. Ngoài ra lạm phát tăng còn do những cơn sốt tăng giá giả tạo do tâm lí gây nên. Vào năm 2006, trong tháng 2 chỉ số CPI tăng 2,1%, gần gấp đôi tháng 1, nhưng vẫn thấp hơn dự báo 2.5-3% do nhóm hàng lương thực, thực phẩm vẫn là nhóm tăng giá cao nhất, đẩy các mặt hàng khác tăng giá theo- do nhu cầu tiêu dùng tết của người dân Cụ thể, mức tăng giá của nhóm hàng lương thực – thực phẩm vẫn đứng đầu trong 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ dùng để tính CPI. Nhóm hàng này có mức tăng cao nhất trong những năm gần đây là 3,2%; trong đó nhóm hàng thực phẩm tăng tới 3,7%, giá nhóm lương thực tăng 1,7%.  Tiếp theo là nhóm hàng văn hóa, thể thao, giải trí có mức tăng 1,9%; nhóm hàng đồ dùng, dịch vụ khác với mức tăng 1,7%. Các nhóm hàng đồ uống, thuốc lá tăng 1,5%; các loại đồ dùng giày, dép, quần áo cùng nhóm phương tiện đi lại và bưu điện cùng có mức tăng giá là 0,8%, nhóm hàng thiết bị gia đình tăng 0,6%, dược phẩm và y tế tăng 0,5%, nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 0,1%. Tuy nhiên sang tháng 3 thì có hiện tượng lạm phát giảm và xu hướng là có thể giảm trong các tháng tới do nhu cầu sau Tết trở lại bình thường. 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM. Từ thực trạng, những tác hại và nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam chúng ta có thể thấy chống lạm phát không chỉ có một số giải pháp riêng rẽ nào đó mà cần có các nhóm giải pháp tổng thể và đồng bộ, từ sản xuất, quản lí thị trường, đầu tư, chi tiêu ngân sách nhà nước đến chính sách tiền tệ, các công cụ tiền tệ, các biện pháp điều hành và quản lí. Đối với một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, chúng ta cần định hướng giải quyết các vấn đề sau: 3.1. Các biện pháp kinh tế chung - Tiếp tục hoàn thành việc cải cách các nhân tố trong quan hệ của nền kinh tế (cải cách doanh nghiệp, ngân sách, thuế, hệ thống ngân hàng...) với mục tiêu hình thành các quan hệ thị trường minh bạch và bình đẳng. - Cần có sự điều chỉnh định hướng chính sách kinh tế một cách hợp lý - đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát trong dài hạn lên trên mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Chỉ thực hiện mở rộng tài khoá, tiền tệ, hệ thống ngân hàng song song với việc mở rộng sản xuất. Các chương trình cơ bản cần được xây dựng dựa trên tính khoa học của nền kinh tế chuyển đổi - trước hết ổn định nền kinh tế đất nước, sau đó nâng cao giá trị sản xuất và dịch vụ để củng cố giá trị đồng nội tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Một biện pháp chống lạm phát hàng đầu là phục hồi quá trình đầu tư, tập trung nguồn vốn vào các dự án ưu tiên. Kinh nghiệm thế giới đã chứng minh rằng thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân sẽ có hiệu quả cao và ít rủi ro nhất, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (tại các nước Tây Âu chiếm 50 - 55% GDP). Ngoài ra, Nhà nước cần chú trọng quản lý chặt chẽ việc hơn nữa chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài theo các kênh chính thức hoặc phi chính thức. Tập trung thu hút luồng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa theo hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. 3.2. Củng cố các yếu tố tài chính Vấn đề then chốt trong chiến lược chống lạm phát là việc củng cố tiềm lực ngân sách nhằm khắc phục sự xuất hiện khủng hoảng ngân sách: không cấp vốn ngân sách một cách tuỳ tiện, hạn chế tối đa chi từ vốn vay nợ nước ngoài; sử dụng nguồn ngân sách một cách công khai, minh bạch; giám sát, kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng NSNN; quan hệ ngân sách giữa trung ương và địa phương cần được điều chỉnh phù hợp cho từng thời kỳ; duy trì tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở mức hợp lý; và chính sách thuế cần được dựa trên cơ sở khoa học, được xác định không chỉ với mục tiêu ngân sách mà còn có tác dụng điều chỉnh phát triển kinh tế, không làm tê liệt kinh doanh. 3.3. Điều chỉnh yếu tố tiền tệ. Khi tiến hành bơm/hút tiền trong lưu thông để thực hiện mục tiêu chống lạm phát cần xem xét đến lượng tiền cung ứng thêm và tốc độ vòng quay lưu thông của chúng, phải dựa trên quá trình thống kê, phân tích và áp dụng các mô hình toán - kinh tế để có thể dự báo và điều chỉnh kịp thời nhằm tránh gây áp lực làm trầm trọng thêm tình trạng thiểu/lạm phát. Mặt khác, cũng cần khống chế tổng phương tiện thanh toán phù hợp với yêu cầu tăng trưởng, kiểm soát tốc độ tăng dư nợ tín dụng nền kinh tế ở mức hợp lý, cơ chế điều hành lãi suất, tỷ giá theo hướng tự do hóa, đúng qui luật, duy trì cạnh tranh lành mạnh đảm bảo khả năng huy động vốn đủ cho nhu cầu đầu tư, thúc đẩy sản xuất nội địa và xuất khẩu. 3.4. Nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng. Một điều quan trọng trong việc thực hiện chính sách chống lạm phát và chiến lược tăng trưởng kinh tế đó là việc cải cách hệ thống ngân hàng. Cải cách hệ thống ngân hàng là nền tảng ngăn chặn khủng hoảng tiền tệ mà nguyên nhân thường do: - Hoạt động yếu kém của các ngân hàng thương mại (đặc biệt là các ngân hàng lớn đóng vai trò chủ đạo), thiếu sự kiểm soát trong quá trình kinh doanh dẫn đến tình trạng đầu cơ vốn, phung phí vốn tiền gửi và hậu quả là mất khả năng thanh toán. - Sự yếu kém (hoặc không đủ mạnh) trong thanh tra, kiểm soát của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) đối với các NHTM. - Những thiếu sót từ phía chính sách, luật pháp. Để nâng cao khả năng thanh toán cũng như sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng, NHTƯ cần thực hiện một số biện pháp: đa dạng hoá phương thức thanh toán đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, ổn định tín dụng, nâng cao vai trò của tín dụng tái cấp vốn, tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT); tập trung thanh tra và giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng; thành lập cơ quan chuyên trách điều hành việc cải tổ hệ thống NHTM, đặc biệt xúc tiến quá trình cổ phần hoá các NHTM nhà nước với mục đích ổn định và nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động... 3.5. Kiểm soát giá cả và điều chỉnh tiền lương Đây là một cấu phần trong tổng thể chiến lược chống lạm phát. Thực tế trong nước và quốc tế đã chứng minh rằng khi nền kinh tế gặp “sốc”, việc điều chỉnh giá cả sẽ không đạt hiệu quả trong điều kiện môi trường cạnh tranh không lành mạnh và sự xuống giá trầm trọng của đồng nội tệ so với ngoại tệ do tình trạng nhập khẩu hàng tiêu dùng quá nhiều. Thậm chí, giá cả sẽ không mấy thay đổi ngay cả khi tỷ giá hối đoái so với nội tệ giảm xuống, và khi đó việc điều chỉnh tiền lương sẽ càng làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng. Vì vậy, cần kiểm soát chặt chẽ trong việc hình thành giá cả (đặc biệt trong những lĩnh vực độc quyền nhà nước), chỉ nên hạn chế (hợp lý) tăng giá đối với một số mặt hàng có tính chiến lược và điều chỉnh tiền lương hợp lý, phù hợp với mức độ tăng trưởng sản xuất nội địa. 3.6. Hoàn thiện cơ chế, luật pháp. Việc mất đi hiệu lực, chức năng điều chỉnh quan hệ giữa các khu vực kinh tế và trách nhiệm của các chủ thể kinh tế của luật pháp là một trong những nguyên nhân phá vỡ tính ổn định của nền kinh tế và dẫn đến tình trạng lạm phát. Để chuẩn hoá các hoạt động kinh doanh cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật, cơ chế giám sát tính thực thi chúng. Hệ thống luật cần phải bảo đảm tính hợp lý, vững chắc, đồng bộ và chiếm được lòng tin của các doanh nghiệp và dân chúng. 3.7. Gây dựng lòng tin vào đồng nội tệ. Tại bất cứ quốc gia nào, chính sách tiền tệ của NHTƯ đều ít nhiều phụ thuộc vào sự điều hành của Chính phủ. Vì vậy, niềm tin của các doanh nghiệp và dân chúng vào Chính phủ sẽ tạo thêm sự vững chắc trong lưu thông tiền tệ. Để gây dựng niềm tin vào đồng nội tệ trước hết cần phải có một sự phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về chính trị. Chính phủ cần khắc phục tối đa mọi khủng hoảng về kinh tế cũng như chính trị của đất nước. Ngoài ra, để gây dựng được niềm tin của công chúng, góp phần đưa đến thành công thì việc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của thế giới trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong khâu quản lý, trong cơ cấu điều hành nền kinh tế thị trường, kiểm soát lạm phát và tranh thủ các phương tiện thông tin đại chúng cũng đóng vai trò không nhỏ. 3.8. Đấu tranh với những thành phần kinh tế “ngầm”. Bất cứ chương trình ổn định kinh tế nào của Nhà nước đều rất dễ sụp đổ nếu không chủ động, quyết tâm đấu tranh với những thành phần kinh tế “ngầm”. Sự hình thành các nhóm tội phạm kinh tế có tổ chức trong các bộ máy, các ngành, nghề, lĩnh vực sẽ là một thảm hoạ cho mỗi quốc gia, nó làm thất thoát lượng vốn khổng lồ của Nhà nước (như trốn thuế, rửa tiền, tham nhũng, chiếm hữu tài sản nhà nước dưới hình thức tư nhân hoá...), xói mòn nền tảng của một quốc gia, phá hủy sự hình thành một nền kinh tế thị trường văn minh. KÕt luËn Trong thời gian qua ở Việt Nam, lạm phát đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách cũng như từng người dân. Tưởng chừng như thời kỳ siêu lạm phát đã đi vào quá khứ và nhiệm vụ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV2944.DOC
Tài liệu liên quan