Luận án Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 13

1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu 14

1.4 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu 16

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM 19

2.1. Khái niệm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm 19

2.2. Các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của hội thẩm 42

2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm 53

2.4. Địa vị pháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên) ở một số

quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

58

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM 70

3.1. Quá trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam 70

3.2. Thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay 81

3.3. Ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên nhân trong địa vị pháp lý của hội thẩm ở

Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra

113

CHƯƠNG 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA

HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

124

4.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm 124

4.2 Các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm 130

KẾT LUẬN CHUNG 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

pdf169 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 11/03/2022 | Lượt xem: 104 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i cách nêu trên, chế định hội thẩm đã có sự thay đổi cơ bản về "chất" so với chế định phụ thẩm trước đây theo hướng dân chủ hóa, "nhân dân hóa" nền tư pháp. Mặc dù những quy định của Hiến pháp và pháp luật về hội thẩm còn sơ khai, nhưng đã tạo được những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự hình thành và hoàn thiện chế định hội thẩm ở các thời kỳ sau này. Những nguyên tắc cơ bản của cải cách đối với chế định hội thẩm được tiếp tục kế thừa trong hệ thống pháp luật qua các thời kỳ với những sửa đổi, bổ sung cần thiết đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội. Nhà nước chú trọng năng lực xét xử và bồi dưỡng cho hội thẩm, số lượng hội thẩm ngày một tăng. Các nguyên tắc toà án độc lập xét xử, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, đặc biệt là nguyên tắc hội thẩm ngang quyền thẩm phán ngày càng được cụ thể hoá. 3.1.2. Giai đoạn 1959-1980 Bản Hiến pháp năm 1959 ra đời, khẳng định rõ hơn về địa vị pháp lý của hội thẩm. Hiến pháp đã ghi nhận nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử, cụ thể: "Việc xét xử ở các Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán" [79]. Hiến pháp cũng quy định nguyên tắc hoạt động của thẩm phán, hội thẩm: "Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" [79]. Theo Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 thì, khi xét xử sơ thẩm, tòa án nhân dân gồm có một thẩm phán và hai hội thẩm. Đối với những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì toà án nhân dân có thể xử không có hội thẩm. Khi xét 75 xử phúc thẩm, đối với trường hợp đặc biệt liên quan đến dân tộc, tôn giáo phải có hội thẩm tham gia. Tại Thông tư số 1071/TT ngày 7-9-1965, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa thì không có hội thẩm tham gia mà do một thẩm phán thực hiện. Sắc luật số 01/SL/1976 ngày 15-3-1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định về tổ chức của tòa án nhân dân, trong đó quy định việc xét xử của toà án phải có hội thẩm tham gia, khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán, hội thẩm do các đoàn thể nhân dân cử ra. Đồng thời, quy định khi xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm, hội đồng xét xử gồm một thẩm phán và hai hội thẩm. Về tiêu chuẩn và việc tuyển chọn hội thẩm: Năm 1959, nước ta tiến hành bầu hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ mới. Pháp luật thời kỳ này quy định, người ứng cử hội thẩm nhân dân có thể là đại biểu hội đồng nhân dân, nếu không phải là đại biểu hội đồng nhân dân nhưng với điều kiện phải đủ 23 tuổi trở lên và có đủ tiêu chuẩn như những người ứng cử vào hội đồng nhân dân. Trong danh sách ứng cử hội thẩm gồm nhiều thành phần, nhưng chú trọng lựa chọn những người thực tế làm tốt nhiệm vụ hội thẩm, phải là người gương mẫu trong lao động, đại diện đoàn thể, giới, giáo, về thành phần đại diện được cân nhắc lựa chọn cho phù hợp tùy theo vùng nông thôn hay thành thị. Sau khi bầu hội thẩm, phải có thủ tục công nhận chính thức thì hội thẩm mới được nhậm chức. Nhiệm vụ và quyền hạn của hội thẩm: pháp luật thời kỳ này quy định việc tham gia xét xử là nhiệm vụ của hội thẩm. Hội thẩm tham gia công tác xét xử tại toà án với các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ, trao đổi trước với thẩm phán để chuẩn bị xét xử, tham gia thẩm vấn (không bắt buộc) theo sự phân công của thẩm phán và tham gia nghị án. Ngoài ra, hội thẩm còn tham gia tuyên truyền, hoà giải ở cơ sở. 76 3.1.3. Giai đoạn 1980-1992 Bản Hiến pháp 1980, Hiến pháp của thời kỳ quá độ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử tại các toà án nhân dân và toà án quân sự tiếp tục được ghi nhận trong đạo luật cơ bản này. Quyền và nghĩa vụ của hội thẩm được quy định rõ hơn cùng các nguyên tắc: hội thẩm ngang quyền với thẩm phán, nguyên tắc độc lập xét xử và quyết định theo đa số. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của mình. Hiến pháp 1980 đã quy định rõ hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chứ không ghi chung chung như Hiến pháp 1959 là tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1980, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1981 và nhiều văn bản pháp luật tố tụng đều quy định sự tham gia của hội thẩm trong xét xử các vụ án. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật tố tụng quy định địa vị pháp lý của hội thẩm được quy định ở nhiều văn bản khác nhau gây rất nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn thực thi pháp luật. Về nhiệm vụ và quyền hạn của hội thẩm: Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1981 quy định: các hội thẩm có nhiệm vụ tham gia công tác xét xử của tòa án nhân dân. Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã và đoàn thể có người được bầu làm hội thẩm phải tạo điều kiện cho hội thẩm thực hiện nhiệm vụ tại toà án; quy định về quyền hạn của hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ và được hưởng phụ cấp khi tham gia công tác xét xử. Lần đầu tiên, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định về địa vị pháp lý của hội thẩm như: quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ họ tên hội thẩm nhân dân, đồng thời quy định các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự, đó là: “Việc xét xử ở Tòa án có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán" , "Khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, "Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số" và quy định hội thẩm là người tiến hành tố tụng [87]. 77 Về bầu và cử hội thẩm: Hiến pháp 1980 đã quy định: Hội đồng Nhà nước cử và bãi miễn hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân tối cao; hội đồng nhân dân các cấp bầu và bãi miễn các thành viên (thẩm phán và hội thẩm) của tòa án nhân dân cùng cấp. Chế độ bầu cử hội thẩm nhân dân được thực hiện ở tòa án nhân dân các cấp; nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao là 2,5 năm và nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân tòa án nhân dân các cấp là 2 năm [80]. Về tiêu chuẩn bầu làm hội thẩm và trách nhiệm giới thiệu nhân sự để bầu hội thẩm được quy định khá cụ thể trong Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1981: tiêu chuẩn bầu hội thẩm phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có quan hệ tốt với nhân dân. Mặt trận Tổ quốc có vai trò quan trọng trong việc giới thiệu nhân sự bầu hội thẩm nhân dân các cấp. Có thể nói pháp luật việt Nam giai đoạn từ năm 1980 đến 1992 quy định tương đối cụ thể về quyền và nghĩa vụ của hội thẩm, cũng các hoạt động khác của hội thẩm trong công tác xét xử tại tòa án. 3.1.4. Giai đoạn từ 1992 đến 2013 Hiến pháp năm 1992 ra đời đã xác lập một hệ thống các nguyên tắc làm cơ sở cho việc bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp đổi mới của đất nước. Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1992, Pháp lệnh về thẩm phán, hội thẩm tòa án nhân dân năm 1993 được ban hành, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của tòa án, hoạt động của hội thẩm. Pháp lệnh về thẩm phán, hội thẩm tòa án nhân dân năm 1993 quy định khá đầy đủ về chế định hội thẩm như việc bầu, cử hội thẩm, những bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của hội thẩm. Ở giai đoạn này, tòa án nhân dân không chỉ xét xử các vụ án hình sự, dân sự mà còn xét xử nhiều loại án khác như: án lao động, kinh tế, hành chính, do vậy đòi hỏi hội thẩm phải có kiến thức pháp luật trên nhiều lĩnh vực không chỉ về pháp luật tố tụng, còn cả pháp luật nội dung. 78 Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002; Ban Thường trực Ủy banTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và đã ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của hội thẩm tòa án nhân dân (ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 05/2005/NQLT/TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05-12-2005), các văn bản này quy định tương đối đầy đủ về địa vị pháp lý của hội thẩm từ việc bầu, cử, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động của đoàn hội thẩm đến miễn nhiệm, bãi nhiệm và những bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của hội thẩm. Trong giai đoạn này, cải cách tư pháp được xác định là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, chủ trương cải cách tư pháp được nêu một cách nhất quán và được tổ chức thực hiện nghiêm túc, nhất là sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được thể chế hóa trong Hiến pháp và Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết chuyên đề về cải cách tư pháp thì công cuộc cải cách tư pháp được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, đó là Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đã đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp cải cách tư pháp. Đây là bước đi tiếp theo của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, là chương trình cải cách ở tầm chiến lược tổng thể, lâu dài. Chiến lược cải cách tư pháp đã đề ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao [37]. 79 Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-11-2013 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động tư pháp trong giai đoạn mới với những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [82]. Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động mang tính tổng hợp, có tính bao quát toàn bộ hoạt động của tòa án nhân dân, trong đó hoạt động xét xử là quan trọng nhất, đặc trưng nhất. Để bảo đảm công lý, quyền con người, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân, pháp luật quy định tòa án không được từ chối thụ lý xét xử các vụ việc nếu không có luật. Quy định này mang ý nghĩa thực tiễn và nhân văn sâu sắc nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Nghiên cứu các quy định pháp luật về hội thẩm ở nước ta từ năm 1945 đến năm 2013, trong đó trọng tâm là những quy định về quyền và nghĩa vụ, hoạt động của hội thẩm trong công tác xét xử, có thể rút ra một số nhận xét sau đây: Một là, qua các thời kỳ, hội thẩm đều tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào việc xét xử nhiều vụ án với tính cách là đại diện của nhân dân. Chế định hội thẩm trong hệ thống pháp luật là một trong những chế định mang tính bắt buộc, không chỉ quyết định đến các phán quyết của bản án sơ thẩm mà còn thể hiện quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong hoạt động tư pháp. Bên cạnh việc quy định hội thẩm với tư cách là một chức danh tư pháp, pháp luật còn có những quy định mang tính đặc thù, tạo cơ sở pháp lý cho hội thẩm thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhằm bảo đảm cho hội thẩm tham gia tích cực, có hiệu quả vào hoạt động xét xử của tòa án. Mặc dù tên gọi, cách thức thành lập và hoạt động, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và các tiêu chuẩn khác đối với 80 hội thẩm ở mỗi thời kỳ không hoàn toàn giống nhau nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ với cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống toà án. Việc thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của hội thẩm đã đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm cho nhân dân ngày càng có điều kiện kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Hai là, các quy định về vị trí, vai trò, cách thức thành lập và hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn trong tổ chức và hoạt động của toà án thông qua việc quy định trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, Bộ luật, Luật. Phạm vi, thẩm quyền tham gia xét xử của hội thẩm đã được mở rộng hơn qua các thời kỳ, trong thời kỳ mới giành được độc lập, hội thẩm chủ yếu tham gia cùng các thẩm phán xét xử các vụ án hình sự, nhưng đến nay đã có một đội ngũ hội thẩm lớn mạnh thực hiện nhiệm vụ xét xử trên nhiều lĩnh vực như: hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, hành chính. Ba là, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm ngày càng thể hiện rõ nét nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm vẫn còn những tồn tại, bất cập đó là các quy định về: quy trình lựa chọn và thành lập hội thẩm; cơ chế hoạt động; cơ chế giám sát hoạt động của hội thẩm; tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của hội thẩm; trình tự, thủ tục, điều kiện miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm; trách nhiệm pháp lý của hội thẩm; số lượng hội thẩm tham gia trong hội đồng xét xử, nhiệm kỳ của hội thẩm đã làm hạn chế việc thực hiện các nguyên tắc đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, đó là: thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán và nguyên tắc xét xử tập thể, quyết định theo đa số. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng như trách nhiệm tham gia hoạt động xét xử, các 81 yêu cầu đối với hội thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp, đòi hỏi chất lượng, trách nhiệm và cơ chế giám sát đối với đội ngũ hội thẩm cao hơn nữa để đáp ứng nhiệm vụ xét xử trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Vì vậy, để đảm bảo cho hội thẩm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình khi tham gia hoạt động xét xử, đòi hỏi pháp luật ngày càng quy định cụ thể, rõ ràng về địa vị của hội thẩm nhằm đảm bảo tôn trọng, đề cao hoạt động của hội thẩm và đồng thời xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật của hội thẩm trong quá trình thực thi nhiệm vụ. 3.2. Thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 là một trong những đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, đã thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền tư pháp nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Luật quy định nhiều quyền năng cho tòa án nhân dân, trong đó đã dành hẳn một chương (Chương VIII) quy định về hội thẩm, đây là một điểm rất mới so với Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, đã thể hiện một bước phát triển lớn, cụ thể về địa vị của hội thẩm trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Về địa vị của hội thẩm được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Cụ thể là tại Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật hiện hành như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính 2015, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-TANDTC- UBTWMTTQVN ngày 01-3-2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân, Quy chế về tổ chức và hoạt động của hội thẩm tòa án 82 nhân dân (ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 05/2005/NQLT-TANDTC- BNV-UBTWMTTQVN ngày 05-12-2005 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), và Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13-6-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII) và Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg ngày 05-10-2012 của Thủ tướng chính phủ về chế độ bồi dưỡng phiên tòa, phiên họp dân sự. 3.2.1. Cách thức thành lập, hoạt động, thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm - Tiêu chuẩn hội thẩm Điều 85 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định, một người để được bầu làm hội thẩm tòa án phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sau: "1) Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực. 2) Có kiến thức pháp luật. 3) Có hiểu biết xã hội. 4) Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao." Ngoài các quy định về tiêu chuẩn của hội thẩm được quy định tại Điều 85 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 nêu trên, cần tham khảo áp dụng Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 01-3-2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi lựa chọn người để bầu làm hội thẩm đó là: người chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã bị xóa án tích); những người đang công tác tại các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án, luật sư và cả những người đang làm việc tại các tổ chức luật sư, tư vấn pháp lý thì không được giới thiệu để bầu làm hội thẩm nhân dân; ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người hội thẩm; tuổi của hội thẩm là 70 tuổi trở xuống đối với nam và 65 tuổi trở xuống đối với nữ; chú ý lựa chọn những người thuộc các tổ chức xã hội, các đoàn thể ở địa phương như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công đoàn, hội nông dân, hội cựu chiến 83 binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, đại diện cho hoạt động giáo dục, hoạt động doanh nghiệp, hoạt động tôn giáo [94]. Có thể thấy rằng pháp luật quy định cho hội thẩm những quyền và nghĩa vụ pháp lý rất quan trọng trong hoạt động xét xử, do đó, ngày càng đòi hỏi ở đội ngũ hội thẩm nhiều hơn về kiến thức chuyên môn. Nhưng nếu "thẩm phán hóa", "chuyên môn hóa" đội ngũ hội thẩm sẽ làm cho hoạt động xét xử mất đi tính dân chủ trong hoạt động xét xử và sẽ không cần sử dụng đến đội ngũ hội thẩm như hiện nay. Tuy nhiên, pháp luật quy định trình độ của hội thẩm như hiện nay là có kiến thức pháp luật mà không rõ ở mức độ nào thì chất lượng xét xử sẽ không như mong muốn. Đây cũng là vấn đề đặt ra khi hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của hội thẩm, nên quy định tiêu chuẩn về kiến thức pháp luật của hội thẩm ở mức cần thiết để họ có thể tự tin, giữ vững bản lĩnh và độc lập khi xét xử. - Tổ chức và hoạt động của hội thẩm Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn hội thẩm (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13-6-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII) thì tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, quân khu và tương đương, khu vực nơi có tòa án quân sự khu vực thành lập các đoàn hội thẩm. Đoàn hội thẩm là hình thức tổ chức tự quản, hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch. Hội thẩm được bầu hoặc cử để thực hiện nhiệm vụ xét xử ở tòa án nào thì tham gia sinh hoạt tại đoàn hội thẩm nơi có tòa án đó. Tại khoản 2 Điều 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội quy định về số lượng thành viên của mỗi đoàn hội thẩm nhân dân được xác định căn cứ vào số lượng thẩm phán tại mỗi tòa án, cụ thể là: Tại tòa án nhân cấp tỉnh, cứ 02 thẩm phán thì có 03 hội thẩm, nhưng tổng số hội thẩm tại một tòa án nhân dân cấp tỉnh không dưới 20 người và tối đa không quá 100 người; tại tòa án nhân dân cấp huyện, cứ 01 thẩm phán thì có 02 hội thẩm, nhưng tổng số hội thẩm tại một tòa án nhân dân cấp huyện không dưới 15 người và tối đa không quá 50 người, trừ trường hợp đặc biệt có thể có dưới 15 người [119]. 84 - Nhiệm kỳ của hội thẩm Điều 87 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định, nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân đã bầu ra hội thẩm nhân dân; khi hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, thì hội thẩm nhân dân tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra hội thẩm nhân dân mới (nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân là 05 năm). Việc quy định nhiệm kỳ 05 năm đối với hội thẩm có điểm hạn chế là với một danh sách các hội thẩm theo nhiệm kỳ đã trở thành những gương mặt quen thuộc tại mỗi tòa án, hội thẩm dần dần trở nên chuyên nghiệp hóa và hình thức hóa, khó đảm bảo mục tiêu và triết lý của đại diện nhân dân tham gia hoạt động xét xử là mang kinh nghiệm của cuộc sống thực tiễn dang diễn ra sinh động vào hoạt động xét xử. - Thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, cụ thể là: "Chánh án tòa án nhân dân sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp đề nghị hội đồng nhân dân miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm nhân dân". Theo quy định tại Điều 90 của Luật này thì điều kiện miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm là: "1)Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khỏe hoặc lý do chính đáng khác. 2) Hội thẩm bị bãi nhiệm khi có vi phạm về phẩm chất đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm hội thẩm"[86]. 3.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của hội thẩm Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính 2015, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014, Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28-10-2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn hội thẩm (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13-6-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIII) khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 85 3.2.2.1. Nhiệm vụ của hội thẩm Điều 84 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định, hội thẩm tòa án nhân dân gồm: hội thẩm nhân dân và hội thẩm quân nhân. Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân theo phân công của chánh án tòa án nơi được bầu làm hội thẩm nhân dân. Hội thẩm quân nhân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự theo sự phân công của chánh án tòa án nơi mình được cử làm hội thẩm quân nhân. [86]. Theo quy định này, hội thẩm có nghĩa vụ thực hiện sự phân công tham gia hội đồng xét xử các vụ án của chánh án tòa án. Việc quy định chánh án quyết định việc phân công hội thẩm tham gia xét xử là không hợp lý, sẽ mang nặng tính chủ quan, không đảm bảo được tính khách quan, dễ dẫn đến phát sinh các hành vi tiêu cực trong hoạt động tư pháp có thể xảy ra như: thông qua việc lựa chọn, mời hội thẩm đơn giản, dễ dãi, dễ thuyết phục tham gia xét xử để việc xét xử theo ý của các thẩm phán hoặc lãnh đạo tòa án; sự hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp, kỹ năng của hội thẩm dẫn tới họ không thể đưa ra được nhận định, không phản biện được ý kiến của thẩm phán nên dễ dàng bị thuyết phục. Vì vậy, trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp có những hội thẩm được mời tham gia xét xử nhiều vụ án, nhưng cũng có không ít hội thẩm suốt nhiệm kỳ của mình không tham gia xét xử phiên tòa nào. Hội thẩm còn có nhiệm vụ thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Với địa vị pháp lý là người tiến hành tố tụng, thành viên hội đồng xét xử, hội thẩm phải tuân thủ những quy định của pháp luật, tuân thủ các nguyên tắc hiến định: "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật..." [82]. Với nhiệm vụ này đòi hỏi hội thẩm phải khách quan, vô tư, độc lập với mọi ảnh hưởng có thể tác động đến việc hội thẩm ra các phán quyết về việc giải quyết vụ án. Hội thẩm phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Hội thẩm có nhiệm vụ thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để luôn đảm bảo những tiêu chuẩn mà luật pháp quy định đối với hội thẩm: có đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín tr

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_dia_vi_phap_ly_cua_hoi_tham_o_viet_nam_hien_nay.pdf
Tài liệu liên quan