Đề tài Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

MỘT SỐ KHÁI NIỆM DÙNG TRONG TIỂU LUẬN 3

PHẦN I: CƠ SỞ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 4

I.1. Khái niệm và phân loại bệnh ĐTĐ 4

I.1.1. Khái niệm về bệnh ĐTĐ theo quan điểm hiện đại 4

I.1.2. Phân loại bệnh ĐTĐ và cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ 7

I.2. Tình hình chung của bệnh ĐTĐ ở Việt Nam và trên thế giới 12

I.3. Các biến chứng của bệnh ĐTĐ 17

1. Các biến chứng cấp tính 17

2. Biến chứng mạn tính 19

PHẦN II: DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 24

II.1. Đặc điểm của người ĐTĐ 24

II.2. Những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chế độ ăn cho người ĐTĐ 24

II.2.1. Xác định nhu cầu năng lượng 24

II.2.2. Xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng 27

II.2.3. Nhu cầu cân đối hài hoà giữa các chất dinh dưỡng 30

II.3. Chế độ ăn hợp lý cho người ĐTĐ và một số bệnh khác thường mắc kèm 30

II.3.1. Chế độ ăn hợp lý cho người ĐTĐ 30

II.3.2. Lập thực đơn cho người ĐTĐ 34

II.3.3. Số lần ăn trong ngày của người bệnh ĐTĐ 35

II.3.4. Cân đo khi nấu ăn 35

II.3.5. Những mối quan tâm khác trong vấn đề ăn uống của người bệnh ĐTĐ 36

II.3.6. Chế độ ăn uống cho người ĐTĐ ở một số trường hợp mắc kèm một số bệnh khác 38

II.4. Giới thiệu một số loại thực phẩm có tác dụng góp phần điều trị ĐTĐ 39

PHỤ LỤC1 42

PHỤ LỤC 2 46

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

 

doc52 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 7419 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ối với bệnh đái tháo đường ở Việt Nam. Nhìn chung nhận thức của người dân về bệnh đái tháo đường còn rất kém, dẫn đến tỷ lệ bệnh đái tháo đường không được chuẩn đoán trong cộng đồng rất lớn. Ước tính Việt Nam có khoảng 1 triệu người mắc bệnh, riêng ngoại thành Hà Nội có khoảng 50.000 mắc bệnh nhưng số lượngbệnh nhân đi khám tại các cơ sở chỉ khoảng 5000 người, như vậy chỉ khoảng 1/10 là biết để đi khám chữa. Theo điều tra của bệnh viện nội tiết năm 2001, có 63,7% đối tượng được phỏng vấn không biết gì về các yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường, 57,7% không biết gì về biện pháp phòng bệnh đái tháo đường. Trong số những người biết về yếu tố nguy cơ gây bệnh và cách phòng bệnh thì số người biết một cách đầy đủ cũng rất hạn chế. Tỷ lệ đái tháo đường không được chuẩn đoán trong cộng đồng khoảng 50% - 64%. Một quan niệm sai lầm với một số người cho rằng bệnh đái tháo đường là do thừa đường trong máu, số đường thừa này thỉa ra ngoài qua nước tiểu nên ăn uống cần giảm chất đường. Thực tế không hoàn toàn như vậy, với người không bị béo phì, nếu không ăn những chất có đường , mà cần đảm bảo nhu cầu ... dẫn đến ăn bù chất béo tạo thuận lợi cho bệnh xơ vữa mạch máu và nếu ăn quá ít chất bột - đường dẫn đến giảm dung nạp với bột đường làm dễ tăng đường máu (Tuy nhiên ăn chất bột cần phải ăn kèm chất xơ). Một nhận thức còn sai lầm nữa của không ít người dân, đó là quá lo lắng khi biết mình bị đái tháo đường, lo cho con cháu và hế hệ sau bị lây. Thực tế bệnh đái tháo đường và những bệnh không lây nhiễm khác, bệnh phát triển là một tất yếu do nhiều yếu tố liên quan cùng bị ảnh hưởng nên bệnh mới phát sinh và phát triển. Nhiều người bệnh e ngại không muốn cho bạn bè , người đồng nghiệp biết mình bị đái tháo đường và nhiều người trẻ tuổi không giám lập gia đình. Điều đó không nên, người bệnh cần có cuộc sống bình thường như những người khác và nếu bạn bè đồng nghiệp là những người hiểu biết , họ sẽ thông cảm và sẵn sàng giúp đỡ bạn . Nhưng cũng không hoàn toàn phải công khai bệnh tật vơí những người không hiểu biết và những người hay kỳ thị. Với hình thức thành lập câu lạc bộ những người bệnh đái tháo đường là hình thức rất đáng được động viên khích lệ, cần được phát triển để giúp những người đái tháo đường có thêm những hiểu biết về bệnh cho bản thân và biết những biện pháp phòng tránh cho gia đình và bạn bè. I-1-3. Các biến chứng của bệnh đái tháo đường. Có 2 loại biến chứng của bệnh đái tháo đường : - Biện chứng cấpp tính. - Biện chứng mạn tính. 1. Các biến chứng cấp tính. a. Nhiễm toan cetone. Đây là hiện tượng thiếu insuline và trầm trọng. * Triệu chứng: - Mệt nhọc, chuột rút. - Uống nhiều, đái nhiều bất thường , mất nước, da khô và đái ít đi. - Khó thở không rõ lý do. Thở nhanh, hơi thở có mùi táo thối. - buồn nôn và nôn. - Đau bụng có thể nhầm với viêm ruột thừa. * Chuẩn đoán: Đường máu tăng cao, có nhiều đường và cetone trong nước tiểu. * Dự phòng: - Khi thấy triệu chứng uống và đái nhiều, đường máu tăng cao cần phải tiêm insuline nhanh ( loại trong) từ 6 – 10 đơn vị/ 6 giờ/ 1 lần cho đến khi hết triệu chứng. - Uống đủ nước. - Ăn thức ăn dạng lỏng. - Đến bệnh viện ngay nếu có thể . Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: Hiện tượng của mất nước trầm trọng. * Triệu chứng: - Uống nhiều, đái nhiều, khát nước, môi lưỡi khô. - Lờ đờ, vật vã, lú lẫn, chậm chạp, hôn mê, có thể có co giật. - Buồn nôn và nôn. - Đầy bụng và đau bụng. - Sốt cao hoặc ngược lạida lạnh, hạ thân nhiệt, tụt huyết áp. * Điều trị dự phòng: - Bù đủ số nước bằng đường uống khi còn tỉnh. b. Hạ đường huyết: Là tình trạng đường trong máu hạ một cách bất thường (<3,3 mol/l). Khi đường máu ở gần mức bình thường sẽ luôn có khả năng bị hạ đường huyết ở các mức độ khác nhau. Thực chất hạ đường huyết không phải là biến chứng của bệnh nhưng lại là hiện tượng dễ gặp nhất. Tất cả các bệnh nhân đái tháo đường đều phải biết nguyên nhân, triệu chứng, để điều trị dự phòng một cách đúng đắn. * Nguyên nhân: - Bỏ bữa, ăn muộn, ăn ít hơn mọi ngày. - Vận động thể lực nhiều mà không ăn, uống chất bột đường bổ sung hoặc không giảm liều insuline. - Lấy sai liều insuline, lấy nhầm từ insuline nhanh sang insuline chậm. - Do tiêm insuline không đúng quy cách. - Dùng các loại thuốc giảm đau ( Aspirin, Voltáen...), khách sinh. - Uống rượu lúc đói không kèm theo ăn bột đường. -Do xúc động mạnh. * Triệu chứng: - Bủn rủn chân tay, vã mồ hôi, đói cồn cào, mắt mờ. - Tim đập nhanh, hồi hộp, chóng mặt, hoa mắt. - Mồ hôi lạnh khắp người, nói lời rời rạc hoặc khó nói, cáu gắt vô cớ, lo sợ hoặc đờ đẫn, nếu không được xử lý ngay dẫn đến hôn mê, co giật. * Dự phòng: - Luôn đem theo đường hoặc bánh bích quy bên mình. - Ngừng ngay mọi hoạt động. - Báo cho người nhà biết để xử lý. - Tìm hiểu nguyên nhân để biết cách đối phó . + Nếu dùng insuline và bị nhẹ: ăn thêm vài chiếc bánh bích quy, 1 quả cam, táo hoặc ăn bánh mì. +Nếu dùng insuline và bị nặng: Cần uống 15g đường kính ( 3 thìa cà phê). + Do dùng sulfamid hạ đường huyết: uống đường 2. Biến chứng mạn tính: a. Biến chứng mắt: Các loại biến chứng mắt : * Tổn thương đáy mắt: - Nguyên nhân: + Đường máu tăng và không ổn định một cách mạn tính. + Thời gian ủ bệnh lâu năm. + Các yếu tố di truyền. - Điều trị: + Cân bằng đường máu tốt + Điều trị tích cực tăng huyết áp nếu có (HA<130/80mm Hg là được). + Điều trị laser đáy mắt. * Đục thuỷ tinh thể: Làm giảm thị lực cho người bệnh. - Nguyên nhân: + Do đường máu ổn định không tốt. - Điều trị: + Thay thuỷ tinh thể nhân tạo. + Phẫu thuật nếu đường máu ổn định. * Tăng nhãn áp: - Triệu chứng: Giảm thị lực nhanh chóng, căng nhức mắt, nhìn mờ. - Chuẩn đoán bằng cách đo nhãn áp. - Điều trị: Uống thuốc và nhỏ mắt làm giảm nhẵn áp thường xuyên, liên tục. b. Biến chứng răng miệng: Người bệnh đái tháo đường sau một thời gian bị bệnh thường bị tổn thương răng miệng. - Nguyên nhân: + Đường máu cao tạo điều kiện cho nhiễm trùng . + Tổn thương vi mạch ở lợi dẫn đến rụng răng. + Chưa chăm sóc răng miệng cẩn thận. - Một số tổn thương răng miệng thường gặp: + Viêm lợi. + Viêm quanh chân răng: Có thể làm rụng răng + sâu răng. +Cao răng. - Bảo vệ răng miệng cho người bệnh + Đánh răng kỹ sau mỗi bữa ăn. + Khám bác sĩ nha khoa thường xuyên. + Khám bác sĩ nha khoa thường xuyên ngay khi đường máu tăng cao. + Khi không ăn được thức ăn rắn vì đau răng, phải thay thức ăn dạng lỏng. + Xét nghiệm đường máu, đương niệu cetone niệu. c. Suy thận mạn: Đây là biến chứng gặp nhiều nhất ở người đái tháo đường, được biểu hiện bằng sự có mặt của chất đạm ( protêin) trong nước tiểu. - Để xác định được hàm lượng protein trong nước tiểu, cần phải lấy mẫu nước tiểu lúc đường máu ổn định tốt và không bị nhiễm khuẩn tiết niệu để xét nghiệm. - Điều trị khi có protêin trong nước tiểu: + Điều chỉnh đường máu < 10mmol/l. + Ăn chất đạm hợp lý, không ăn nhiều thịt cá, và các loại đậu đỗ. + Giữ huyết áp <130/180mm Hg. + Điều trị tốt rối loạn mỡ máu. + Điều trị sớm và có hiệu quả nhiễm trùng tiết niệu. d. Biến chứng thần kinh ngoại vi. - Triệu chứng: + Tê bì, lúc nóng lúc lạnh ở da. + Đau tê phía ngoài bàn tay, bàn chân, đặc biệt là vào ban đêm và trong những ngày lạnh, ẩm ướt. + Đau nhức xương ở các chi. - Điều trị: Điều chỉnh cân bằng ổn định đường máu tốt. e. Biến chứng thần kinh thực vật. * Liệt dạ dầy do bệnh đái tháo đường: Thường xảy ra sau một thời gian dài mắc bệnh. Liệt dạ dày khiến cho thức ăn lưu lại ở dạ dày lâu hơn và thất thường làm cho đường máu dao động bất thường gây hạ đường huyết sau bữa ăn. - Triệu chứng: Buồn nôn, nôn, chướng bụng gây cảm giác đầy, tức, ợ hơi, loét dạ dày. - Chuẩn đoán: Chụp, soi dạ dày. - Điều trị theo bác sĩ chuyên khoa. * ỉa chảy do bệnh đái tháo đường. - Triệu chứng: Đi ngoài phân lỏng, thường về đêm hoặc sau bữa ăn nhưng không bị gầy sút. - Điều trị: Giảm ăn chất xơ. * Bệnh bàng quang do đái tháo đường: - Bệnh diễn biến từ từ dẫn đến liệt bàng quang, ứ nước tiểu. - Biến chứng: Viêm bàng quang cấp, viêm thận, bể thận, viêm đường tiết niệu mãn tính. - Điều trị: + uống đủ nước + Đi tiểu đều đặn 3 – 4 h/lần. + Dùng kháng sinh thích hợp. + Đến viện ngay khi bị bí đái. * Liệt dương. * Hạ huyết áp tư thế. f. Biến chứng bệnh lý bàn chân: Đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Bởi vì do tắc nghẽn các mạch máu nhỏ và các dây thần kinh bị tổn thương sau thời kỳ kéo dài đái tháo đường , bệnh nhân đái tháo đường rất dễ bị tổn thương ở chân, có thể viêm loét hoại tử phải cắt bỏ chi. * Biện pháp phòng ngừa: - Chăm sóc bàn chân cẩn thận: + Không đi đất, phòng tránh các vết xây xát. + Đi tất mềm thoáng, giữ vệ sinh bàn chân. + Kiểm tra kỹ bàn chân hàng ngày, kiểm tra màu da chân, gan bàn chân. - Giữ đường máu ổn định. - Không hút thuốc lá vì thuốc là làm tắc mạch máu. - Điều trị tăng huyết áp nếu có. - Điều trị rối loạn mỡ máu. g. Nhiễm trùng ở người đái tháo đường. - Người đái tháo đường giảm sức đề khàng nên dễ bị nhiễm trùng, khi đã bị thì bị nặng và lâu khỏi. - Một số dạng nhiễm khuẩn thường gặp: + Da: Mụn, nhọt, viêm loét bàn chân, nấm móng chân. + Răng lợi: Viêm lợi, tụt lợi, viêm mủ quanh răng. + Phổi: Viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi. + Đường tiết niệu: Viêm bàng quang có triệu chứng đái buốt. đái dắt. - Khi bị nhiễm trùng, người bệnh thường sốt, mệt mỏi, chán ăn. Nhiễm trùng là căn nguyên quan trọng, làm mất cân bằng đường máu. h. Tăng huyết áp: Thường chiếm 30 – 40% người đái tháo đường . Khi bị tăng huyết áp ( >=140/90 mm Hg ), người đái tháo đường sẽ có các nguy cơ: - Tăng bài xuất chất đạm qua nước tiểu viêm cầu thận vấuuy thận. - Tăng tỉ lệ tổn thương đáy mắt giảm thị lực, mù loà. - Tăng nguy cơ tai biến mạch máu não. - Dự phòng: + Khám và đo huyết áp thương xuyên. + Khi có tăng huyết áp cần phải điều trị tích cực, thường xuyên và liên tục. + Giữ ổn định huyết áp < 130/80 mm Hg. - Điều trị: + Thay đổi lối sống có hại như ăn mặn, ăn nhiều gây béo phì, rối loạn mỡ máu, bỏ thuốc lá, tập thể dục. + Thuốc hạ huyết áp theo đúng chỉ định của bác sĩ. i. Các bệnh tim mạch: - Các bệnh người đái tháo đường không thể tránh khỏi biến chứng tim mạch: Có khoảng 50% số người đái tháo đường bị tử vongdo biến chứng này. - Mục tiêu của người đái tháo đường cần đạt để tránh nguy cơ tim mạch: + Huyết áp <140/80 mm Hg. + Cholesterol toàn phần < 5,2mmol/l. + LDL – cholesterol < 2,5 mmol/l. + HDL – cholesterol >1,2mmol/l. + Triglyceride <1,7 mmol/l. + HbA1c <=6,5%. - Các triệu chứng: + Rối loạn tiêu hoá và đau thượng vị. + Rối loạn nhịp tim. + Khó thở. + Rối loạn cân bằng đường máu không rõ nguyên nhân. + Tụt huyết áp . - Cách phòng tránh: + Điện tim định kỳ. + Ăn uống điều trị theo chế độ dinh dưỡnghợp lý. + Bỏ thuốc lá. + Giảm muối trong chế độ ăn uống. + tránh ăn những thức ăn nhiều cholesterol. + Tập thể dục. + Giảm trọng lượng cơ thể nếu béo phì. + Kiểm tra thường xuyên diễn biến bệnh và xin chỉ dẫn của bác sĩ. Phần II: dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường II.1. Đặc điểm của người đái tháo đường. Người bệnh đái tháo đường là người bị tăng đường máu mạn tính nên thường có những đặc điểm sau : Cơ thể bị mất lượng đường qua nước tiểu nên luôn có cảm giác thèm ăn. Cơ thể sử dụng đường không tốt nên phải huy động chất béo thay thế dẫn đến gầy sút và tích tụ thể cetone. Có đường trong nước tiểu dẫn đến đái nhiều, uống nhiều. Cơ thể chuyển hoá kém. Dễ gặp biến chứng cấp tính như hạ đường huyết, nhiễm toan cetone. Người đái tháo đường typ 2 dễ béo phì, thừa cân nên dễ bị các rối loạn chuyển hoá khác như tăng mỡ máu, tăng huyết áp. Người đái tháo đường dễ bị tăng đường máu sau ăn và dễ bị hạ đường huyết lúc đói. Luôn có cảm giác mệt mỏi, sút cân nhanh, mẩt ngủ. Thần kinh sút kém. Đa số người đái tháo đường có mắc kèm thêm một số bênh khác như suy thận, tim mạch, tăng huyết áp… Huyết áp cao, dễ bị nhiễm mỡ xơ mạch. II.2. Những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chế độ ăn cho người đái tháo đường. II.2.1. Xác định nhu cầu năng lượng Để xác định được nhu cầu năng lượng cho từng người bệnh, ta phải căn cứ vào trọng lượng toàn thân của người bệnh, điều kiện sinh lý, cường độ lao động, tính chất công việc, yếu tố tinh thần và có kèm theo bệnh khác nữa hay không của người bệnh. Nhu cầu năng lượng thay đổi tuỳ theo hoạt động thể lực Ngày làm việc nhiều thì cần nhiều năng lượng Trong ngày nghỉ, nhu cầu giảm. Muốn tính toán được nhu càu năng lượng của mình, người bệnh phải biết được trọng lượng của mình là bao nhiêu. Cách tính trọng lượng : Trọng lượng tiêu chuẩn(kg) = [Chiều cao(cm) – 100] x 0.9 Hoặc: Trọng lượng tiêu chuẩn(kg) = Chiều cao(cm) – 105. Nếu trọng lượng vượt quá thực tế vượt quá trọng lượng tiêu chuẩn 10% là bị thừa cân, vượt quá 20% là bị béo phì, nếu thấp hơn trọng lượng tiêu chuẩn 20% là bị quá gầy, còn thấp hơn 15% là gầy. @Xác định sự tiêu hao năng lượng ở mỗi người bệnh : Người bệnh đái tháo đường phải xác định được trọng lượng của mình như cách tính ở trên để biết xem mình có bị béo phì hay quá gầy hoặc bình thường, sau đó xác định cường độ lao động của mình… Cuối cùng, tính toán nhu cầu năng lượng trong ngày của mình là bao nhiêu cho một kg trọng lượng thân thể. ?Nếu người bệnh chỉ nằm trên nghỉ trên giường : Năng lượng dùng cho cơ thể tiêu chuẩn mỗi kg là 13-20 kcal/kg/ngày. Cơ thể béo phì : 15 kcal/kg/ngày - Cơ thể gầy : 20-25 kcal/kg/ngày. ?Nếu người bệnh tham gia các công việc nội trợ như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa,…, hoặc làm các công việc khác như ở văn phòng, dạy học… Cơ thể bệnh nhân tiêu chuẩn: cần năng lượng 30 kcal/kg/ngày. Cơ thể béo phì : cần 20-25 kcal/kg/ngày Cơ thể gầy : cần 35 kcal/kg/ngày. ?Nếu người bệnh lao động vừa phải như công nhân dệt, đứng máy ở các nhà máy, tập thể dục nhẹ, đi bộ chậm, làm việc nhẹ của nhà nông (cấy, gặt), bác sỹ, giáo viên thể dục … - Cơ thể bệnh nhân tiêu chuẩn: cần 35 kcal/kg/ngày - Cơ thể béo phì: cần 25-30 kcal/kg/ngày - Cơ thể gầy: cần 40 kcal/kg/ngày ?Nếu bệnh nhân làm những việc nặng như bốc vác, công nhân xây dựng, việc nặng của nhà nông, chơi môn thể thao nặng như vật, leo núi, trượt tuyết, bơi, chạy, cử tạ … và hay phải leo thang gác: - Cơ thể bệnh nhân tiêu chuẩn: cần 40 kcal/kg/ngày - Cơ thể béo phì: cần 35 kcal/kg/ngày - Cơ thể gầy: cần 45-50 kcal/kg/ngày ?Những người bệnh đang mang thai, đang cho con bú hoặc suy dinh dưỡng thì cân nhắc để có thể tăng 10-20%, người cao tuổi giảm 20-30%. ?Với các cháu nhỏ: -Với các cháu bé từ 1 tuổi trở xuống cần 100-130 kcal/kg/ngày -Với các cháu 1-3 tuổi cần 90-130 kcal/kg/ngày -Với các cháu 4-6 tuổi cần 80-90 kcal/kg/ngày -Các cháu 7-9 tuổi cần 70-80 kcal/kg/ngày -Các cháu 10-12 tuổi cần 60-70 kcal/kg/ngày. -Các cháu từ 13- 15 tuổi cần 50- 60 kcal/kg/ngày. @Tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể về đặc điểm bệnh, trọng lượng cơ thể, hoạt động thể lực, tuổi tác, giới tính và các thói quen ăn uống … của từng bệnh nhân riêng biệt, xây dựng chế độ ăn cho người đái tháo đường phải thoả mãn các yêu cầu sau: - Đủ chất đạm, béo, bột, đường, vitamin, muối khoáng, nước với khối lượng hợp lý. - Không làm tăng lượng đường trong máu nhiều khi ăn. - Duy trì hàng ngày hoạt động thể lực. - Duy trì được mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân về mức hợp lý. - Không làm tăng các nguy cơ như tăng mỡ, tăng huyết áp, suy thận … - Phù hợp phong tục tập quán, địa dư, dân tộc, thói quen của từng bệnh nhân. - Không quá đắt tiền. - Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như khối lượng của từng bữa ăn. *Lưu ý: Nếu bạn là người bệnh bị béo phì thì phải có chế độ ăn giảm calo- năng lượng. Sau đây lá một số cách chống lại béo phì: - Không nên ăn quá no, nhất là các chất đạm, béo. - Nên ăn chậm và nhai kỹ. - Không nên để quá đói hoặc bỏ bữa vì sẽ có khuynh hướng ăn bù. - Các bữa ăn phụ nên chọn các thức ăn ít đạm, béo. Có thể ăn hoa quả đúng quy định hoặc sữa chua. - Tập thể dục đều đặn. - Uống trà,cà phê không đường. Tuyệt đối không dùng nước giải khát như cam, chanh… - Không nên lạm dụng các món ăn nhanh như đồ hộp, lạp xường, dăm bông, … - Chọn thức ăn có nhiều chất xơ. - Các bữa ăn nên phân bố đều các chất dinh dưỡng. ‚ Nếu bạn là người quá gầy thì phải ăn nhiều hơn để đưa cân nặng về mức lý tưởng, nhưng phải tuân theo nguyên tắc là tăng cân từ từ, tránh xáo trộn quá nhanh dễ gây mất cân bằng đường máu. II.2.2 Xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng. Nhu cầu cụ thể về chất bột, đường, đạm, mỡ hay tỷ lệ phần trăm các chất này hàng ngày là bao nhiêu cần phải tính toán riêng đối với từng thực trạng bệnh của mỗi người bệnh đái tháo đường. Quan niệm trước đây cho rằng bệnh đái tháo đường là do thừa đường trong máu, số đường này thải ra ngoài qua nước tiểu nên ăn uống cần phải giảm chất đường. Quan niệm này có một số sai lầm sau : Nếu bạn không bị béo phì, chế độ ăn cần đảm bảo cung cấp đủ năng lượng bình thường sẽ dẫn đến ăn bù bằng chất béo do đó chế độ ăn này tạo thuận lợi cho bệnh xơ vữa mạch máu phát triển. Nếu chế độ ăn có quá nhiều chất đạm : + Sẽ làm tăng lượng chất béo ăn vào + Làm tăng lượng cholesterol đi theo thịt. + Làm giảm hiệu quả hoạt động của insuline khiến cho khuynh hướng tăng đường máu. + Ăn quá nhiều chất đạm có ảnh hưởng không tốt đến thận (gây đạm niệu dẫn đến suy thận) + Gây chán ăn + Tốn kém không cần thiết. Nếu ăn quá ít chất bột- đường dẫn đến giảm dung nạp với bột đường nghĩa là dễ tăng đường máu. Nếu ăn quá nhiều bột đường mà không ăn kèm chất xơ sẽ làm tăng tryglyceride hay tăng mỡ máu. Chất béo (thành phần lipid). Do chất béo trong bữa ăn của người Việt Nam thường chiếm tỷ lệ không cao (theo đIều tra của Viện dinh dưỡng Quốc gia, chiếm 12-20% tổng số calo tiêu thụ hàng ngày), nên tỷ lệ chất béo trong khẩu phần ăn của người đáI tháo đường nên giữ ở mức từ 15-20% là hợp lý. Để xác định chính xác là bao nhiêu trong khoảng từ 15-20% thì cần dựa trên đặc đIểm của từng bệnh nhân: người có cơ thể gầy, không có yếu tố nguy cơ tim mạch, lượng chất béo có thể tăng lên trên cơ sở bệnh nhân dung nạp được chế độ ăn đó. Đối với người bị đái tháo đường túp 2, đIều chỉnh các yếu tố nguy cơ như tim mạch trong đó có rối loạn mỡ máu là quan trọng nhất. Ở người đái tháo đường, độ tuổi thường gặp là trên 60, do vậy nên giữ tỷ lệ chất béo có nguồn gốc động vật và thực vật là 1:1. Việc thay đổi hoàn toàn chất béo từ động vật bằng chất béo từ thực vật là không cần thiết bởi nó làm giảm tiêu thụ các vitamin A và D, những vitamin tan trong mỡ động vật. Những người bệnh bị béo phì hoặc mắc chứng máu nhiễm mỡ, xơ cứng động mạch thì chỉ nên giữ ở mức dưới 30% lipid không nên ăn thịt mỡ và lòng đỏ trứng gà. Lượng cholesterol đưa vào cơ thể hàng ngày nên hạn chế dưới mức 300mg. Riêng những trường hợp có tăng cholesterol và nguy cơ tim mạch, lượng cholesterol đưa vào nên dưới 200mg/ngày. Glucid. Glucid là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể (60-70% tổng số calo hàng ngày). Thực phẩm cung cấp các chất bột-đường chủ yếu là gạo, ngô, khoai và các loại củ. Thực chất, khi ăn những chất tạo ra đường nhiều như vậy sẽ tăng cường hoạt tính của insuline trong cơ thể. Nếu người bệnh giữ chế độ ăn uống quá hà khắc, luôn bị đói và thèm ăn thì năng lượng mà cơ thể cần đến đều phải dựa vào sự phân giải lipid và protein. Nếu xảy ra quá lâu sẽ dẫn đến ngộ độc ceton. Những nghiên cứu trên lâm sàng cho thấy, khi để bệnh nhân đái tháo đường ăn lượng thức ăn giàu cacbonhydrat trong thời gian ngắn với điều kiện đủ tổng số calo cần thiết trong một ngày thì không thấy bị tăng lượng đường trong máu. Do vậy, xét chế độ ăn không còn hạn chế như trước thành phần cacbonhydrat. Vấn đề chủ yếu là ăn các loại ngũ cốc toàn phần có đủ vitamin, chất xơ và muối khoáng. Các loại dường đơn và đường đôi nên tiêu thụ dưới dạng rau và hoa quả. Khi hạn chế ăn chất đường cũng nên ở mức độ vừa phải. Lượng đường có trong từng loại thức ăn cần được phổ biến rộng rãi cho bệnh nhân để họ tự tính toán phù hợp với từng loại thức ăn tiêu thụ khác nhau nhưng không làm biến động tổng lượng cacbonhydrat hàng ngày. Ước lượng tỷ lệ đường trong một số thức ăn: + Rau xanh: 2-10% + Quả tươi: 5-15% + Sữa tươi hoặc sau khi pha: 5% + Bánh mì: 50-55% + Gạo: 75-80% + Cơm: 40% + Miến: 83% + Khoai củ: 20%. Vai trò của chất xơ: Mặc dù có thể không cần hạn chế quá các loại thức ăn có chất bột-đường và nên giữ khoảng 50-60% là vừa nhưng người bệnh đái tháo đường nên ăn kèm các chất xơ có trong rau xanh, măng, cám gạo. Chúng có tác dụng làm thức ăn lưu lại lâu hơn trong dạ dày, ngăn cản men tiêu hoá, tác dụng với thức ăn làm chậm lại quá trình tiêu hoá và hấp thụ đường vào máu. Thành phần protid (chất đạm) Là chất đảm bảo sự sống của tế bào, có khả năng cung cấp một nhiệt lượng nhất định cho cơ thể. Tỷ lệ chất đạm chiếm từ 10-20% tổng số calo hàng ngày, tương ứng khaỏng 0,8-1,2g/kg cân nặng (100g thịt nạc có khoảng 18g đạm). Không nên ăn nhiều đạm vì chế độ ăn nhiều đạm có thể làm tổn thương thận do đái tháo đường (do người bệnh đái tháo đường có biến chứng suy thận). Mặt khác, thức ăn giàu đạm thường đắt tiền và dễ gây chán ăn. Nhưng cũng không nên kiêng ăn chất đạm. Nếu không có nó thì sẽ không cung cấp đủ năng lượng, dẫn đến suy dinh dưỡng. Prôtein bao gồm prôtein động vật và prôtein thực vật. Protein động vật là nguồn cung cấp chủ yếu nhu cầu prôtein của con người. Những thực phẩm xuất xứ từ động vật có thịt nạc (lợn, bò, dê) có hàm lượng prôtein từ 17-24%; trong trứng (trứng gà, trứng vịt) chiếm 13-15%; các chế phẩm từ sữa, hàm lượng prôtein 1,9-3,8%. Prôtein thực vật là nguồn cung cấp kháccho nhu cầu prôtein của con người, thường có ở các loại đậu. Prôtein trong cơ thể đóng vai trò chủ chốt trong các hoạt động sinh lý hàng ngày, là cơ sở của cuộc sống. Các bộ phận chính của cơ thể con người như thịt, da, hoóc môn sinh trưởng … đều là tổ chức prôtein. Prôtein không có nhiệm vụ cung cấp năng lượng cho hoạt động sống. Chỉ khi chất đường và chất béo không cung cấp đủ năng lượng thì prôtein mới giải toả được một phần nhiệt lượng (1g prôtein có thể cung cấp 4 kcal nhiệt) Các yếu tố vi lượng và vitamin Ngoài các nhu cầu dinh dưỡng trên, người bệnh đái tháo đường luôn phải được cung cấp thêm các thành phần cần thiết khác cho cơ thể như vitamin, muối khoáng và các chất vi lượng. Việc sử dụng liều cao các chất chống ôxy hoá như vitamin C, vitamin E, bêta carolen và selenium không được chứng minh có tác dụng bảo vệ bệnh tim mạch, ung thư và đái tháo đường. Chỉ nên sử dụng nhiều loại vitamin với liều thấp trong trường hợp cần thiết khi xác định cơ thể thiếu vitamin. II.2.3. Nhu cầu cân đối hài hoà giữa các chất dinh dưỡng. Người đái tháo đường, cũng như bao người bình thường khác, luôn cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, các chất dinh dưỡng đó cần phải có sự cân đối hài hoà. Để phù hợp bữa ăn truyền thống của người Việt Nam và đặc điểm kinh tế-xã hội. Tỷ lệ các chất dinh dưỡng nên giữ ở người đái tháo đường là: + Các chất protid: 10-14% + Các chất béo (lipid): 18% + Các chất bột_đường (glucid): 50-60%. II.3- Chế độ ăn hợp lý cho người đái tháo đường và một số bệnh khác thường mắc kèm: II.3.1 Chế độ ăn hợp lý cho người đái tháo đường: Chúng ta nên biết, đối với người đái tháo đường, không có loại thức ăn nào là cấm kỵ chỉ có chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng từ mọi nguồn thức ăn mới đem lại cho cơ thể đủ chất dinh dưỡng cần thiết. Người đái tháo đường cũng như những người bình thường khác đều cần đến các chất dinh dưỡng như nhau. Tuy nhiên, ở người đái tháo đường cư thể sử dụng máu không tốt nên phải tuân thủ các yêu cầu đã nêu ở phần II.2.1. Và mục tiêu dài hạn của chế độ ăn này là giữ cân nặng của người bệnh ở mức lý tưởng. Một chế độ ăn tốt cho người đái tháo đường phải đảm bảo: + Bữa ăn hỗn hợp có đủ chất đạm, chất béo, các chất bột-đường, chất xơ, vitamin, muối khoáng và nước. a. Nguyên tắc chung của chế độ ăn hợp lý: ăn đều đặn và chia làm nhiều bữa: + Mục đích: tránh tăng đường huyết áp quá cao sau ăn nhưng cũng phải đảm bảo tránh hạ đường huyết áp lúc xa bữa ăn. ăn các thức ăn đa dạng, nhiều thành phần. ăn đủ. Hạn chế ăn chất béo, nhất là mỡ thực vật. Cần ăn thêm một lượng thích hợp các hạt mầm và chất xơ thực vật (rau). Tránh ăn đường glucose. Hạn chế ăn mặn, tránh lượng muối thừa. Tránh uống rượu Phải luôn luôn giữ được trọng lượng vừa phải, không quá béo cũng không quá gầy. Giá trị năng lượng (số calo) trong khẩu phần ăn hàng ngày phải được chọn phù hợp với trọng lượng thực tế của người bệnh, kích thước cơ thể, tuổi tác, giới tính và mức độ lao động. Chế độ ăn uống phảI cung cấp các thành phần tương đương nhau để quá trình chuyển hoá đường hàng ngày tương đương nhau và ổn định. Trong bữa ăn cần chú ý đến các thành phần protein, tinh bột, chất béo như phần II.2.3 đã đề cập. NgoàI ra còn phải có thêm các thành phần khác như vitamin, chất xơ thực vật, muối khoáng và các chất vi lượng. Loại bỏ các thành phần có chứa glucose như bánh ngọt, kẹo, mật và đồ uống ngọt. Bởi chúng có hàm lượng chứa đường “nhanh”, giúp hấp thụ nhanh và trực tiếp đường vào máu gây tăng lượng đường trong máu. Thay vào đó là ăn các thức ăn có nguồn gốc tự nhiên và chứa h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc15.doc
Tài liệu liên quan