Giáo trình Tuyển tập tâm lý học

Phương pháp hoạt động - nhân cách là

phương pháp nghiên cứu tâm lý con người bằng cách

phân tích đời sống tâm lý người ra thành đơn vị hànhđộng. Như vậy chúng ta có thể giải quyết được vấn đề

cơ bản của tâm lý học là vấn đề bản chất của tâm lý,

qua đó góp phần xây dựng một quan niệm mới về

cuộc sống, về con người, khác hẳn với quan niệm "con

người trung bình" mà tâm lý học phân tâm có phần

đóng góp, hay quan niệm "người - máy" mà thuyết

hành vi ra sức cổ vũ. Phương pháp ấy cũng mở ra

những con đường đầy hứa hẹn trong việc vận dụng

tâm lý học vào phục vụ thực tiễn, ví dụ, vào sự nghiệp

giáo dục, cải tạo, xây dựng con người, cũng như vào

tất cả các ngành cần chú ý tới yếu tố con người (mà

không hiểu có ngành nào lại có thể không cần tới yếu

tố này!). Ngày nay, ai cũng biết đến những thành tựu

đầy tính nhân đạo mà tâm lý học thần kinh đã đạt

được. Các thành tựu ấy đã góp phần to lớn vào việc

hồi phục các chức năng não bị tổn thương. Hoặc như

tâm lý học quản lý cũng đã có những đóng góp cho

thực tiễn xã hội, v.v

pdf1476 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 515 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình Tuyển tập tâm lý học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hoạt động chính trị, khoa học, nghệ thuật". Nhưng không thể đồng ý với Skinơ rằng trong công việc của người thầy giáo và thầy thuốc chỉ thấy có các cử động tạo tác nhằm tới các củng cố tiền bạc. Vì vậy, người ta coi "công nghệ hành vi", như lời chính những người Mỹ dùng để phê phán Skinơ, là thứ "công nghệ phù hợp với xã hội Mỹ hiện đại. Rõ ràng là, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, "không phải công nhân mà các nhà tư bản giữ vai trò đại diện cho lao động chung của xã hội". Theo thuyết hành vi xã hội của Skinơ, các nhà tư bản chứa đựng những củng cố chung nhất, vì họ nắm tất cả các nhân tố củng cố chủ yếu trong tay. Mọi người thấy ngay vị đại diện của nền tâm lý học Mỹ hiện đại bảo vệ ai. Thế là, càng theo thuyết hành vi tạo tác càng không hiểu được rằng, trong hình thái xã hội tư hữu, bản chất xã hội của lao động trở thành lực lượng xa lạ, thù địch với người lao động, người lao động càng trở nên tha hoá, và đương nhiên họ không thể nào làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm chủ tự nhiên. Các tác động giữ vai trò củng cố đối với toàn xã hội nằm trong tay những người nắm tư bản. Kết quả không phải "tất cả chúng ta là những người kiểm tra". Chỉ có bọn tư bản mới có thể là những người thuộc loại này. Còn tất cả các thành viên khác trong xã hội đều thuộc loại người bị kiểm tra, những người lao động chịu một bề tuân thủ các quy luật tạo tác chỉ còn một con đường là cúi đầu theo “số phận", tuân thủ quyền lợi của bọn tư bản. Thật khó có thể không đồng ý với ý kiến này của Chômxki là ý đồ "hành vi hóa” con người và xã hội của Skinơ thật sự bị thất bại. Cơ sở ban đầu của mọi thuyết hành vi bộc lộ rõ rệt trong hệ thống thuyết hành vi xã hội của Skinơ - ông muốn đề cao học thuyết của mình và đưa nó lên vị trí học thuyết triết học chính thống của xã hội hiện đại. Đối tượng của các công trình nghiên cứu tâm lý của ông và các cộng tác viên chỉ là một phần không đáng kể các biểu hiện cơ thể của hoạt động ở con người, phần này gọi là hành vi tách ra trong mối quan hệ với một số kích thích củng cố nào đấy. Trong cung cách "hành vi hoá", nguyên tắc phản ứng của hành vi, như chúng tôi đã chỉ ra, thể hiện trong quan điểm của Skinơ, vì quá trình con người thích nghi thụ động với hoàn cảnh xung quanh có chứa đựng củng cố. Sống còn trở thành mục đích chủ yếu và cao cả nhất của con người thích nghi. Con người đã bị nhà hành vi triệt để quy về "một mớ chất nguyên sinh phản ứng" Skinơ đưa con người thành một cái máy vật lý tự động, tức là có chuyện phi nhân văn hoá con người. Và cuối cùng tư tưởng điều khiển hành vi người của thuyết hành vi đạt đến đỉnh cao trong việc vận dụng thuyết hành vi xã hội vào thực tiễn dưới dạng "công nghệ hành vi". Thuyết hành vi xã hội của Skinơ là đoạn kết bi thảm của thuyết hành vi cấp tiến. Và bản thân tác giả, người đề nghị xây dựng một xã hội theo hình mẫu phát xít, cũng bị quẳng ra bên lề của tự do và nhân phẩm. V. LỰA CHỌN Skinơ đã đưa "thuyết hành vi chân chính" tới tình trạng làm cho giới tiến bộ trong xã hội và các nhà tâm lý học thất vọng. Trong chuyên khảo cuối cùng về thuyết hành vi (1979), ông đã tự thú nhận điều đó: "Chúng tôi không thể nói rằng khoa học về hành vi bị thất bại, nhưng nó có bị rạn nứt". Cũng trong cuốn sách này, tác giả kêu gọi giới làm ăn và những người có ảnh hưởng trong xã hội Mỹ đang nắm các vấn đề thực tiễn, hãy quay trở lại luận điểm công cụ và hành vi người do các nhà hành vi đề ra. Tâm lý học Mỹ, và chẳng phải riêng Mỹ, đặt ra vấn đề phát triển khoa học tâm lý theo con đường nào? Theo con đường tâm lý học hành vi hay không theo con đường đó? Từ cuối những năm 40 đầu những năm 50, ngay các nhà tâm lý học càng lên tiếng đòi "nhân văn hoá" tâm lý học, tức là hãy trả lại con người cho tâm lý học. Thế là xuất hiện các phương hướng mới: tâm lý học hiện sinh và tâm lý học nhân văn. Hai dòng tâm lý học này có chung một lập trường đối với tâm lý học hành vi, cả hai đều quay về tâm lý học hiện tượng luận. Tâm lý học hiện tượng luận có những nét cơ bản sẽ nêu dưới đây. Các dòng phái này tỏ ra đúng đắn khi phủ nhận việc quy tâm lý người vào những hiện tượng đơn giản, như các hiện tượng cơ học, vật lý, hoá, sinh lý, cũng như khi khắng định sơ đồ S - R không nói lên bản chất của con người và tâm lý con người. Họ đòi hỏi tâm lý học nghiên cứu con người hoàn chỉnh. Theo Bugentan, chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn tâm lý học nhân văn ở Mỹ, con người hoàn chỉnh là con người "có ý thức, có khả năng lựa chọn", con người "có ý định", hay theo Máxlâu, một trong những thủ lĩnh của tâm lý học hiện sinh, con người, đó là "cái tôi" chân chính và bộc lộ toàn bộ", sự tồn tại của con người là thực tại đầu tiên của con người. Theo định nghĩa của M.Vêrét, trong quan niệm hiện sinh chủ nghĩa, tồn tại là cái được trải nghiệm, đó là chủ thể cảm thấy mình là có tồn tại, chứ không phải sự tồn tại vật chất, khách quan. Con người bị trừu tượng hoá khỏi xã hội và thế giới xung quanh, con người trong hệ thống hành vi chỉ là chức năng của kẻ mang các cử động cơ thể, bây giờ chuyển thành con người trừu tượng đắm mình trong thế giới các trải nghiệm cá nhân khép kín. Vì vậy, các nhà tâm lý học hiện sinh và nhân văn yêu cầu không chỉ nghiên cứu hành vi "mở" của con người, tức là hành vi như là các phản ứng quan sát được, mà còn nghiên cứu hành vi "kín" bao gồm cả những phản ứng không quan sát được. Đó cũng là yêu cầu nghiên cứu trải nghiệm chủ quan của con người. Đối tượng của các công trình nghiên cứu ấy là những vấn đề quan hệ con người, tự do, trách nhiệm, ý nghĩa, giá trị, v.v..., là những thứ được coi là những trải nghiệm có từ đầu trong thế giới nội tâm. Điều có thể rút ra từ đó chỉ có phương pháp hiện tượng luận, phương pháp tự quan sát là phương pháp phù hợp nhất đối với việc nhận thức bản chất các hiện tượng tâm lý. Tâm lý học thông hiểu được khôi phục hoàn toàn, tất nhiên có biến dạng đi đôi chút. Tóm lại, sau nửa thế kỷ tâm lý học hành vi tồn tại và phát triển, tâm lý học Mỹ hiện đại đã cố sức vươn tới tâm lý học khách quan nên bây giờ, như chính các nhà tâm lý học Mỹ nhận xét, lại đứng trước tình trạng có mặt của cả hai nền tâm lý học là tâm lý học giải thích và tâm lý học mô tả. Tâm lý học giải thích là thuyết hành vi mới và thuyết hành vi cấp tiến hiện đại; tâm lý học mô tả là tâm lý học hiện tượng luận bao gồm tâm lý học hiện sinh và tâm lý học nhân văn. Có ấn tượng rằng kim đồng hồ lịch sử tâm lý học quay một vòng, lại trở lại thời đại trước Oátxơn. Chính vì vậy, Gingen mô tả lịch sử phát triển tâm lý học như sau: “Hết thời kỳ thuyết tâm linh non dại (1860 - 1915), đến thời kỳ thuyết hành vi hạn chế nhưng có kết quả (1915 - 1970), rồi tâm lý học lại bước vào thời kỳ tâm linh trưởng thành". Một câu hỏi đặt ra là: Vì sao tâm lý học cũ lại một lần nữa quy phục thuyết tâm linh? Đó là vì: 1. Đặc trưng của nền tâm lý học này là dựa vào quan điểm hiện tượng luận duy tâm và coi tâm lý như là cái gì đó tồn tại bên trong chủ thể, tức là tách biệt khỏi thế giới đối tượng xung quanh; nó cũng không gắn bó gì với hoạt động của con người - những hoạt động mà nhờ chúng, con người có quan hệ với thế giới. 2. Nền tâm lý học cũ có nét đặc trưng khác là một số các người đại diện của nó, tương tự như các nhà hành vi, quay ra nghiên cứu hành vi người với tư cách là một số hiện tượng bề ngoài, chủ yếu là các phản ứng cử động của cơ thể người. Đó là hậu quả tất yếu do các kích thích gây ra. Còn các nhà tâm lý học khác mất hy vọng vào thuyết hành vi và chạy sang phe tâm lý học hiện tượng luận, chia hành vi người ra thành hai phần - phần bên ngoài và phần bên trong, và coi rằng hai phần này ít gắn bó với nhau: phần thứ nhất bao gồm các biểu hiện phản ứng cửa cơ thể người, phần thứ hai bao gồm các trải nghiệm chủ quan bên trong của nhân cách. Nếu có nhận xét một vài quan hệ giữa hai phần đó, thì phần thứ nhất phụ thuộc vào phần thứ hai. 3. Phải đặc biệt nhấn mạnh rằng, sai lầm phương pháp luận có tính nguyên tắc của tất cả các dòng phái tâm lý học không mác-xít là ở chỗ không có một dòng phái nào trong đó có luận điểm thực sự khoa học về con người - luận điểm có khả năng chỉ ra cho các nhà tâm lý học thấy được chất lượng đặc thù trong tâm lý học hành vi người. Created by AM Word2CHM TUYỂN TẬP TÂM LÝ HỌC à Quyển II. HÀNH VI VÀ HOẠT ĐỘNG à Phần 2. TÂM LÝ HỌC HÀNH VI Các nhà nghiên cứu Liên Xô và các nước khác đã phân tích lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học hành vi. Mục đích chúng tôi đặt ra ở đây là phê phán trào lưu hành vi, chủ yếu là nhấn mạnh vào luận điểm tự nhiên chủ nghĩa về con người, nó đánh đồng hành vi người và hành vi động vật, nhấn mạnh vào phương pháp tiếp cận thực chứng luận đối với hành vi như là đối tượng nghiên cứu, phương pháp tiếp cận này chỉ lấy các phản ứng quan sát được từ ngoài làm các cứ liệu duy nhất của tâm lý học; và cuối cùng, tập trung phân tích quan điểm vứt bỏ ý thức ra ngoài phạm vi tâm lý học như là kết quả của việc tách biệt một cách máy móc ý thức và hành vi. Có thể nói rằng, nếu đối với tâm lý học thời đó, ý đồ của Watson muốn xây dựng một nền tâm lý học khách quan là một tư tưởng tiến bộ, cần thiết để đưa khoa học tiến lên, thì trong luận điểm và phương pháp tiếp cận vừa nêu đã chứa đựng các tiền đề sai lầm trong việc thực hiện ý đồ đó. Chương IV. NGUYÊN NHÂN TAN RÃ CỦA TÂM LÝ HỌC HÀNH VI Bất cứ phê phán hay phân tích một trường phái hay một lý thuyết khoa học nào, cũng đều phải xuất phát từ một lập trường nhất định. Lập trường của chúng tôi là nguyên tắc lịch sử đã hình thành trong tâm lý học mác-xít. Đó là nguyên tắc quan trọng bậc nhất đối với việc phân tích lịch sử khoa học. Vận dụng vào việc xem xét bộ máy khái niệm của tâm lý học hành vi cổ điển, nguyên tắc ấy cho phép làm sáng tỏ "hạt nhân hợp lý" của lý thuyết tâm lý học mới này, và chính nhờ có "hạt nhân" này, lý thuyết đó có thể nảy sinh và phát triển được. Nguyên tắc lịch sử cũng giúp chúng ta phát hiện ra cả những mặt hạn chế của lý thuyết đó, những mặt cản trở việc thực hiện kế hoạch đã đề ra. Một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất ngăn trở không cho thuyết hành vi phát triển thành một hệ thống tâm lý học thực sự khách quan chính là quan niệm coi con người như là một cơ thể phản ứng hay "một máy liên hợp vật lý". Cách giải thích đó xuyên suốt lất cả các tác phẩm của Oátxơn, Tônman, Hulơ, Skinơ và các nhà hành vi khác. Các nhà bác học Liên Xô phê phán một cách công bằng thuyết hành vi. Ví dụ, Vưgốtxki, ngay từ năm 1925, đã khẳng định rằng một trong những căn bệnh đưa trường phái đó đến chỗ thất bại là chủ nghĩa duy vật máy móc; chủ nghĩa này "xoá mọi ranh giới có tính nguyên tắc giữa hành vi động vật và hành vi người. Sinh vật học nuốt chửng xã hội học; sinh lý học nuốt chửng tâm lý học". Nói cách khác, tâm lý học với tính chất là tâm lý học người không còn tồn tại nữa. Theo Rubinstêin, quan niệm con người chỉ là một khách thể chứ không phải như một chủ thể đã đưa thuyết hành vi đến chỗ xác định không đúng đối tượng của tâm lý học, nên không khắc phục được khủng hoảng trong tâm lý học truyền thống. Soát xét quá trình hình thành trong thuyết hành vi các phạm trù về hành động (Oátxơn), về hình ảnh (Tônman), về động cơ (Skinơ), Iarôsépxki đã phát hiện thấy các phạm trù đó là kết quả của các luận điểm phương pháp luận sai lầm, thực chứng luận về nhận thức khoa học và triết học máy móc về con người. Cần nhấn mạnh rằng luận điểm cơ bản nhất của thuyết hành vi là coi Con người như một cơ thể cá thể, chỉ có khả năng phản ứng thụ động, và vì vậy, hoàn toàn lệ thuộc vào các kích thích tác động. Để sống còn (chứ không phải là sống?), con người không cần làm gì nhiều lắm - chỉ cần thích nghi một cách thụ động với ngoại giới xung quanh. Con người như lý thuyết này quan niệm đã mất thực rồi! Thay thế vào đó chỉ là những năng lực phản ứng và toát ra phản ứng. Đó chính là luận điểm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử. Muốn hay không, như Vngốtxki đã chỉ ra, luận điểm đó có chứa đựng cả bản thể duy linh, vì ngoài các phản ửng và kích thích tạo ra phản ứng, tất cả các thứ còn lại trong hoạt động của con người đều chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Luận điểm đó về con người đặt cơ sở cho phương pháp tiếp cận thực dụng chủ nghĩa đối với nhân cách. Phương pháp tiếp cận này không lưu ý nhà nghiên cứu tới mặt đạo đức, luận lý của con người, mà chỉ lưu ý xem con người này, hay nói chính xác hơn, cái người máy này có thích hợp với công việc này hay không, trong tương lai sẽ phù hợp với công việc gì, nếu xã hội cần thông tin về điều đó. Con người có hành vi được nhà hành vi nghiên cứu không còn là "người chủ của tự nhiên nữa, mà là người thực hiện ngoan ngoãn". Nói cách khác, con người trong thuyết hành vi "trước hết là một tồn tại thực tiễn và... nó có một tinh thần với tư cách là một phương tiện để thích nghi với cuộc sống trong thế giới này". Dùng phương pháp tiếp cận như vậy để nghiên cứu hành vi người, Oátxơn đã đến với tâm lý học người trong thời kỳ nền kinh tế Mỹ đã có hệ thống dây chuyền sản xuất, trong đó "lao động người công nhân lành nghề bị thay thế bằng lao động công nhân bán lành nghề hay không lành nghề, rẻ tiền hơn trước rất nhiều, người công nhân này chỉ cần lặp lại một cách máy móc một số cử động nhất định". Đương nhiên, những yêu cầu của các nhà tư bản độc quyền hoàn toàn ăn ý với tư tưởng biến lý thuyết tâm lý học thành "phòng thí nghiệm của xã hội" hay "công nghệ hành vi" với khẩu hiệu "con người được xây dựng nên" v.v..., mà thực chất là "tạo ra các điều kiện hay các kích thích dẫn tới các cử chỉ cần thiết". Con người, nhân cách, cá thể trong tâm lý học hành vi được coi như là những từ đồng nghĩa để chỉ một cơ thể phản ứng, một hệ thống vật lý... Là một máy liên hợp phản ứng, con người ra đời thoạt đầu có những phản ứng bẩm sinh, sau học thêm được các phương thức phản ứng khác. Toàn bộ cái gọi là phương pháp phát sinh do Oátxơn đề ra là quan sát và ghi chép các phản ứng bẩm sinh và tự tạo. Chỉ quan tâm tới mối liên hệ giữa phản ứng và các kích thích tạo ra phản ứng, nhà hành vi không quan tâm đến cách thức tạo ra các phản ứng ấy. Trong phạm vi nghiên cứu của nhà hành vi, theo nhận xét rất đúng của Vưgốtxki, chỉ có “các hình thái hành vi có sẵn" và chủ yếu là xét về mặt tự nhiên, tức là dưới góc độ của quá trình tự nhiên tạo thành các hình thái ấy mà họ không nghiên cứu nguồn gốc của chúng. Từ đó, ta thấy trong thuyết hành vi không có vấn đề giáo dục để hình thành và phát triển hành vi người. Hình thái hành vi mà nhà hành vi chọn làm đối tượng nghiên cứu là hình thái hành vi cấp thấp được quy định bởi kích thích bên ngoài. Họ hoàn toàn loại trừ hành vi cấp cao (như ý thức và sự phát triển ý thức), ra ngoài phạm vi nghiên cứu, tức là loại trừ toàn bộ các đặc điểm và tính quy luật chuyên biệt trong sự phát triển xã hội - lịch sử của sự phát triển tâm lý người, cả trong bình diện phát triển chủng loại lẫn trong bình diện phát triển cá thể. Nguyên tắc trung tâm của thuyết hành vi, theo Oátxơn khẳng định, là "toàn bộ hành vi hình thành và phát triển trong các trả lời đơn giản...". Nguyên tắc này được phát triển trọn vẹn trong các công trình của Skinơ. Thực tế có phải như vậy không? Có phải cuộc sống bình thường của con người được hình thành từ các trả lời trực tiếp đối với các kích thích tác động vào cơ thể không? Liệu có thể đồng ý được với khẳng định của Oátxơn rằng tất cả các hành động "xây nhà", "ăn uống", "bơi lội", "viết thư", "trò chuyện", v.v..., của con người chẳng qua chỉ là "một nhóm trọn vẹn" các phản ứng? tình hình khủng hoảng của các lý thuyết hành vi, như Lêônchiép và Luria đã chỉ ra, chính là ở chỗ "hết sức nghi ngờ cả hai luận điểm làm cơ sở cho các thuyết ấy: nghi ngờ khả năng nghiên cứu hành vi mà lại loại trừ ý thức ra; nghi ngờ khả năng quy toàn bộ tính phức tạp của hành vi về cơ chế của phản xạ được hiểu một cách đơn giản diễn ra theo sơ đồ cung phản xạ". Trong thời đại chúng ta, đa số các nhà tâm lý học hiểu rất rõ rằng không thể quy một cách giản đơn bất cứ một hành vi hay hành động nào đó của con người thành phản ứng, phản xạ hay tổng phản ứng, phản xạ. Vưgốtxki đã nói rằng "phản xạ là một khái niệm trừu tượng; về mặt phương pháp luận, đó là khái niệm vô cùng quý giá". Chính khái niệm "phản xạ mục đích", "phản xạ tự do" là một minh chứng cho việc không hiểu các hiện tượng đang nghiên cứu. Ai cũng thấy rằng các phản xạ này không phải là phản xạ trong nghĩa thông thường, như phản xạ nước bọt, mà đó là những cơ chế hành vi có cấu trúc khác hẳn. Chỉ trong trường hợp cái gì cũng quy về một mẫu số, thì mới nói là phản xạ (hay phản ứng), như là một từ chung chung. Nói cho đến cùng, trong hệ thống hành vi chủ nghĩa, thực chất không còn phạm trù hành vi nữa, mà phạm trù đó đã nhường chỗ cho phạm trù phản ứng. Bất cứ lấy cái gì để nghiên cứu - cử động bẩm sinh hay kỹ xảo, thói quen, hoặc hành động tinh tế, phức tạp, - thì người thực nghiệm là nhà hành vi cũng chỉ nghiên cứu phản ứng - phản ứng trả lời hay phản ứng tạo tác trong mối quan hệ trực tiếp với hoàn cảnh tạo ra phản ứng. Đấy chính là thực chất của cái gọi là việc nghiên cứu thực về con người do Oátxơn đề ra trong cương lĩnh rộng rãi của toàn bộ trào lưu hành vi chủ nghĩa. Kết quả là có việc nghiên cứu thực nhưng lại là về con người không có thực. Trong thực tế, tư tưởng của Oátxơn tâm lý học vào việc nghiên cứu cuộc sống hằng ngày của con người là như vậy. Trình bày như trên, chúng tôi có đầy đủ cơ sở để không đồng ý với ý kiến cho rằng, trong thuyết hành vi, "phạm trù hành động là yếu tố thiết kế". Phạm trù hành động, như Iarôsépxki đã nhận xét đúng, phản ánh những thành tố khách quan nhất định của hành vi, nhất định phải ăn sâu vào cách suy nghĩ tâm lý học. Nhưng trong thuyết hành vi chỉ có vỏ của hành động - đó là mối quan hệ kích thích - phản ứng. Nói cách khác, trong công trình nghiên cứu con người của thuyết hành vi chỉ thấy có những cử động cơ thể bị quy định bởi các tác động bên ngoài, và những cử động này tạo nên phạm trù hành động giả. Từ đó có thể rút ra kết luận: trong thuyết hành vi không có phạm trù hành động, mà chỉ có phạm trù phản ứng mà thôi. Tòan bộ các cử động thích nghi với ngoại giới mà thuyết hành vi nghiên cứu đều phải trình bày theo sơ đồ S -R là mối quan hệ trực tiếp giữa hai thành tố của sơ đồ ấy; S - R là quy luật cơ bản của hành vi. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu hành vi của thuyết hành vi chỉ là quan sát, ghi chép theo sơ đồ các thành tố ấy. Tuy nhiên, "đấu tranh cho phương pháp khách quan trong tâm lý học, như Chéplốp đã chỉ ra, là đấu tranh cho một nền tâm lý học duy vật". Nhưng không khi nào có thể quy định khách quan vào người tham gia thực nghiệm và phản ứng của nó. Đấy chính là một trong chuỗi nguyên nhân đưa thuyết hành vi cổ điển và thuyết hành vi mới đến chỗ tan rã. Những lời sau đây của Vưgốtxki có ý nghĩa nguyên tắc đối với việc phê phán luận điểm hành vi chủ nghĩa: "Loại trừ vấn đề ý thức, tâm lý học là ngăn mình không nghiên cứu các vấn đề hơi phức tạp về hành vi người. Theo ông, tâm lí học phải nghiên cứu cả hành vi lẫn ý thức người, vì nếu chỉ nghiên cứu hành vi không thôi thì tâm lý học không thể thoát khỏi cảnh nhị nguyên luận: hành vi với tư cách là tổng các phản ứng tự nó tồn tại ở ngoài, còn tâm lý, ý thức tự nó tồn tại ở trong, mỗi cái tự tồn tại riêng, tách biệt nhau. Và như vậy là vẫn như trước đây, ý thức tâm lý vẫn là những thứ thừa đối với cuộc đời, hơn thế, sự tồn tại của chúng vẫn là cái gì đó bí ẩn. Giống như tâm lý học truyền thống, tâm lý học hành vi vẫn không thể thoát khỏi cảnh hiện tượng luận và thần kinh luận. Muốn thực hiện được nhiệm vụ mà Vưgốtxki đề ra cho tâm lý học, khoa học này phải có một phương pháp khách quan có thể tìm ra bản chất của hoạt động tâm lý người. Vưgốtxki viết: "Trong tất cả các hoạt động của con người, tâm lý tham gia vào hệ thống chung của hành vi người bằng tất cả các cơ chế tinh vi nhất, phức tạp nhất của nó, vì vậy lúc nào nó cũng thấm đượm các mối quan hệ qua lại ấy. Do đó không có một giây phút nào lại có thể là thời gian thuần tuý riêng của các quá trình tâm lý, không khi nào tâm lý lại tồn tại riêng rẽ tách biệt khỏi thế giới xung quanh, khỏi các quá trình khác của cơ thể. Ai khẳng định và nghiên cứu ngược lại, người đó nghiên cứu cái kiến tạo không có thực của riêng trí tuệ mình, nghiên cứu các sự kiện giả, tư biện thay thế cho thực tế chân chính". Cơ chế tinh vi, phức tạp ấy thực hiện nhờ chức năng gián tiếp của các hiện tượng tâm lý trong hoạt động ở con người, và tính chất lịch sử - xã hội quyết định tâm lý người đã được chứng minh về mặt lý luận và về mặt thực nghiệm. Có thể dẫn ra hàng loạt ví dụ trong cuộc sống để khẳng định tư tưởng đó. Một trong những ví dụ đó là vài mẩu chuyện về cuộc đời một nhà cách mạng Việt Nam: một lần ông bị bọn cảnh sát Sài Gòn bắt giam vì hoạt động cách mạng bí mật. Trong thời gian ấy, ông đã bị chúng dùng các phương tiện hiện đại tra tấn dã man hàng trăm bận. Nhưng lần nào ông cũng chỉ trả lời: "Không, tôi không biết gì hết (bọn địch muốn bắt ông khai các cơ sở cách mạng và công việc của các đồng chí mình). Bọn chúng chỉ biết ông tự nhận mình là người cộng sản và hoạt động theo chỉ thị của Đảng, phù hợp với niềm tin của bản thân. "Tất cả hành động và ngôn từ của tôi, - ông Nguyễn Đức Thuận kể lại trong cuốn sách của mình, - lúc nào cũng vậy, kể từ khi tôi gia nhập Đảng, ngoài tự do cũng như ở trong tù, bao giờ cũng thấm nhuần một tư tưởng là toàn bộ thân thể và tinh thần của tôi là thuộc về Đảng". Cho nên, khi bị kẻ thù tra tấn cực kỳ đau đớn, bao giờ ông cũng trả lời sao cho không phương hại đến sự nghiệp chung của Đảng. Những hành vi ấy chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích (động cơ) của cuộc đời ông: "Tất cả vì lý tưởng và sự nghiệp của Đảng". Ở Oátxơn, chúng ta thấy có bảng liệt kê những điều kiện để xảy ra một phản ứng nào đó đối với một kích thích nào đó. Trong bảng liệt kê này có những điều kiện thuộc về chính phản ứng. Đó là yếu tố phản ứng xảy ra trước đó không lâu và yếu tố tần số của phản ứng đối với cùng một kích thích. Trong những điều kiện ấy có cả mối liên hệ của phản ứng đối với hoàn cảnh chung. Trong bảng liệt kê đã nêu, cũng thấy cả các trạng thái trong cơ thể, kể cả sự xuất hiện kích thích đó trước lần cuối cùng, sự căng thẳng tình cảm và hiện trạng của hệ thần kinh, bộ máy tiêu hóa, v.v... Trạng thái trong cơ thể bao gồm cả "tiểu sử" cuộc đời một con người! Trong đó có cả văn hóa, tư tưởng, tâm thế, v.v... Rồi đến lượt mình, "tiểu sử" này chẳng qua là sự hình thành những trả lời đơn giản của cơ thể đối với các kích thích tác động vào con người ấy. Theo quan niệm hành vi chủ nghĩa, hoạt động của con người bị đơn giản hoá đi như vậy đó? Bất cứ một phản ứng nào, dù đơn giản hay phức tạp, cơ co bóp hay thân cử động, đều chỉ là một trong những biểu hiện bề ngoài của hoạt động của con người, và hoạt động của con người có một cấu trúc thực là phức tạp, có nguồn gốc xã hội - lịch sử và diễn biến theo các quy luật xã hội - tâm lý của nó. Con người của thuyết hành vi chỉ như cái máy liên hợp các phản ứng quan sát được từ ngoài, chỉ là con người bị mất ý thức và có tên gọi là một con người máy tự động. Phẩm giá của con người này, theo C.Mác, chỉ là ở "giá trị trao đổi". Bởi vậy, tâm lý học hành vi không đi xa hơn nhiều lắm so với tâm lý học duy tâm nội quan. Sơ đồ hai thành tố S - R do tâm lý học hành vi đưa ra để lý giải hành vi người không tương ứng với cuộc sống thực của con người luôn luôn sống và làm việc trong những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể. Cái mà Oátxơn coi là "nghiên cứu thực về con người" hoá ra lại là nghiên cứu một cách thực chứng luận về một phần hành vi, do đó, đây có thể là hành vi không thực của con người trừu tượng. Một trong những khuyết tật chủ yếu của thuyết hành vi được sinh ra bởi "giả thuyết về tính chất trực tiếp" của hành vi, theo đây thì đã loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu một quá trình có nội dung, thực hiện các mối quan hệ thực giữa chủ thể với thế giới đối tượng - "loại trừ hoạt động đối tượng của con người". Tâm lý học khoa học không nghiên cứu mối quan hệ bề ngoài của con người với thế giới, mà nghiên cứu sự tác động qua lại giữa thế giới đối tượng của loài người với con người như là chủ thể lĩnh hội và sáng tạo ra thế giới đó. Muốn biết tâm lý con người không thể không xác định các mối tác động qua lại, tích cực của chủ thể trong hoạt động. Lập trường xuất phát của nền tâm lý học khoa học phải là một luận điểm mới về con người và về hoạt động có đối tượng - hoạt động lao động và các hoạt động khác của con người, một luận điểm hoàn toàn khác với luận điểm được lấy làm cơ sở cho cương lĩnh của thuyết hành vi. Theo luận điểm mới này, không thể nào chỉ thấy có cơ thể trong con người. Cơ thể, dù bất cứ ở hình thái nào, - vật lý hay tâm vật lý, sinh vật hay sinh lý, tâm sinh lý hay tâm lý - cũng vẫn chỉ là

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiao_trinh_tuyen_tap_tam_ly_hoc.pdf