Đề tài Công nghệ sau thu hoạch lúa gạo

Trước khi nhập hạt

- Quét dọn sạch kho cả trong lẫn ngoài.

- Tất cả các hư hỏng của kho cần được sửa chữa cẩn thận.

- Phun thuốc sát trùng toàn kho kể cả pallet, bao bì nhập kho Phải phun thuốc sát trùng ít nhất 5-7 ngày tùy loại kho trước khi nhập kho để thuốc đủ thời gian tiêu diệt vi sinh vật, côn trùng và bay hơi bớt.

- Kê các pallet hay lót các tấm chống ẩm đúng vị trí.

- Chuẩn bị sẵn mọi giấy tờ sổ sách, các dụng cụ lấy mẫu và các dụng cụ nhập kho.

 

doc42 trang | Chia sẻ: netpro | Lượt xem: 4168 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Công nghệ sau thu hoạch lúa gạo, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
máy để làm sạch hạt. Phương pháp này kéo dài thời gian thu hoạch, hao phí hạt cao nên hiện nay các nước có nền nông nghiệp sản xuất lớn ít dùng. III.3. Tuốt/suốt lúa Tuốt lúa là hoạt động làm tách hạt lúa khỏi bông lúa. Tuốt lúa thường sử dụng các nông cụ như đập bồ, tuốt bằng máy đạp chân và tuốt bằng máy suốt (máy phóng). Hiện nay khâu tuốt lúa bằng máy có vài điểm cần lưu ý: - Tỷ lệ hao hụt còn cao (khoảng 2 - 3%). - Tồn tại đến hạt giống: Do cấu tạo của trống đập và tốc độ quay nhanh làm cho hạt giống va đập mạnh vào vách thùng suốt hay bị cuốn đập mạnh nên làm cho hạt bị nứt. Để giảm bớt tổn thất về số lượng và chất lượng giống do khâu suốt, một số điểm cần được quan tâm đối với các cơ sở sản xuất lúa giống như: - Chọn mua máy suốt chất lượng: Tỷ lệ thất thoát dưới 1%, hệ thống quạt gié lúa, lưới sàng tạp chất và thiết kế động cơ với tốc độ quay của trống đập thích hợp và cần xem xét các răng trên trống đập (nhờ kỹ thuật viên cơ khí nông nghiệp tư vấn). - Vận hành máy: Người đứng suốt cần quan sát đống lúa, cắt dài hay ngắn, rạ ướt hay rạ khô, suốt ngay sau khi gặt hay ủ qua đêm, ... để điều chỉnh lượng nguyên liệu đưa vào máy suốt (vì thông thường chủ máy suốt cho động cơ chạy tốc độ cao và nạp lúa nhiều để hoàn thành sớm). III.4. Sấy lúa Lúa mới thu hoạch thường có độ ẩm cao nên dể nảy mầm; men, mốc và nấm trong lúa dễ phát triển làm cho lúa dễ bị hư hoặc kém phẩm chất. Nhìn chung độ ẩm của thóc khi mới thu hoạch về thường dao động từ 20 – 27% (tùy nơi, tùy lúc mà độ ẩm có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn). Lúa đập xong phải được làm sạch loại bỏ các chất như: đất, đá, cỏ dại, hạt lép lững, rơm rạ hoặc những tạp chất khác. Muốn lúa không bị hư hay giảm phẩm chất thì trong vòng 48 giờ sau khi thu hoạch phải làm khô lúa để xay xát liền hoặc để tồn trữ lâu dài, hay để làm giống mà yêu cầu làm khô và chế độ công nghệ sấy khác nhau. Quá trình sấy phải tiến hành như thế nào ấy để độ ẩm thoát ra từ từ, từng bước và độ ẩm mong muốn cần đạt được cũng như sự chênh lệch nhiệt độ trong hạt lúa nhỏ nhất. Độ ẩm an toàn của thóc cho bảo quản phụ thuộc vào tình trạng thái, khí hậu cũng như điều kiện bảo quản. Nhìn chung khi thóc có độ ẩm 13-14% có thể bảo quản được 2-3 tháng. Nếu muốn bảo quản dài hơn 3 tháng thì độ ẩm thóc tốt nhất là từ 12-12.5 %. Độ ẩm thóc công nghệ sấy cũng ảnh hưởng đến hiệu suất thu hồi gạo, tỷ lệ gạo gãy trong quá trình xay xát, độ ẩm tối thích cho quá trình sấy là 13-14%. Lúa có thể làm khô bằng phương pháp tự nhiên hay nhân tạo. Phương pháp tự nhiên chỉ trông chờ vào gió của trời đất, nhiệt năng trực tiếp hay gián tiếp của mặt trời để làm khô lúa. Làm khô nhân tạo nói chung là quá trình cưỡng bức một dòng khí nóng có khả năng hút ẩm đi qua lớp hạt, làm nóng hạt gây lên hiện tượng bốc hơi nước khỏi hạt, hút ẩm từ hạt, chuyển ẩm ra mặt ngoài hạt rồi chuyển vào không khí để đưa độ ẩm của hạt đến độ ẩm cần thiết thông qua quá trình sấy. Ø Phương pháp làm khô tự nhiên Lúa làm khô dưới ánh nắng mặt trời, trong bóng mát, phơi trên nền xi măng, sân gạch, trên nền đất nện, trong nong nia, trên các tấm polyetylen…Phương pháp này ít tốn kém, đầu tư thấp, được đa số nông dân trên thế giới áp dụng rộng rãi, vì dễ dàng sử dụng công lao động thừa trong gia đình, nhưng lại phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, lệ thuộc vào sân bãi. Phương pháp phơi nhanh: Lúa phơi lâu dưới ánh nắng mặt trời, thời gian ở trong nhiệt độ cao quá lâu khi trời nắng tốt, nhiệt độ không khí lên tới 400C. Nhiệt độ trên sân xi măng, sân gạch có thể lên tới 60 -70oC kết quả là nhiệt độ hạt lúa có thể lên trên 500C và nước bên trong hạt không đủ thời gian khuếch tán ra bên ngoài, làm cho hạt gạo bị nứt nẻ. Hiện tượng này gọi là hiện tượng rạn nứt do ánh nắng mặt trời. Do vậy nên khi xay xát, lúa sẽ cho tỷ lệ gạo gãy, gạo nát cao. Phơi theo cách này bà con chỉ cần phơi lúa từ 8, 9 giờ sáng đến 4,5 giờ chiều trong 2,3 ngày nắng tốt là lúa có thể xay xát được. Lúa được phơi thành luống, mỗi luống cao khoảng 10 -15 cm, rộng khoảng 40 -50cm và cứ nửa tiếng thì cào đảo một lần theo các hướng khác nhau. Phương pháp phơi lâu Theo phương pháp này thời gian phơi đòi hỏi phải dài hơn, và tốn lao động hơn nhưng bù lại gạo sẽ ít tấm hơn. Để phơi lúa cũng được trải thành luống như ở cách thức trên, nhưng ngày đầu tiên chỉ phơi lúa dưới ánh nắng mặt trời 2 giờ, ngày thứ hai chỉ được phơi nắng 3 giờ, ngày thứ 3 phơi 4 giờ. Cứ 15 phút các luống được cào đảo một lần theo các hướng khác nhau. Trong ba ngày đầu trong một thời gian ngắn lúa được phơi ngoài nắng, bà con nên để lúa ở nơi bóng mát, nhưng càng thoáng gió càng tốt. Các ngày sau đo lúa tiếp tục được phơi cho đến khi lúa có độ ẩm thích hợp cho việc xay xát hoặc tồn trữ .nếu nắng tốt thì đến ngày thứ tư thì độ ẩm của lúa có thể đạt tới 14%. Tức độ ẩm tới ưu cho tỷ lệ tấm thấp nhất khi xay xát. Ø Phương pháp làm khô nhân tạo Ưu thế của phương pháp là lúa có thể sấy vào bất cứ thời điểm nào, không phụ thuộc vào thời tiết nắng hay mưa, độ ẩm của hạt có thể khống chế hợp lý trong thời gian giới hạn và khi xay xát hiệu xuất thu hồi cao hơn so với phương pháp sấy tự nhiên. Có nhiều cách sử dụng nhiều thiết bị nhân tạo khac nhau. Dưới đây là một vài phương pháp sấy nhân tạo: Làm khô bằng không khí thông thường Lúa được chứa trong bồn sấy, nhà sấy hoặc lò sấy. Không khí thường được các quạt gió thổi qua các hệ thống phân phối gió đi qua các lớp lúa chứa trong thiết bị sấy. Phương pháp này chỉ áp dụng tốt ở những nơi có độ ẩm không khí thấp và nhiệt độ không khí cao. Phương pháp này thường được sử dụng với thóc mới thu hoạch chờ đợi thời tiết thuận lợi để phơi khô sấy kỹ, hoặc dùng để bảo quản lúa đã được phơi khô sấy kỹ trong kho siro hoặc dùng để phối hợp với các phương pháp sấy có gia nhiệt khác. Phương pháp sấy lúa với không khí nóng Dựa trên phương pháp gia nhiệt có thể chia thành nhiều phương pháp khác nhau: Phương pháp sấy đối lưu: Nguồn nhiệt cung cấp cho quá trình sấy là truyền nhiệt từ môi chất sấy đến vật liệu sấy bằng cách truyền nhiệt đối lưu. Đây là phương pháp dùng rộng rãi hơn cả cho sấy hoa quả và sấy hạt. Phương pháp sấy bức xạ: nguồn nhiệt cung cấp cho quá trình sấy là thực hiện bằng bức xạ từ một bề mặt nào đó đến vật sấy, có thể dùng bức xạ thướng, bức xạ hồng ngoại hoặc bức xạ hồng ngoại dãi tần hẹp. Phương pháp sấy tiếp xúc: nguồn cung cấp nhiệt cho vật sấy bằng cách cho tiếp xúc trực tiếp vật sấy với bề mặt nguồn nhiệt. Phương pháp sấy bằng điện trường dòng cao tần: nguồn nhiệt cung cấp cho vật sấy nhờ dòng điện cao tần nên điện trường cao tần trong vật sấy làm vật nóng lên. Phương pháp sấy thăng hoa: được thực hiện bằng làm lạnh vật sấy đồng thời hút chân không để cho vật sấy đạt đến trạng thái thăng hoa của nước, nước thoát ra khỏi vật sấy nhờ quá trình thăng hoa. Phương pháp sấy tầng sôi: nguồn nhiệt từ không khí nóng nhờ quạt thổi vào buồng sấy đủ mạnh và làm sôi lớp hạt, sau một thời gian nhất định hạt khô và được tháo ra ngoài. Phương pháp sấy phun: được dùng để sấy các sản phẩm lỏng. Mỗi phương pháp sấy đều thực hiện trên nhiều kiểu thiết bị khác nhau. Ví dụ sấy đối lưu thực hiên trên hai thiết bị chính: Thiết bị sấy tĩnh – sấy mẻ: gồm các thiết bị sấy giường phẳng vỉ ngang, thiết bị sấy buồng, thiết bị sấy kiểu lưới đứng. Máy sấy DAIKA DK5-GS và DK5-DL do hãng Advanced Dryer Systems của Mỹ nghiên cứu và chế tạo. Nhờ sử dụng không khí sấy đã được ngưng tụ hơi ẩm, nên tạo được không khí sấy khô nhưng nhiệt độ khá thấp (45-55oC), do đó đảm bảo hạt sấy có chất lượng cao. Máy sấy rất có hiệu quả trong điều kiện trời mưa hay ẩm ướt. Tuy nhiên, hiện nay giá máy còn cao nên nông dân khó chấp nhận. Máy đã đạt giải khuyến khích trong cuộc thi tuyển máy sấy lúa cho ĐBSCL năm 1998. Về cấu tạo, máy bao gồm 3 bộ phận chính là buồng sấy, động cơ và bơm nhiệt. Cách vận hành: đổ hạt đầy bồn sấy, khởi động máy nổ, sau khoảng 2-3 giờ thì tháo hạt để kiểm tra độ ẩm, nếu đạt độ ẩm yêu cầu thì dừng máy, tháo hạt; nếu chưa đạt thì tiếp tục sấy, để hạt nhanh khô và có độ đồng đều cao có thể tiến hành đảo hạt bằng cách tháo hạt (ở dưới) rồi lại đổ (lên trên) vào máy. Đặc tính kỹ thuật: Kích thước (D-R-C): 1.2x1.2x2.0 m Năng suất: 1250kg/mẻ Thời gian sấy: 5-6 giờ/mẻ (từ 28% xuống 18% ẩm) Công suất: 6.5 ngựa (động cơ xăng); 6-10 ngựa (động cơ diezen) Quạt li tâm: 4000m3/giờ; 25mm cột nước. Vốn đầu tư: 45-48 triệu đồng/máy. Ngoài mẫu máy trên còn một số kiểu với năng suất lớn hơn (2-2.5 tấn/mẻ) như DK8-GS, DK8-DL, DK8-EL. Thiết bị sấy động : gồm sấy hầm, sấy băng tải, sấy kiểu tháp, sấy tầng sôi, sấy thùng quay… Một trong các máy sấy thuận tiện phù hợp với quy mô hộ gia đình là loại mấy sấy SH1-200 do Viện công nghệ sau thu hoạch nghiên cứu, thiết kế đã được phát triển và sử dụng như một công cụ không thể thiếu của nhà nông để sấy hạt và hoa quả mang lại phù hợp. Đặc tính chung: Gọn, nhẹ, đơn giản, phù hợp với mọi đối tượng, làm khô nông sản tại chỗ, đặt biệt thích hợp cho vùng sâu vùng xa, miền núi, tiêu hao ít điện, nhiên liệu dùng phong phú. Cấu tạo gồm hai phần chính: Buồng sấy được thiết kế theo hình lưới đứng hình trụ (đường kính 760mm, cao 1000mm), thóc được chứa trong hình vành khuyên. Khí nóng được chứa trong hình trụ trong (đường kính 340mm, cao 800mm) đồng tâm với hình trụ ngoài. Phí trên hình trụ trong có một chóp hình đậy kín để khí nóng không thoát vô công ở đây. Giá đỡ toàn bộ phía dưới là một hình nón cụt có 3 cửa tháo liệu chia điều theo chu vi, mặt ngoài có 3 chân đỡ tiếp xúc với mặt đất. Có thể sử dụng cót thay thế lưới hình trụ ngoài bằng cách gia cường 6 cọc tre đều được; Cấp nhiệt: gồm 3 bộ phận: hệ thống tuy–e, quạt, bếp than tổ ong. Tuy-e (đường kính 100 mm) một đầu nối với quạt (90w, 150-200 m3/h) đầu còn lại nối với cửa vào của buồng sấy phía dưới giá đỡ. Khói lò từ bếp than (kiểu than tổ ong) được dẫn bằng đường ống nối với tuy-e dạng tiếp tuyến ngay tại điểm gần vùng áp suất nhỏ để tăng khả năng hút. Chụp hút khói lò từ bếp than có thể điều chỉnh độ cao để phù hợp với kích thước bếp và nhiệt độ cần dùng. Toàn bộ hệ thống được gắn chặt vào giá đỡ buồng sấy và một chân phụ. Nguyên tắc làm việc: Máy sấy SH1-200 là loại mấy sấy tĩnh, sấy theo mẻ, mỗi mẻ 180-220kg thóc. Máy dựa trên nguyên lý đối lưu, dòng không khí nóng được ống hút 4, hút từ lò 2, nhờ quạt 1, đẩy hỗn hợp khí nóng đi theo ống dẫn gió vào buồng cấp nhiệt lồng dưới trong 10 (lõi trong của tuy–e được quạt thổi không khí mát vào để tạo áp suất hút khói lò, từ bếp than hòa trộn vừa đủ tới nhiệt độ mong muốn rồi đưa vào buồng sấy). Nhờ cấu tạo bằng lưới không khí nóng được đi qua lớp sấy ở buồng 9 dễ dàng. Dòng không khí nóng làm nóng vật liệu sấy và chuyển ẩm đó ra ngoài không khí qua lưới 9. Như vậy quá trình sấy được thực hiện cho đến khi đạt độ ẩm cần thiết. Ø Trong quá trình sấy cần chú ý đến các vấn đề sau: Không nên sấy trực tiếp hạt bằng khói lò đốt. Khói lò đốt sẽ dễ làm hạt quá lửa và nhiễm mùi khói lò. Chúng sẽ làm giảm giá trị cảm quan của hạt sau sấy và tích lũy độc tố trên hạt lúa. Không sấy hạt ở nhiệt độ quá cao (100oC), vì chất lượng hạt sẽ thay đổi mạnh (mất sức sống, giảm tỉ lệ nảy mầm, giá trị dinh dưỡng giảm,…). Nhiệt độ sấy thường dao động trong khoảng 40-80oC. Nâng dần nhiệt độ từ từ khi sấy để tránh sự nứt vỏ, sự hồ hóa…trên bề mặt hạt. III.5. Phân loại và làm sạch hạt Loại các hạt lép, tạp chất nhẹ và tạo sự đồng nhất tối đa cho khối hạt: dùng quạt điện, sàng và lựa bỏ các tạp chất còn lẫn trong lúa. Bảo quản lúa IV.1. Nguyên tắc bảo quản lúa: Kích thích hoạt động của các VSV và enzyme đặc biệt. Loại bỏ các VSV và các chất gây nhiễm bẩn. Ức chế hoạt động của các enzym và VSV gây hư hỏng. Tiêu diệt các VSV và làm mất hoạt tính của các enzyme. IV.2. Một số phương pháp bảo quản lúa phổ biến Bảo quản ở trạng thái khô: dựa trên độ ẩm cân bằng, ẩm an toàn. Phơi nắng Sấy bằng không khí nóng Sấy bằng không khí khô Dùng hóa chất hút nước như H2SO4 hay CaCl2. Phương pháp này có ưu điểm là bảo quản hạt lâu dài. Tuy nhiên cần lưu ý phương pháp sấy khô trước khi bảo quản vì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sau này của hạt như khả năng xay xát hạt, tính chất công nghệ, giá trị dinh dưỡng, cảm quan và khả năng nảy mầm của lúa. Bảo quản ở trạng thái thoáng gió tích cực: Bảo quản thoáng là phương pháp bảo quản bằng cách để khối nông sản tiếp xúc với môi trường ko khí xung quanh dễ dàng nhằm điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm trong kho và khối nông sản một cách kịp thời thích ứng với môi trường bảo quản. Do đó giữ được thuỷ phần và nhiệt độ của khối nông sảm ở trạng thái an toàn. Bảo quản thoáng dùng 2 kiểu thông gió: tự nhiên, tích cực. Bảo quản kín là đình chỉ sự trao đổi ko khí giữa nông sản với môi trường bên ngoài giữ cho khối nông sản luôn ở trạng thái an toàn. Bảo quản kín còn có nghĩa là bảo quản trong điều kiện thiếu oxy, để hạn chế quá trình hô hấp của nông sản, khống chế sự phát sinh, phát triển phá hoại của vi sinh vật và côn trùng. Lúa sau khi được phân loại và làm sạch sẽ được đem sử dụng hay cất giữ để bảo quản. Lúa được bảo quản ở 2 dạng: Ø Bảo quản lúa đổ rời Độ ẩm dưới 14%, làm sạch để tạp chất dưới 2%. Lúa tươi mới thu hoạch độ ẩm 22¸25% phải chờ làm khô đến độ ẩm trên. Vệ sinh và sát trùng kho trước khi nhập vào 7 ngày. Xử lý bảo quản bằng các chế phẩm sinh học trên mặt, trường hợp nhiễm côn trùng nặng thì dùng các biện pháp hóa học theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn. Cho lúa trực tiếp vào kho và dụng cụ chứa. Kho và dụng cụ kê lót phải được vệ sinh khử trùng, xung quanh tường kho phải kê gỗ tránh tiếp xúc vào tường. Khi đưa lúa vào kho tránh giẫm đạp, tránh bị nén chặt, ẩm nhiệt khó thoát ra ngoài dễ gây hiện tượng tự bốc nóng, men mốc. Cần có thông gió và cào đảo. Cào đảo lớp mặt thành làn sóng hoặc thành luống cao 40¸50cm, đổi chiều và định kỳ 15¸30 ngày/lần. Khi lúa bị bốc nóng mạnh cần cào đảo theo cách đào giếng sâu 1¸1.5m ở những chỗ bốc nóng. Biện pháp này chi phí thấp nhưng lúa hay hút ẩm, nóng cục bộ, nhiễm sinh vật hại, tốn công cào đảo, vận chuyển và chất lượng không đảm bảo. Ø Bảo quản lúa trong bao: Đây là phương pháp bảo quản phổ biến nhất. Lúa đạt yêu cầu bảo quản phải có độ ẩm dưới 14%, tạp chất dưới 2%. Lúa trước khi đóng bao cần xử lý chống mốc và côn trùng (đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm). Kho chứa lúa phải được dọn vệ sinh và khử trùng trước 7 ngày. Sàn kho chứa lúa phải được kê lót bằng bục gỗ hoặc lớp trấu sạch khô 20cm. Lúa được xếp thành từng lô từ 15¸18 lớp bao, độ cao không quá 4m. Lớp bao trên cùng cách trần kho tối thiểu 1m. Lô cách lô ít nhất 1m và cách trường 0.5m. Giữa các lô có rãnh thông gió theo khoảng cách năm hàng bao ngang từ dưới lên và cứ năm lớp bao thì đặt 1 rãnh thông gió và chạy dài theo các lô hàng ra giếng thông gió. Phương pháp này đơn giản nhưng có nhược điểm là lúa chịu ảnh hưởng của không khí nóng ẩm cục bộ dễ nhiễm vi sinh vật và côn trùng. Để đảm bảo chất lượng hạt trong kho, ngoài việc đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật thì cần tuân thủ các quy tắc vận hành kho. Các quy tắc được lập ra từ khâu chuẩn bị kho cho đến khâu xuất hết hạt và được gọi là “quy phạm về bảo quản thóc”. Tại Việt Nam, các quy phạm này có thể tìm thấy trong các bộ tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về bảo quản thóc gạo và đậu đỗ. Ngoài ra, trong mỗi ngành lại sẽ có các bộ tiêu chuẩn ngành riêng để đảm bảo yêu cầu của ngành. Ví dụ, Bộ trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 34/2004/QĐ-BTC ngày 14/4/2004, trong đó có quy phạm về bảo quản thóc dự trữ quốc gia và bảo quản gạo dự trữ quốc gia. Riêng trong trường hợp bảo quản nhỏ tại hộ gia đình, các cơ quan khuyến nông đã đưa ra các khuyến cáo để đảm bảo chất lượng hạt: Trước khi nhập hạt - Quét dọn sạch kho cả trong lẫn ngoài. - Tất cả các hư hỏng của kho cần được sửa chữa cẩn thận. - Phun thuốc sát trùng toàn kho kể cả pallet, bao bì nhập kho… Phải phun thuốc sát trùng ít nhất 5¸7 ngày tùy loại kho trước khi nhập kho để thuốc đủ thời gian tiêu diệt vi sinh vật, côn trùng và bay hơi bớt. - Kê các pallet hay lót các tấm chống ẩm đúng vị trí. - Chuẩn bị sẵn mọi giấy tờ sổ sách, các dụng cụ lấy mẫu và các dụng cụ nhập kho. Nhập hạt vào kho - Nhập hàng đúng chủng loại, đúng chất lượng. ghi chú thời gian xuất nhập rõ ràng. - Hạt sắp xếp trong kho theo từng lô hàng có kích thước nhỏ hơn 200 tấn. Không được để lẫn loại các giống hạt khác nhau. - Không nên chất quá cao. Chiều cao của đống hạt được quyết định dựa trên từng loại hạt, kích cỡ, độ ẩm và dạng bảo quản. Ví dụ bảo quản hạt nguyên thì chiều cao nhỏ hơn 3.5cm. - Đối với hạt đổ rời, nếu là nhập kho bằng máy, xác định chính xác vị trí của ống hạt ra. Nếu nhập hạt thủ công, người đổ hạt phải đi trên cầu đổ hạt và đổ hạt đúng vị trí quy định, nhặt hết dây buộc, rơm rác còn lẫn trong hạt. Đặt ống thông hơi đúng vị trí. Mặt đống cần được trang phẳng, có thể đánh luống. Cẩn thận tránh té vào đống hạt trong quá trình nhập hạt có thể gây nguy hiểm chết người. - Nếu hạt đóng bao phải được xếp trên các pallet cũng thành từng lô có khối lượng hạt nhỏ hơn 200 tấn. khoảng cách giữa các lô là 1m và khoảng cách giữa một lô và bức tường là 0.5m. Chiều cao một lô tương đương từ 15 đến tối đa 20 lớp bao và giật thành ba cấp, cấp ở trên xếp lùi vào so với cấp ở dưới là 0.3m. trong mỗi lớp các bao được xếp theo kiểu chồng ba hoặc chồng năm và cài khóa vào nhau, đảm bảo cho khối hạt không bị nghiêng, đổ trong quá trình lưu kho, gọn đẹp về hình thức. - Phải tạo giếng và rãnh thông gió giúp giải nhiệt cho đống hạt. Mỗi lô từ 100¸150 tấn để một giếng, từ 150¸200 tấn để 2 giếng. Kích thước giếng 1m x 1m. Giếng được tạo từ bề mặt lớp kê lót đỉnh lô. Các rãnh thông gió được tạo theo cả hai hướng, một rãnh dọc và một hoặc hai rãnh ngang (tùy thuộc số lượng giếng). Rãnh được tạo ở cả ba cấp giật hoặc hai cấp từ dưới lên, rãnh nối kthoong với giếng thông gió, bề rộng của rãnh là 0.3m và cao tối thiểu 0.3m. Sau khi nhập hạt vào kho Thủ kho cần điền hoàn chỉnh các giấy tờ nhập kho, thu dọn vệ sinh, quét dọn sạch sẽ hạt rơi vãi, nhặt sạch rác bẩn, lắp đặt các dụng cụ chống chim chuột, treo rèm chống côn trùng và nếu cần thì phun thuốc phòng và diệt vi sinh vật. Kiểm tra ống, kênh thông gió đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ. Trong quá trình bảo quản Cào đảo, đánh luống đối với hạt đổ rời khi thời tiết thuận lợi. Ví dụ đối với thóc mới nhập trong tháng đầu tiên nên 3 ngày cào đảo 1 lần; đến tháng thứ 2 và thứ 3 nên 5 ngày cào đảo 1 lần; từ tháng 4¸6 thì 7 ngày/lần; từ tháng thứ 7¸12 nên 10 ngày/lần và từ tháng thứ 13 trở đi cứ nửa tháng/lần. Cần lựa chọn điều kiện thời tiết thuận lợi, độ ẩm không khí nhỏ hơn 80% và nhiệt độ ngoài trời nhỏ hơn nhiệt độ trong kho để đóng mở các cửa thông gió. - Làm vệ sinh sạch sẽ trong và ngoài nhà kho, dãy cỏ, loại bỏ hết nơi chuột có thể cư trú… - Thường xuyên kiểm tra các hiện tượng bất thường có thể xảy ra như sự tăng nhiệt và ẩm bất thường tại một vị trí của đống hạt, mầm mống của quá trình tự bốc nóng. Sự có mặt của vi sinh vật và các động vật gây hại sẽ làm tổn hại chất khô và nhiều tác hại khác. Vì vậy, khi khối hạt đang ở trạng thái an toàn, cần định kì kiểm tra các biến đổi trong kho bảo quản. Nếu có dấu hiệu bất thường, hạt đang ở trạng thái không an toàn, phải kiểm tra thường xuyên và phải lập tức xử lý. Ví dụ khi hạt quá ẩm thì cần thông thoáng hay sấy lại hạt; nếu côn trùng phát triển cần phun thuốc diệt trùng...Khi gặp thiên tai cần đột xuất kiểm tra và có các biện pháp đặc biệt bảo vệ lương thực trong kho. Chu kỳ kiểm tra hạt bao gồm: - Kiểm tra hàng ngày tình trạng chung của đống hạt và nhà kho, nhiệt độ và độ ẩm của không khí, kiểm tra dấu vết của chuột, chim xâm nhập. - Kiểm tra hàng tuần nhiệt độ đống hạt đổ rời. - Kiểm tra một tháng hai lần mật độ vi sinh vật và côn trùng trong đống hạt. - Đối với các nhà kho hiện đại, ví dụ như hệ thống silo, ngay khi thiết kế kho đã có sẵn các đầu dò nhiệt độ và độ ẩm nối liền với hệ thống máy tính để nhanh chóng xử lý các biến đổi bất thường. Xuất kho - Cần lấy mẫu xác định chất lượng hạt trước khi xuất kho - Nếu xuất kho dạng thủ công: Xúc hạt phải đúng vị trí quy định, đảm bảo yêu cầu gọn, sạch, chính xác. - Nếu xuất kho dạng tự động: Kiểm tra cân cẩn thận, ghi chú các chi tiết. - Sau khi xuất hết hạt cần thu dọn, quét sạch và phun thuốc sát trùng, sửa chữa các chi tiết hư hỏng. - Lưu ý trong các kho lớn, các kho kín hay trong các silo, khi hạt đã xuất hiện, cần kiểm tra nồng độ khí CO2 và oxy trong kho trước khi vào kho để tránh nguy hiểm do thiết dưỡng khí. Do đó việc thiết kế và xây dựng kho bảo quản lúa đạt yêu cầu kỹ thuật là việc làm hết sức quan trọng. Trong đó, kho phải là rào chắn tốt nông sản với ảnh hưởng xấu của môi trường, kho phải chắc chắn, thuận lợi về giao thông, được cơ giới hóa và kho phải chuyên dụng. Vì kho bảo quản không chỉ đơn giản là một nơi chứa đựng lúa mà còn là nơi chất lượng lúa được bảo quản, thậm chí được nâng cao. Hiện nay trên thế giới đã có những kho bảo quản hạt có dung tích chứa đến hàng trăm nghìn tấn được cơ giới hóa, tự động hóa và hoạt động như một xí nghiệp bảo quản. IV.3. Một số quy trình bảo quản lúa IV.3.1. Quy trình bảo quản lúa đổ rời Chuẩn bị thóc Chuẩn bị kho Kiểm tra thóc trước khi nhập Cân, nhập thóc Đổ thóc vào kho Trang phẳng mặt thóc Lấy mẫu kiểm nghiệm bằng dụng cụ kĩ thuật Hoàn chỉnh quá trình chín sau thu hoạch Bảo quản bằng phương pháp thông thoáng tự nhiên: - Định kỳ kiểm tra chất lượng khối hạt. - Cào đảo, thông gió. - Diệt chim chuột, côn trùng hại - Xử lý sự cố (nếu có) Kiểm nghiệm trước khi xuất Xuất kho Bảo quản bằng phương pháp phủ kín: - Định kỳ kiểm tra chất lượng khối hạt. - Xử lý sự cố (nếu cố) Kiểm tra, xử lý chất lượng thóc - Chuẩn bị vật liệu phủ kín (trấu, vật liệu thay thế khác) - Xử lý vật liệu phủ kín. Thu hái, tuốt Sấy, làm sạch IV.3.2. Quy trình bảo quản lúa đống bao Chuẩn bị kho Sát trùng kho không, bao bì, palet, cót (lưới). Thực hiện kê lót Kiểm tra thóc khi nhập kho Kiểm tra thóc sang bao tại cửa kho theo mẫu đã phân tích Cân, nhập thóc bao vào kho, chất xếp theo quy trình kỹ thuật Kiểm nghiệm trước khi xuất Bảo quản bằng phương pháp thông thoáng tự nhiên: - Thông gió - Diệt chim chuột, côn trùng - Xử lý sự cố (nếu có) - Phòng trùng, sinh vật hại Xuất kho Chuẩn bị thóc Lấy mẫu trên phương tiện kiểm tra chất lượng Lấy mẫu kiểm nghiệm bằng dụng cụ kỹ thuật Thu hái, tuốt Sấy, làm sạch V. Bảo quản gạo V.1. Một số thiết bị liên quan: V.1.1. Máy bóc vỏ trấu: nhiệm vụ của máy bóc vỏ trấu là tách vỏ trấu ra khỏi hạt gạo với độ tổn thương thấp nhất (bóc lớp cám, làm rạn nứt hoặc vỡ hạt). Tuy nhiên, trong thực tế để bóc vỏ, hiện dùng các phương pháp ma sát, vì vậy một lượng nhỏ hạt bị nứt vỡ là không tránh khỏi. Hiện có hai loại máy bóc vỏ trấu sử dụng phổ biến trên thế giới, kể cả ở Việt Nam là máy bóc vỏ kiểu đĩa và máy bóc vỏ kiểu ru lô cao su. Ø Máy bóc vỏ kiểu đĩa: Máy bóc vỏ kiểu đĩa là máy do các nước châu Âu sản xuất trước tiên. Đến nay, mẫu máy này đã phổ biến trên thế giới. Máy bóc vỏ kiểu đĩa gồm 2 đĩa bằng thép, mỗi đĩa được phủ một lớp chất mài mòn trên một bề mặt( bột đá trộn chất kết dính), đĩa trên cố định lắp cứng vào khung máy, đĩa dưới quay. Đĩa dưới quay có thể điều chỉnh theo phương thẳng đứng để điều chỉnh khe hở giữa 2 đĩa. Khối lúa đưa vào máy qua phễu 6, điều chỉnh lượng cung cấp bằng ống ren 5 (thay đổi khoảng cách giữa đầu ống và mặt trên đĩa). Dưới tác dụng của lực ly tâm, lúa di chuyển và bị ép vào giữa lớp vỏ áo 2 đĩa. Dưới áp lực và sự ma sát, phần lớn hạt lúa được bóc vỏ. Toàn bộ hỗn hợp sau khi qua máy gồm lúa đã bóc vỏ (gạo lức, vỏ trấu, lúa chưa bóc vỏ, mảnh gạo vỡ) thu tại cửa 10. Việc điều chỉnh này là cần thiết, tùy thuộc vào kích thước hạt, giống lúa và tình trạng mài mòn lớp đá trên đĩa. Việc điều chỉnh là quan trọng, cần kiểm tra thường xuyên để không xảy ra tình trạng vỡ hạt quá nhiều hoặc hiệu suất bóc vỏ không cao (lượng lúa chưa bóc vỏ còn nhiều). Việc điều chỉnh theo phương thẳng đứng cửa đĩa quay dưới. Bề rộng lớp mài mòn từ 1/6 đến 1/7 đường kính đĩa. Vận tốc tiếp tuyến ( tương ứng đường kính đĩa) khoảng 14m/s. Khi sử dụng, lớp vỏ áo mòn không đều trên bề mặt vỏ áo, làm tăng áp lực lên hạt lúa giữa 2 đĩa làm tăng độ vỡ hạt. Vì vậy, cần thường xuyên kiểm tra và phục hồi bề mặt cho lớp vỏ áo. Cần chú ý kiểm tra tình trạng kỹ thuật của máy , bôi trơn định kỳ các vị trí theo quy định của nhà sản xuất ( ổ lăn, ổ trượt). Ø Máy bóc vỏ kiểu ru lô cao su: Máy bóc vỏ kiểu ru lô cao su do Nhật Bản sản xuất trước tiên. Máy gồm 2 ru lô (gang) phủ lớp cao su. Một ru lô quay cùng với trục, không đổi vị trí (tạm gọi là trục cố định). Ru lô thứ 2 cùng quay trên trục có thể thay đổi vị trí (trục di động) để thay đổi khoảng cách giữa 2 ru lô. Hai ru lô nhận truyền động từ động cơ điện qua hệ thống truyền động đai hoặc bánh răng. Hai ru lô cùng đường kính (khi còn mới) quay ngược chiều và chênh lệch vận tốc khoảng 25%, đường kính ru lô mới từ 150 đến 250mm, bề rộng từ 64 đến 250 mm, tốc độ làm việc khoảng 14m/s. Kích thước ru lô lớn, năng suất bóc vỏ cao. Nguyên tắc hoạt động: khi hạt lúa rơi vào giữa hai ru lô khe hở giữa hai ru lô nhỏ hơn bề dày hạt lúa

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBảo quản lúa gạo.doc
Tài liệu liên quan