Luận án Hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản từ thực tiễn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

MỞ ĐẦU . 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ

THUYẾT VÀ PHưƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 7

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu . 7

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án . 20

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu . 24

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA NÔNG

SẢN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

NÔNG SẢN. 28

2.1. Khái quát về hàng hóa nông sản . 28

2.2. Nhận thức về hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản trên thế giới

và Việt Nam . 31

2.3. Khái niệm, đặc điểm và hình thức pháp lý của hợp đồng mua bán

hàng hóa nông sản. 35

2.4. Khái niệm và nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa

nông sản . 50

2.5. Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản. 60

2.6. Các yếu tố chi phối pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa

nông sản . 65

2.7. Kinh nghiệm pháp luật của các nước trong điều chỉnh hợp đồng

mua bán hàng hóa nông sản . 68

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO

KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA NÔNG

SẢN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. 78

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng

mua bán hàng hóa nông sản . 78

pdf167 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 10/03/2022 | Lượt xem: 57 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản từ thực tiễn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
- chi phí đầu vào cao hơn so với giá nông sản bán ra thị trường. Ký kết hợp đồng thường có những điều khoản quy 72 định về chất lượng nông sản, buộc nông dân phải tuân thủ theo đúng quy trình sản xuất để đảm bảo chất lượng nông sản. Thêm vào đó, để đảm bảo chất lượng nông sản doanh nghiệp thường ràng buộc nông dân phải sử dụng công nghệ, máy móc, vật tư nông nghiệp do họ cung cấp cộng với các rủi ro về giá và thị trường luôn tiềm ẩn. Như vậy, nông dân sản xuất nhỏ đối mặt với nguy cơ thua lỗ trên chính mảnh đất của mình [91]. Nhìn chung, khung pháp lý về hợp đồng ở Indonesia chưa quy định chặt chẽ cũng như chưa dự liệu hết mọi tình huống, chuyển biến tình hình (giá cả, thị trường, thời tiết) làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, tạo ra những mâu thuẫn, bất cập trong mối quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân. 2.7.3. Hợp đồng nông nghiệp ở Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển toàn diện nhất thế giới bao gồm các lĩnh vực công nghệ, khoa học kỹ thuật, viễn thông, công nghiệp và nông nghiệp.... Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế, nhưng Hoa Kỳ lại là thị trường giao dịch nông sản lớn trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu cao và tăng đều qua các năm [57]. Trải qua nhiều chính phủ cầm quyền khác nhau, nhưng Hoa Kỳ luôn duy trì chính sách hỗ trợ, ưu đãi nông dân và doanh nghiệp về trang thiết bị, máy móc, khoa học kỹ thuật, công nghiệp sinh học và vốn... để nông dân có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước cũng như xuất khẩu sang các thị trường đối tác. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn xây dựng và ngày càng hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong việc giao kết hợp đồng nông sản giữa nông dân, chủ trang trại và nhà sản xuất với các doanh nghiệp, tạo khung pháp lý chung chuẩn quốc tế để đảm bảo việc mua bán, xuất nhập khẩu với nước ngoài. Trong hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ, có rất nhiều điều khoản quy định khi giao kết một hợp đồng nông nghiệp như: Bộ luật Thương mại Thống nhất (UCC), Đạo luật về nông nghiệp, các quy định 73 chung về hợp đồng... Bên cạnh đó, pháp luật Hoa Kỳ cũng yêu cầu tuân thủ các quy định được thỏa thuận liên quan đến điều ước quốc tế, các Hiệp định mà Chính phủ Hoa Kỳ ký kết với đối tác như: Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Tổ chức lương thực thế giới (FAO) về các công ước liên quan đến HĐMB hàng hóa, Hợp đồng thương mại [81]. Tại Hoa Kỳ, hợp đồng được sử dụng rộng rãi và ngày càng trở thành xu thế trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như: HĐMB nông sản, hợp đồng sản xuất nông nghiệp [81]. Tính đến năm 2012, số lượng giao dịch trong lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện thông qua ký kết hợp đồng tăng lên đáng kể, khoảng 11% so với năm 1969 [103]. Nhìn chung, việc ký kết hợp đồng nông nghiệp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, góp phần bảo vệ quyền lợi của nông dân như đảm bảo về giá nông sản, thị trường thu mua, nguồn cung ứng nguyên vật liệu sản xuất nông nghiệp. Những thành tựu trên nhờ vào những chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho ngành nông nghiệp. Vai trò của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ và các cơ quan chuyên trách là cung cấp các dịch vụ hợp đồng nông nghiệp, phân tích số liệu, nguồn dữ liệu về hợp đồng nông nghiệp cũng như đưa ra những tư vấn, hỗ trợ nông dân trong quá trình tham gia ký kết hợp đồng [92]. Tuy nhiên, trên thực tế nhà sản xuất vẫn có thể thêm vào các điều khoản có lợi cho doanh nghiệp và ràng buộc nông dân phải tuân thủ các điều kiện do doanh nghiệp đặt ra. Nông dân không có nhiều sự lựa chọn nhà tiêu thụ để ký kết hợp đồng thu mua nông sản. Vì vậy, khi giao kết hợp đồng, nông dân thường bị đặt vào tình trạng có ít sự lựa chọn các điều khoản thỏa thuận để đảm bảo quyền lợi. Theo các nhà nghiên cứu, trong lĩnh vực trồng trọt, nông dân tại những nơi có ít nhà sản xuất thu mua nông sản thường được trả giá thấp hơn từ 7% đến 8% so với những nơi có nhiều nhà thu mua [103]. 74 2.7.4. Hợp đồng nông nghiệp ở Trung Quốc Trung quốc là một trong những quốc gia có diện tích lớn và đông dân nhất thế giới, đất đai rộng lớn và thời tiết thuận lợi góp phần cho sự phát triển của nền nông nghiệp quốc gia. Sự phát triển với vị thế hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu nông sản là thành quả của những chính sách phát triển đúng đắn của chính phủ Trung Quốc. Việc ứng dụng khoa học công nghệ và môi trường pháp lý vững vàng góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp Trung Quốc. Một trong những chính sách đó là sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo Hợp đồng. Giống như mô hình hợp đồng nông nghiệp tại các quốc gia khác, nông dân được doanh nghiệp bao tiêu đầu ra với mức giá thỏa thuận trước. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ cung ứng vật tư nông nghiệp, thiết bị sản xuất, chuyển giao khoa học, kỹ thuật và cử nhân viên khuyến nông hướng dẫn, giám sát, hỗ trợ vay vốn tín dụng. Khi đó, hộ gia đình chỉ cần cung cấp sức lao động, đất sản xuất để được ký kết hợp đồng. Phần lớn hộ gia đình ở Trung Quốc tham gia ký kết hợp đồng nông nghiệp với doanh nghiệp do đảm bảo được đầu ra của nông sản và được hỗ trợ trong quá trình sản xuất. Ở Trung Quốc, có hai dạng hợp đồng chính là: hợp đồng miệng giữa trung gian thu gom và nông dân và hợp đồng được viết bằng văn bản giữa nông dân và doanh nghiệp. Hợp đồng ghi nhận khá rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tại các điều khoản. Hộ gia đình ở Trung Quốc mong muốn được ký kết hợp đồng do ổn định về giá cả và đầu ra của nông sản, rủi ro được giảm thiểu đáng kể [93]. 2.7.5. Kinh nghiệm pháp luật các nước và gợi mở cho Việt Nam 2.7.5.1. Về xây dựng pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong nông nghiệp Từ kinh nghiệm pháp luật của các nước có nền nông nghiệp phát triển trong điều chỉnh HĐMBHHNS đã cho thấy, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp quan hệ hợp đồng trong nông nghiệp là cần 75 thiết. Hiện nay Việt Nam chưa có một văn bản ở cấp độ luật quy định cụ thể và dành riêng cho hợp đồng nông nghiệp. Quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong nông nghiệp nói chung và quan hệ HĐMBHHNS hiện nay chủ yếu dựa trên các quy định tại BLDS năm 2015 và LTM năm 2005. Đó có thể xem là bộ khung pháp lý chung, hướng dẫn các bên giao kết, thực hiện hợp đồng, tuy nhiên với những quy định chung đó cũng không thể điều chỉnh sát với quan hệ hợp đồng vốn rất đa dạng trong nông nghiệp. Vì vậy, nếu như có được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dành cho loại hình hợp đồng nông nghiệp, quy định cụ thể các vấn đề như quyền và nghĩa vụ của các bên, xử lý rủi ro, giá cả và các khoản chi phí, tiêu chuẩn chất lượng nông sản và đảm bảo việc thực thi hiệu quả thì doanh nghiệp và nông dân sẽ yên tâm hợp tác, thực hiện thực hiện một cách chủ động và tự giác hợp đồng đã ký kết, tạo động lực phát triển cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. 2.7.5.2. Về chia sẻ rủi ro trong hợp đồng Chia sẻ rủi ro là vấn đề cần quan tâm trong thực hiện hợp đồng nông nghiệp hiện nay. Không bên nào khi tham gia hợp đồng chấp nhận rủi ro thuộc về phía mình. Nhưng trước thực trạng rủi ro đến từ nhiều phía, có thể là do trường hợp bất khả kháng hoặc các tình huống không ổn định trong thị trường tiêu thụ và sản xuất nông sản mà các bên không dự liệu trước được thì nên có quy định cụ thể để chia sẻ rủi ro, cơ chế bảo vệ trước rủi ro nhằm giảm bớt gánh nặng cho các bên tham gia hợp đồng, trong đó cần chú ý bảo vệ trước các rủi ro đối với người nông dân. 2.7.5.3. Xử lý tranh chấp hợp đồng nông nghiệp Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng nông nghiệp rất đáng được quan tâm. Khi có tranh chấp hợp đồng nông nghiệp xảy ra, việc xử lý vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại trước hết sẽ do các bên tự thỏa thuận, khi cần thiết phải có sự can thiệp bằng các biện pháp tư pháp thì việc giải quyết hiện 76 nay dựa trên các nguyên tắc chung của BLDS và LTM. Tuy nhiên, các quy định về trình tự giải quyết một vụ việc còn mất nhiều thời gian và xét ở góc độ chi phí thì lại rất tốn kém làm cho các bên ngán ngại. Do vậy, xu hướng tự giải quyết tranh chấp, bất đồng về hợp đồng nông nghiệp bằng các biện pháp tự giải quyết hiện đang chiếm ưu thế. Do đó, xử lý tranh chấp trong hợp đồng nông nghiệp cần theo hướng rút gọn và nhanh chóng với chi phí thấp, đồng thời cần phát huy vai trò của các trọng tài thương mại và các cơ chế hòa giải trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng sản xuất, tiêu thụ HHNS. Kết luận chƣơng 2 1. Về nhận thức, HĐMBHHNS thường được đặt trong mối quan hệ của hợp đồng nông nghiệp hay hợp đồng sản xuất, là phương tiện nhằm đảm bảo mối liên kết sản xuất và đầu ra sản phẩm. HĐMBHHNS khi được xem xét dưới góc độ quan hệ HĐMB tài sản, hàng hóa thì pháp luật các quốc gia phần lớn điều chỉnh bởi Luật Dân sự hoặc Luật Thương mại, một số nước có thể điều chỉnh bằng luật riêng, nhưng BLDS và LTM vẫn điều chỉnh quan hệ cơ bản của HĐMBHHNS. 2. Trong quan hệ pháp luật về hợp đồng dân sự, thương mại, HĐMBHHNS là một loại hợp đồng đặc biệt của HĐMB hàng hóa, có những đặc thù riêng do tích chất riêng biệt của đối tượng hợp đồng là loại HHNS và mối quan hệ pháp luật các chủ thể tham gia hợp đồng. Yếu tố riêng biệt của HĐMBHHNS còn thể hiện ở tính chất hợp đồng luôn chịu sự chi phối bởi tập quán và thói quen giao dịch, bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố rủi ro hợp đồng như rủi ro sản xuất và sự chi phối của thị trường nông sản. 3. Pháp luật Việt Nam xem quan hệ HĐMBHHNS là bộ phận của quan hệ pháp luật dân sự, thương mại. Trong đó, chủ thể chính trong hợp đồng gồm một bên là nông dân chiếm đa số nhưng lại yếu thế về kinh tế và hạn chế 77 thông tin và bên kia thường là các thương gia hoặc doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế và chủ động hơn về thông tin hợp đồng. Đây là mối quan hệ pháp luật rất đặc thù chi phối mạnh mẽ đến kết quả thực hiện hợp đồng. 4. Một số quốc gia trên thế giới đã thực hiện khá thành công trong xây chính sách đối với nông nghiệp và điều chỉnh mối quan hệ pháp luật về hợp đồng trong nông nghiệp. Trong đó Thái Lan và một số nước có nền nông nghiệp phát triển là một điển hình tích cực rất gần gũi và có ý nghĩa gợi mở nhiều bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam trong điều chỉnh pháp luật, xử lý rủi và giải quyết tranh chấp hợp đồng nông nghiệp. 78 Chƣơng 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA NÔNG SẢN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản 3.1.1. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản HĐMBHHNS đã ngày càng được sự chú ý trong xây dựng thể chế pháp lý của Việt Nam bởi nó liên quan đến hoạt động nông nghiệp nói chung và đời sống của đại bộ phận dân cư sống nhờ vào nông nghiệp. Hợp đồng trong nông nghiệp vốn rất phức tạp và đa dạng, cả trong mối quan hệ của các chủ thể cũng như đối tượng của hợp đồng là sản phẩm nông sản, với đặc tính đa dạng về chủng loại, phụ thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên, thị trường và cả yếu tố tổ chức quản lý. Bản chất của HĐMBHHNS là một dạng cụ thể HĐMB hàng hóa do LTM điều chỉnh và chịu sự chi phối của BLDS. Tuy nhiên, BLDS và LTM không thể điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong nông nghiệp nói chung và HĐMBHHNS nói riêng do tính chất khái quát cao của các Luật. Có thể thấy hệ thống pháp luật Việt Nam, trong lĩnh vực luật tư đã và đang có một số luật điều chỉnh riêng về hợp đồng ở từng chuyên ngành cụ thể: Luật đấu giá 2016, điều chỉnh hợp đồng dịch vụ bán đấu giá (Điều 33) và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá (Điều 46); Luật xây dựng 2014, điều chỉnh hợp đồng xây dựng (Từ Điều 138 tới Điều 147); Luật giao dịch điện tử 2005 quy định về giao kết hợp đồng thương mại điện tử (Từ Điều 33 tới Điều 38); Luật nhà ở 2014 cũng đã dành một chương riêng gồm 11 mục từ Điều 117 đến Điều 158 quy định 79 về các loại giao dịch và hợp đồng về nhà ở.... Điều đó cho thấy ở từng lĩnh vực của đời sống, các quan hệ xã hội dân sự đã hình thành ổn định và có vai trò quan trọng, tác động tới sự ổn định, phát triển của kinh tế, chính trị và xã hội đất nước sẽ được pháp luật điều chỉnh bằng văn bản luật. Nông nghiệp và các hoạt động mua bán, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với kinh tế, xã hội nước ta hiện nay, nhưng lại là một lĩnh vực đang tồn tại nhiều vấn đề hạn chế, bất cập làm cản trở sự phát triển của các giao dịch nhưng chưa có luật điều chỉnh kịp thời. Đó là một hạn chế lớn kìm hãm sự ổn định và phát triển ở lĩnh vực nông nghiệp nói chung. Đã có một giai đoạn quan hệ hợp đồng sản xuất, tiêu thụ HHNS ngoài BLDS và LTM, hợp đồng còn được điều chỉnh bởi Quyết định 80/2002/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ, đây cũng là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất và đầu tiên được ban hành mang tính chất chuyên ngành điều chỉnh đối với quan hệ hợp đồng sản xuất và tiêu thụ HHNS. Tuy nhiên, kết quả thực hiện tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng nghiên cứu từ thực tiễn thực hiện tại ĐBSCL đã cho thấy không đạt được kết quả như mong muốn. Các hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg chưa phù hợp với thực tiễn, khi năng lực sản xuất kinh doanh của nông dân và doanh nghiệp còn yếu kém, quan hệ hợp đồng không bình đẳng và cơ chế phân bổ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định giữa nông dân và doanh nghiệp chưa được xác lập rõ ràng, các điều kiện cần thiết để thúc đẩy các hình thức sản xuất theo hợp đồng chưa đầy đủ. Từ khi có Quyết định 80/2002/QĐ-TTg sau 8 năm thực hiện, nhiều doanh nghiệp đã thất bại không mua được hàng hóa, hoặc không thu hồi được vốn đầu tư ứng trước cho nông dân, tình trạng vi phạm hợp đồng xảy ra khắp nơi, nông dân cho đổ lỗi cho doanh nghiệp và ngược lại. Việc tiêu thụ theo hợp đồng của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg khó thực hiện và không thành công trong thực tiễn [51, tr.2,81]. 80 Như vậy, trong suốt một thời gian dài dù có khá nhiều các chủ trương và nghị quyết của Chính phủ nhằm tăng cường đầu tư, phát triển đối với lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn nhưng pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong nông nghiệp nói chung và điều chỉnh quan hệ HĐMBHHNS nói riêng chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn, bổ sung và sau đó thay thế bằng Quyết định 62/2013/QĐ-TTg loại văn bản cùng cấp, thuần túy là một chính sách ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước nhằm khuyến khích liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản thuộc các dự án cánh đồng lớn, nhưng lại không mang tính chế tài xử lý. Hiện nay văn bản có giá trị pháp lý cao là Nghị định 98/2018/NĐ-CP ngày 5 tháng 7 năm 2018 vẫn mang tính chất là một chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản sản phẩm nông nghiệp [8, Điều 1]. Hệ quả là nước ta dù HHNS có sự tăng trưởng về số lượng nhưng giá trị sản phẩm trên thị trường còn thấp và sự ổn định sản xuất vẫn rất bấp bênh, chưa xứng tầm là một quốc gia có tiềm năng sản xuất nông nghiệp đặc biệt là khu vực ĐBSCL vùng đất đai trù phú và đa dạng sản phẩm nông sản nhưng giá trị hàng hóa mang lại rất thấp và không ổn định, quan hệ sản xuất mang nhiều rủi ro, bất cập. 3.1.2. Thực trạng pháp luật về hình thức ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản BLDS và LTM hiện hành có quy định tương đồng về hình thức HĐMB hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể (Điều 119 BLDS và Đ 24 LTM). HĐMBHHNS là một dạng của HĐMB hàng hóa, do đó cũng bao gồm các hình thức: 3.1.3.1. Hợp đồng bằng lời nói: Với tính chất giao dịch HHNS phần nhiều mang tính nhỏ lẻ và đòi hỏi phải được thực hiện nhanh chóng để tránh sự tiêu tốn thời gian, chi phí giao kết và nhằm hạn chế hao hụt và giảm sút về chất lượng sản phẩm nên hợp đồng thường được thiết lập bằng lời nói. Yếu tố niềm tin và độ tin cậy của các 81 bên trong hợp đồng bằng lời nói có vai trò rất quan trọng có tính quyết định đến sự thành công của thực hiện hợp đồng. Trong giao dịch hiện nay, các bên tham gia hợp đồng thường ưa thích lựa chọn giao kết dưới hình thức bằng lời nói, bởi tính tiện lợi và nhanh chóng của nó. Hình thức hợp đồng miệng trong mua bán HHNS được áp dụng đối với những hợp đồng có thể được thực hiện và chấm dứt ngày sau khi ký kết. Đa số các trường hợp sau khi thỏa thuận miệng xong về giá cả, số lượng và chất lượng thì hai bên thực hiện ngay thỏa thuận đó. Sau đó các bên thực hiện việc thu hoạch sản phẩm, cân đong rồi tiến hành việc bàn giao hàng hóa, việc thanh toán tiền mua sản phẩm cũng được tiến hành sau đó thì coi như giao dịch đã được hoàn tất [25]. Hình thức hợp đồng miệng thường có nội dung pháp lý đơn giản, dễ hiểu nhưng nội dung chỉ thể hiện được những vấn đề các bên quan tâm tại thời điểm giao kết hợp đồng nên dễ gây ra sự không thống nhất, thiếu những nội dung quan trọng để thực hiện. Trường hợp có sự không thống nhất dễ dẫn đến các tranh cãi về nội dung đã thỏa thuận nhưng không đầy đủ hoặc chưa được thỏa thuận cụ thể. 3.1.3.2. Hợp đồng bằng văn bản: Hình thức ký kết HĐMBHHNS được thiết lập bằng văn bản nhằm nâng cao độ chính xác về nội dung đã cam kết. Hợp đồng bằng văn bản thường thể hiện những điều khoản cơ bản và nội dung chủ yếu của hợp đồng. HĐMBHHNS hiện nay được trình bày theo nhiều dạng từ đơn giản, phổ biến như biên nhận, sổ ghi chép hoặc văn bản thỏa thuận cơ bản cho đến hợp đồng được soạn thảo bằng văn bản với nhiều nội phức tạp hơn. Hình thức hợp đồng văn bản được các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chuyên kinh doanh HHNS sử dụng rộng rãi trong các quan hệ mua bán kinh doanh hoặc xuất khẩu. Hợp đồng có thể được soạn thảo theo mẫu có sẵn để giao dịch cho nhiều khách hàng có cùng điều kiện giao dịch tương tự. Mẫu hợp đồng tiêu thụ (mua bán) HHNS được ban hành theo Thông tư 77/2002/QĐ-BNN ngày 82 28 tháng 8 năm 2002 thường được các doanh nghiệp và người sản xuất sử dụng hoặc để tham khảo để thiết lập hợp đồng. Theo quyết định 80/2002/QĐ- TTg HĐMBHHNS được công chứng, chứng thực và phải được đăng ký. Tuy nhiên kể từ sau khi quyết định 80/2002/QĐ-TTg hết hiệu lực thì loại hợp đồng này không bị ràng buộc bởi quy định phải công chứng chứng thực và cũng không buộc phải đăng ký. Ngoài hình thức văn bản viết thì HĐMBHHNS còn được giao kết thông qua hình thức là phương tiện điện tử. Hợp đồng điện tử được thiết lập dưới hình thức thông điệp dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật về quy định pháp luật về giao dịch điện tử [39]. Trong quan hệ mua bán HHNS ngoại thương hoặc xuất khẩu, hợp đồng thường được thể hiện dưới hình thức điện tử. Việc ký kết hợp đồng thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản (Điều 119 BLDS). Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản (Điều 15 LTM). HĐMBHHNS bằng văn bản là chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức bằng miệng do được thiết lập bằng văn bản và được các bên dễ dàng ghi nhớ thực hiện. Khi có tranh chấp xảy ra hợp đồng giao kết bằng hình thức văn bản là căn cứ pháp lý để thực hiện quyền yêu cầu đối với bên kia hoặc là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ của các bên. 3.1.3.3. Hợp đồng bằng hành vi cụ thể: Là trường hợp các bên có thể không có thỏa thuận bằng văn bản cũng như bằng miệng mà bằng hành vi cụ thể. Hợp đồng có thể thỏa thuận bằng hành vi cụ thể là những hành vi chứa đựng thông tin cho bên kia hiểu và thỏa thuận giao kết trên thực tế. Hợp đồng giao kết bằng hành vi cụ thể thường được thiết lập trong các giao dịch mua bán HHNS mà ở đó các bên sẽ thực 83 hiện ngay việc giao hàng và thanh toán tại nơi giao dịch và hợp đồng sẽ hoàn thành ngay sau khi các bên đã nhận hàng hóa và thanh toán đủ tiền. Hình thức giao kết HĐMBHHNS bằng hành vi có thể được thể hiện bằng việc chấp thuận hành vi thu hái của thương lái và nhận thanh toán Việc giao kết hợp đồng được minh chứng bằng các hành vi cụ thể như bên bán tiến hành giao hàng hoặc nhận thanh toán, bên mua tiến hành thu hoạch, tiếp nhận hàng hóa và trả tiền. Tuy nhiên, đây cũng là hình thức hợp đồng mang lại nhiều rủi ro trên thực tế, do các giao dịch sẽ có những tình huống khác nhau khi điều kiện thu hoạch gặp trở ngại, chất lượng sản phẩm khác nhau ở từng thửa đất, hoặc vùng trồng trọt, kỹ thuật chăm sóc cây trồng khác nhau là những điều kiện không được dự liệu đầy đủ, do vậy nguy cơ tranh chấp từ hình thức giao kết hợp đồng thông qua hành vi xảy ra rất cao. 3.1.3. Thực trạng pháp luật về thủ tục ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản 3.1.3.1. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản Giao kết HĐMB hàng hóa nói chung và giao kết HĐMBHHNS nói riêng là quá trình các chủ thể tham gia hợp đồng bày tỏ ý chí trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhau xác lập những quyền và nghĩa vụ vụ hợp đồng. Theo nguyên tắc giao kết hợp đồng của BLDS “đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng”( Điều 386 của BLDS). Trong đề nghị giao kết HĐMBHHNS, bên có nhu cầu tiêu thụ HHNS trong tương lai thường là các doanh nghiệp, công ty kinh doanh HHNS sẽ bày tỏ trước ý muốn để đi đến thỏa thuận nhằm tiêu thụ HHNS. Đối với các HĐSXTT, lời đề nghị sản xuất gắn với tiêu thụ HHNS do các doanh nghiệp tiêu thụ đưa ra, có thể bằng văn bản hoặc bản ghi nhớ được gửi trước cho người sản xuất để họ có thời gian xem xét các điều kiện sản xuất hướng tới 84 việc xác định khả năng thực hiện đúng hợp đồng. Để đi đến thỏa thuận các bên có thể có giai đoạn đàm phán sơ bộ trước khi có đề nghị chính thức. Kết quả đàm phán sơ bộ sẽ xác định xem các bên đạt được thỏa thuận ở mức độ nào, khi nào thì hợp đồng được ký kết. Đối với các HĐMBHHNS giao ngay, các giai đoạn như chào hàng, đàm phán hoặc đề nghị giao kết có thể không tồn tại một cách rõ nét. HĐMBHHNS có thể được ký kết trực tiếp thông qua hoạt động giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ chấp thuận, một tuyên bố chấp nhận, hoặc hành vi giao nhận hàng hóa, giao nhận tiền,... Phía người nông dân sản xuất theo định kỳ sản xuất hoặc tập quán canh tác đã sẵn sàng cho một vụ thu hoạch sắp đến. Họ sẵn sàng tiếp nhận sự đề nghị của bên tiêu thụ, vấn đề còn lại là đề nghị đó có mang lại lợi ích cho người sản xuất hay không. Khi một đề nghị đưa ra, nội dung đề nghị có thể chứa đựng nhiều thông tin với những yêu cầu phức tạp liên quan đến việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một số hành vi hoặc chỉ tiêu nhất định của nhà sản xuất như: tỷ lệ hóa chất, công thức bảo quản, chăm sóc cây trồng thông tin về quyền và nghĩa vụ, chi phí sản xuất, thu nhập dự kiến, phương thức kiểm tra, giám sát, trách nhiệm về môi trường Một số trường hợp khác lời đề nghị có thể chứa những thông số kỹ thuật phức tạp, hoặc sử dụng các thuật ngữ vượt quá sự hiểu biết của người sản xuất, đặc biệt ở những vùng mà đa phần hộ nông dân sản xuất nhỏ, có thể gây ra tình trạng không hiểu hết nội dung cũng như ngôn ngữ sử dụng trong lời đề nghị. Tất cả các yếu tố đó, đòi hỏi phải có thời gian cho sự cân nhắc của người sản xuất trước lời đề nghị giao kết HĐMBHHNS. 3.1.3.2. Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nông sản Điều 393 BLDS 2015 cũng quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. Như vậy, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải là sự biểu 85 thị đồng ý toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Theo nguyên tắc chung, các điều khoản cơ bản của hợp đồng như, giá cả, thanh toán, số lượng, chất lượng và thời gian giao nhận hàng đã được các bên chấp thuận. Việc chấp thuận giao kết hợp đồng dù chỉ đơn giản là hành vi cũng đủ để hình thành hợp đồng và có giá trị buộc thực hiện. Trong trường hợp cần có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó. Sau thời gian đó bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay không. Trong điều kiện dân cư vùng sản xuất nông nghiệp nước ta còn có hạn chế trong khả năng hiểu các điều khoản của hợp đồng, có trường hợp còn mù chữ hoặc các rào cản ngôn ngữ khác (vùng dân tộc) là trở ngại phổ biến cho sự hiểu biết về nội dung hợp đồng. Một vấn đề có thể xảy ra trong hợp người sản xuất không có sự hiểu biết đầy đủ về các điều khoản của hợp đồng và những hàm ý trong hợp đồng, khi người tiêu thụ không cung cấp đủ thông tin cho họ do đó dẫn đến việc ký kế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_hop_dong_mua_ban_hang_hoa_nong_san_tu_thuc_tien_o_do.pdf
Tài liệu liên quan