Luận án Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

Chương 1: QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH

SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC

VIỆT NAM (TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000) 22

1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và chính sách dân tộc của Đảng

đối với vùng miền núi Đông Bắc Việt Nam 22

1.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh

miền núi Đông Bắc 43

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI

ĐÔNG BẮC VIỆT NAM (TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010) 66

2.1. Chính sách dân tộc của Đảng trong quá trình đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng miền núi Đông Bắc 66

2.2. Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh

miền núi Đông Bắc 80

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUÁ TRÌNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG Ở VÙNG ĐÔNG BẮC

VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 117

3.1. Một số nhận xét 117

3.2. Một số kinh nghiệm 137

KẾT LUẬN 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 156

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 169

pdf195 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 465 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cây hàng hoá. Tỉnh Lạng Sơn chuyển từ trồng lúa xuân sang trồng dưa hấu cho thu nhập từ 25 triệu đến 30 triệu đồng/ha, cao gấp 2 đến 3 lần so với trồng lúa. Vì vậy, thu nhập và đời sống của đồng bào được tăng lên rõ rệt. Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng cây thảo dược (tam thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả); cây ăn quả như mận, đào, lê, hồng; cây công nghiệp ngắn ngày như đỗ tương, lạc đạt 55.918 ha;... đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước trong khu vực ASEAN. 86 Những kết quả đạt được trong nông nghiệp đã khẳng định sự đúng đắn của Trung ương trong việc đầu tư các chương trình, dự án cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với vùng Đông Bắc. Thành tựu đó đảm bảo an ninh lương thực cho toàn vùng, mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa Đông Bắc với các vùng khác trong cả nước và các nước trong khu vực. Trong ngành chăn nuôi Chăn nuôi trong thời kỳ 2001 - 2010 phát triển mạnh cả về số lượng và cơ cấu đàn gia súc, gia cầm. Hàng năm, tỷ lệ đàn trâu, bò, gia súc, gia cầm tăng từ 3% đến 4%. Riêng tốc độ tăng đàn trâu tại Đông Bắc thời kỳ 2001- 2005 bình quân 9,73%, chiếm 41,97% tổng đàn trâu cả nước. Với tiềm năng sẵn có về đất đai, kinh tế trang trại tại khu vực miền núi Đông Bắc đã có những bước tiến khá mạnh mẽ. Năm 2000, nếu như toàn vùng mới có 763 trang trại thì đến năm 2006 đã có 1615 trang trại [67, tr.210]. Cùng với số lượng, quy mô, vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế của các trang trại cũng lớn hơn, hình thức phong phú, đa dạng hơn. Số trang trại phân theo ngành hoạt động trên địa bàn các tỉnh Đông Bắc cũng theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chiếm ưu thế. Năm 2006, trong tổng số 1615 trang trại toàn vùng thì có 166 trang trại chăn nuôi và 774 trang trại nuôi trồng thuỷ sản (chiếm 58,2%) [67, tr.212]. Trong lĩnh vực lâm nghiệp Nhằm thực hiện chủ trương “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ”, các văn bản mới đã được ban hành: Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16-11-1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Các tỉnh cũng có chính sách khuyến khích mọi thành 87 phần kinh tế đầu tư kinh doanh lâm nghiệp, thực hiện xã hội hoá nghề rừng; khai thác và phát huy thế mạnh kinh tế đồi rừng; đẩy mạnh công tác trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng, chú trọng nâng cao chất lượng rừng; hoàn thành giao đất giao rừng gắn với định canh định cư, từng bước giải quyết đất ở, đất sản xuất cho hộ nông dân nghèo và đồng bào vùng cao thiếu đất; tăng cường các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái. Với chủ trương, chính sách trên, đến năm 2010, diện tích rừng vùng Đông Bắc là 1501,5 nghìn ha, trong đó, rừng trồng tập trung toàn vùng đạt 41 nghìn ha, sản lượng gỗ khai thác năm 2010 đạt 284,4 nghìn m³ [72, tr.386-396]. Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong quá trình phát triển lâm nghiệp còn một số hạn chế: Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo được nhiều việc làm, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn định. Đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng. Việc thực hiện xã hội hoá lâm nghiệp chưa chuyển biến rõ rệt. Tiến độ giao đất, giao rừng chậm, nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên, rừng trồng cho dân, đặc biệt là cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân. Trong sản xuất công nghiệp Nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội tại khu vực miền núi phía Bắc phát triển, ngày 7-12-2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 186 về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005. Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn về vốn, ngày 19-10-2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 183-QĐ/TTg về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Những chủ trương, chính sách trên của Đảng và Nhà nước cùng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư... đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp tại các tỉnh vùng Đông Bắc, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế toàn vùng đạt 85797,9 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2005 [72, tr.438]. 88 Nhờ vai trò can thiệp của thể chế, các khu, cụm công nghiệp ở Đông Bắc đã được hình thành. Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp, dự án vào hoạt động. Nếu như năm 1996, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng miền núi Đông Bắc chỉ có 31 dự án đến năm 2010 đã có 161 dự án [70, tr.165]. Nhìn chung, các doanh nghiệp có dự án tại đây đều có vốn pháp định lớn, kinh doanh ổn định, có trang thiết bị hiện đại, hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu, phổ biến là hoạt động trong các ngành nghề như điện tử, máy tính, may mặc, giày da, dịch vụ viễn thông Một trong những ngành công nghiệp truyền thống được xác định là mũi nhọn của vùng đó là công nghiệp khai khoáng. Trong chiến lược khai thác khoáng sản Việt Nam thời kỳ đến năm 2020, các chuyên gia đã đánh giá Trung du - miền núi Bắc Bộ là địa bàn công nghiệp nặng quan trọng trên cơ sở khai thác các mỏ khoáng sản quan trọng với trữ lượng lớn như: than, sắt, đồng, chì, kẽm, đất hiếm, đá xây dựng... Mục tiêu đặt ra của ngành công nghiệp này được xác định là khai thác các loại khoáng sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu như: than (Quảng Ninh), quặng sắt (Cao Bằng, Hà Giang)... Với chủ trương và mục tiêu trên, các mỏ than tại Quảng Ninh được đầu tư kỹ thuật và công nghệ mới để phục vụ khai thác, đáp ứng nhu cầu nhiên liệu của một số nhà máy nhiệt điện (nhiệt điện Uông Bí - Quảng Ninh, Phả Lại - Hải Dương, Cao Ngạn - Thái Nguyên, Nà Dương - Lạng Sơn). Ngoài ra, các mỏ than địa phương cũng được khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu nhiên liệu cho công nghiệp xây dựng địa phương và dùng làm chất đốt trong sinh hoạt. Tính từ năm 2005 đến 2009, lượng than khai thác tại Quảng Ninh như sau: than nguyên khai là 203 triệu tấn, lượng than tiêu thụ đạt 189 triệu tấn, tổng doanh thu đạt 202.340 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ than đạt 126.712 tỷ đồng [39]. Thuỷ điện được coi là một ngành công nghiệp mới của vùng, có những đóng góp nhất định vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tận dụng lợi thế nguồn thuỷ năng từ các hồ lớn, sông, suối, các nhà máy thuỷ điện cỡ lớn và nhiều cơ sở thuỷ điện nhỏ được xây dựng trong vùng. Hệ thống các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện được kết nối vào mạng lưới điện quốc gia, góp phần quan trọng vào cân 89 bằng cung cầu về năng lượng của cả nước, đặc biệt là đảm bảo nhu cầu năng lượng cho vùng đồng bằng sông Hồng, trung du - miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tạo cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp khác. Các tỉnh Đông Bắc đều khuyến khích phát triển công nghiệp địa phương quy mô vừa và nhỏ, ưu tiên công nghệ hiện đại, công nghệ sạch. Đây là một chủ trương đúng nhằm khai thác các nguồn tài nguyên quy mô nhỏ, đáp ứng nhu cầu tại chỗ của địa phương, tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một số ngành công nghiệp địa phương được phát triển đó là: xi măng, cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến chè, mộc gia dụng, mây tre đan, dệt may gia công xuất khẩu. Phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và kinh tế cửa khẩu Về thương mại: Vùng Đông Bắc có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt khá phát triển, nối các tỉnh với Thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu biên giới. Để thúc đẩy phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc, ngày 31 tháng 3 năm 1998 Chính phủ ra Nghị định số 20/1998/NĐ-CP về việc phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Nghị định xác định: đầu tư phát triển mạng lưới thương mại ở tỉnh, huyện, trung tâm cụm xã, xã và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hoá hai chiều, nhằm tạo động lực cho sản xuất phát triển, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước phải nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát huy vai trò nòng cốt. Đồng thời, phát triển thêm các chợ phiên. Đầu tư xây dựng các cửa khẩu (quốc tế và địa phương), khu kinh tế cửa khẩu, chợ biên giới và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu. Đầu tư xây dựng, nâng cấp một số trung tâm thương mại và chợ nội địa, gắn phát triển giao thông với quy hoạch sắp xếp lại dân cư. Đối với miền núi Đông Bắc nói chung, đặc biệt là những vùng chậm phát triển, hoạt động của ngành nội thương có tầm quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn duy trì mạng lưới thương mại quốc doanh để đảm bảo cung cấp các mặt hàng trợ cước, trợ giá đặc biệt như: xăng, dầu, muối, thuốc chữa bệnh... cho vùng cao, vùng khó khăn, biên giới. Hệ thống chợ miền núi đã hình thành đến các cụm xã, các cụm bản, ngoài mục đích kích thích trao đổi hàng hoá, còn có ý nghĩa mở 90 rộng giao lưu văn hoá, xã hội. Hệ thống các chợ toàn vùng năm 2008 là 480 chợ đến 2010 tăng lên 490 chợ [72, tr.483]. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế của vùng năm 2005 đạt 14847,6 tỷ đồng, đến năm 2010 tăng lên 40653,1 tỷ đồng [72, tr.481]. Với vị trí địa lý thuận lợi, vùng Đông Bắc đứng trước nhiều triển vọng do có nhiều dự án kinh tế quan trọng: hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, kinh tế cửa khẩu biên giới trên đất liền và trên biển, các khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn, cảng Cái Lân và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Kinh tế mậu biên được đẩy mạnh, các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá, trước hết là nông, lâm, thuỷ sản với Trung Quốc. Về phát triển kinh tế cửu khẩu: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg (ngày 19-4-2001) về phát triển kinh tế cửa khẩu. Thực hiện các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế cửa khẩu, đồng thời với vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh đã trở thành thị trường trung chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và qua Trung Quốc đi các nước Đông - Tây Âu. Tính đến năm 2004, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có trên 350 doanh nghiệp và tổ chức kinh tế của các nước thực hiện xuất nhập khẩu với thị trường Trung Quốc qua các cửa khẩu của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu qua tỉnh Lạng Sơn năm 2008 đạt 1.498 triệu USD, tăng 41,7% so với năm 2007; trong đó, xuất khẩu các mặt hàng địa phương đạt 33 triệu USD, tăng 15% so với năm 2007. Đây là tỉnh giữ vị trí đầu tàu trong xuất khẩu của vùng miền núi Đông Bắc [60, tr.78]. Về du lịch: Chủ trương đối với phát triển du lịch đó là tập trung đầu tư theo chiều sâu trung tâm du lịch hiện có, lựa chọn đầu tư mới ở những nơi có điều kiện, khai thác thế mạnh về du lịch sinh thái, cảnh quan và di tích lịch sử cách mạng trong vùng. Nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì và phát triển nền văn hoá truyền thống của các dân tộc trong việc phát triển du lịch, các tỉnh trong vùng miền núi Đông Bắc đã và đang đầu tư, khôi phục một số nét văn hoá truyền thống như: lễ hội đền Mẫu Đồng Đăng (Lạng Sơn), lễ hội Lồng Tồng ở Bắc Kạn... Cùng với đó, các di tích lịch sử gắn với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng 91 được gìn giữ, trở thành những khu di tích - lịch sử - văn hóa, điểm du lịch hấp dẫn du khách như Pắc Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang)... Ngoài ra, các địa phương đều có các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: hồ Ba Bể (Bắc Kạn), thác Bản Dốc (Cao Bằng), động Tam Thanh, Nhị Thanh (Lạng Sơn), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh),... * Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức lại xã hội ở vùng Đông Bắc Triển khai thực hiện Chương trình 135 - I (1998 - 2005) ở vùng Đông Bắc, theo tiêu chí "xã đặc biệt khó khăn", tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24- 12- 1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 496 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm phạm vi của Chương trình 135, trong đó Hà Giang 128 xã, Cao Bằng 113 xã, Lạng Sơn 85 xã, Quảng Ninh 35 xã (trong đó 10 xã Trung ương đầu tư và 25 xã địa phương đầu tư) [Phụ lục 8]. Chương trình 135-II (2006 - 2010), thực hiện theo Quyết định 164/2006/QĐ- TTg (11-7-2006) của Thủ tướng Chính phủ, 4 tỉnh miền núi Đông Bắc có 313 xã thuộc phạm vi chương trình, trong đó, Hà Giang 112 xã, Cao Bằng 106 xã, Lạng Sơn 68 xã, Quảng Ninh 27 xã (19 xã địa phương đầu tư) [Phụ lục 9]. Sau một thời gian tích cực triển khai, các hợp phần của Chương trình 135 được thực hiện tại Đông Bắc đã đạt được những hiệu quả nhất định: Dự án quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa miền núi Đông Bắc giai đoạn 1999 - 2005 là 1.278.840,84 triệu đồng. Chỉ tính riêng tỉnh Cao Bằng, từ 1999 đến 2005, chương trình 135 đã huy động vốn đầu tư vào xây dựng kết cấu hạ tầng là 512.112 triệu đồng [Phụ lục 12]. Thông qua Chương trình 135, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ở Đông Bắc đã có bước chuyển biến rõ nét. Nhờ kết cấu hạ tầng được đầu tư, công tác khuyến nông, khuyến lâm được coi trọng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và hỗ trợ giống, phân bón... được đầu tư đến tận thôn bản, từng hộ 92 gia đình, đã tạo chỗ dựa vững chắc và là cơ hội cho hàng ngàn hộ dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn phát triển sản xuất, ổn định kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình, việc huy động nội lực trong dân còn thấp, nhất là tham gia lao động xây dựng công trình. Một số nơi thực hiện nguyên tắc xã có công trình, dân có việc làm kết quả còn hạn chế. Công trình giao thông và công trình cấp nước sinh hoạt ở một số địa phương chưa đạt yêu cầu đặt ra. Dự án xây dựng trung tâm cụm xã Chương trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1997, tại Quyết định số 35/TTg ngày 13-01-1997. Đến năm 2000, chương trình trở thành một dự án thành phần của Chương trình 135 theo Quyết định số 138/2000-QĐ/TTg. Tính đến năm 2005, với hơn 100 trung tâm cụm xã được xây dựng, tổng vốn đầu tư trên toàn vùng là 261.649,76 triệu đồng [Phụ lục 12]. Tỉnh Hà Giang đã đầu tư xây dựng 34 trung tâm cụm xã, 182 công trình với tổng nguồn vốn là 88.841,7 triệu đồng, trong đó, 11 công trình giao thông, 34 công trình trường học, 24 công trình trạm xá xã, 25 công trình chợ trung tâm, 22 công trình trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, 20 công trình hệ thống cấp nước, 14 công trình san ủi, tạo mặt bằng trung tâm, 1 công trình hệ thống cấp điện, 31 công trình các hạng mục khác [90]. Ngoài ra, ở một số tỉnh còn thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn đầu tư chương trình. Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện lồng ghép Chương trình 135 với các chương trình: an ninh, quốc phòng, biên giới - hải đảo, kinh tế quốc phòng, vốn phát triển giáo dục, y tế, giao thông, thuỷ lợi miền núi, nước sạch nông thôn, vốn tài trợ của UNICEF kết hợp với sự đóng góp của dân đã xây dựng nhiều công trình thiết yếu phục vụ dân sinh như công trình điện sinh hoạt, các tuyến đường giao thông chính và tuyến đường biên giới Việt - Trung. Dự án ổn định và phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm Đến năm 2005, số vốn được đầu tư cho dự án tại 4 tỉnh là 51.590,82 triệu đồng [Phụ lục 12]. Nguồn vốn được hỗ trợ đúng đối tượng, đúng mục đích và phát huy được hiệu quả, giúp nhân dân từng bước ổn định cuộc sống, chuyển dịch cơ cấu 93 cây trồng, vật nuôi và phát huy thế mạnh sẵn có của từng vùng, từng khu vực. Ở Quảng Ninh, dự án tập trung vào các mô hình trồng lúa lai, gà thả vườn, lợn Móng Cái, trợ cấp cây lâm nghiệp, cây trồng, vật nuôi, giống phân bón và hỗ trợ một số hộ nông dân mua trang thiết bị sản xuất miến dong (huyện Bình Liêu)... nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ lãi suất vốn vay cho các chương trình phát triển nông nghiệp cho các hộ dân vùng cao đặc biệt khó khăn. Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết Dự án thành phần này trong những năm 1999 - 2002 chủ yếu tiếp tục thực hiện ổn định dân cư. Từ 2002 đến 2005, việc quy hoạch bố trí lại dân cư, ổn định dân cư, trong Chương trình 135 chủ yếu là tái định cư, ổn định dân cư biên giới, di giãn dân một số vùng. Tại tỉnh Hà Giang, sau 7 năm thực hiện, dự án quy hoạch bố trí lại dân cư đã thực hiện được 120 hộ với nguồn kinh phí đầu tư 7.400,9 triệu đồng thực hiện chỉ tiêu di chuyển các hộ dân từ vùng cao núi đá xuống vùng thấp trong tỉnh. Ngoài ra, dự án ổn định dân cư kinh tế mới (hạ sơn tại chỗ) thực hiện được 2.563 hộ, với kinh phí 4.279 triệu đồng; dự án ổn định sắp xếp dân cư biên giới đã thực hiện được 380 hộ với nguồn kinh phí 2.967,2 triệu đồng [91]. Dự án đào tạo cán bộ xã Nội dung chính đào tạo hàng năm đối với các cán bộ xã chủ yếu vào hướng dẫn lập kế hoạch sản xuất cho các hộ gia đình và các xã theo từng mùa vụ trong năm. Học tập quy trình kỹ thuật canh tác một số loại cây con chủ yếu để phục vụ sản xuất, xoá đói giảm nghèo. Ngoài ra, còn một số nội dung phù hợp với đặc điểm từng địa phương. Với nội dung đào tạo như trên, trong 7 năm thực hiện, dự án đã đào tạo được trên 100.000 học viên, chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo xã, cán bộ tổ chức đoàn thể xã, trưởng xóm. Trình độ của đội ngũ cán bộ các xã thuộc chương trình 135 được nâng lên. Tính đến 2005, riêng Lạng Sơn đã mở được 74 lớp với 4.311 lượt học viên tham dự [99]. Sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo 94 điều kiện bảo đảm an ninh quốc phòng trên địa bàn các xã 135, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chương trình còn một số hạn chế: Một số chủ đầu tư còn lúng túng, thiếu tính chủ động trong tổ chức thực hiện chương trình, đặc biệt là nội dung dự án hỗ trợ và phát triển sản xuất và dự án đào tạo cán bộ. Chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ về sản xuất, nhiều nơi còn mang tính tự cấp, tự túc là chủ yếu, ý thức tổ chức sản xuất hàng hoá của nhân dân còn rất hạn chế. Nguồn vốn hỗ trợ phục vụ cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa bảo đảm so với nhu cầu thực tế. Đời sống nhân dân của các xã thuộc chương trình 135 còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Trong giai đoạn 2006 - 2010, các địa phương đặt ra mục tiêu của Chương trình 135 là tạo sự chuyển biến rõ rệt về sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân cho các xã đặc biệt khó khăn. Phấn đấu đến 2010, không còn hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30%. Để đạt được mục tiêu trên, các địa phương đã chủ động đề ra các giải pháp, trong đó, giải pháp cơ bản là phải chủ động lồng ghép các nguồn vốn theo tiêu chí đảm bảo sự công bằng, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo hướng kịp thời hơn; lựa chọn các nội dung đầu tư, hỗ trợ dự án phát triển sản xuất tập trung vào hỗ trợ con giống, thú y nhằm đẩy mạnh sản xuất, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị thu nhập trên một diện tích đất canh tác. Sau 5 năm thực hiện chương trình 135 giai đoạn II, 4 dự án với tổng số vốn đã thực hiện là 2.128.138,405 triệu đồng đã đạt được một số kết quả: Về dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu. Từ năm 2006 đến 2010, cả khu vực đã đầu tư 1.456.966 triệu đồng để xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu ở các xã đặc biệt khó khăn [Phụ lục 13]. Tại Lạng Sơn, số công trình được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp trong cả giai đoạn là 389 công trình giao thông, 58 công trình điện, 43 công trình trường học, 20 công trình trạm y tế, 32 công trình nhà sinh hoạt cộng đồng, 23 công trình thuỷ lợi, 23 công trình nước sạch, 9 công trình chợ với tổng số vốn là 294.750 triệu đồng [102]. 95 Về dự án hỗ trợ phát triển sản xuất Cùng với việc tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như ở giai đoạn I, tại giai đoạn II, Chương 135 đã có thêm hợp phần hỗ trợ sản xuất. Trong giai đoạn 2006 - 2010, với số vốn 341.026 triệu đồng được triển khai đến tận thôn, bản, đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nội dung theo quy định [Phụ lục 13]. Thực hiện hợp phần này, các địa phương đã hỗ trợ cung cấp một số tư liệu sản xuất như cây, con giống, phân bón, máy móc nông cụ cho bà con phát triển sản xuất, do đó, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên; đây là cơ sở cơ bản giúp bà con nâng cao thu nhập (đa số các xã đặc biệt khó khăn đạt thu nhập bình quân trên 3,5 triệu đồng/người/năm); giảm tỷ lệ hộ nghèo trong vùng 135 trung bình 4 - 5%/năm. Về dự án đào tạo cán bộ cơ sở và cộng đồng Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã chủ yếu tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ xã, thôn, bản làm chủ đầu tư có đủ năng lực đảm nhận sự phân cấp, phân quyền, tham gia quản lý, tổ chức thực hiện các hoạt động của chương trình. Thực tế triển khai cho thấy các kiến thức tập huấn đã phát huy tác dụng tốt và được đông đảo người dân, cán bộ cơ sở đồng tình ủng hộ. Vì thế, trong 5 năm thực hiện hợp phần với tổng số vốn 95.952,485 triệu đồng, đã thu hút hơn 300.000 lượt cán bộ cơ sở và cộng đồng dân cư tham gia, đào tạo nghề ngắn hạn cho hơn 13.000 thanh niên dân tộc thiểu số từ 16 đến 25 tuổi [Phụ lục 13]. Qua 4 năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nhìn chung các tỉnh đều tuân thủ tốt các nguyên tắc đầu tư của Chương trình. Trong đó nguyên tắc: công khai, dân chủ, thiết thực đối với đời sống người dân được đặt lên hàng đầu. Do đó, khi triển khai xây dựng công trình, cộng đồng thôn bản được tham gia từ khâu lập kế hoạch, lựa chọn công trình, ra quyết định, giám sát việc thực hiện và bàn giao công trình. Đây chính là điểm mới trong Chương trình 135 giai đoạn II và cũng là một trong những điểm thành công của chương trình. Đến năm 2010, kết thúc giai đoạn II của chương trình 135, với sự nỗ lực của các địa phương, khu vực miền núi Đông Bắc có 6 xã hoàn thành chương trình 135, đạt 1,92% [Phụ lục 10]. 96 2.2.3. Đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm Các chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc chịu sự chi phối về mặt tài chính của các dự án lớn và chương trình mục tiêu quốc gia. Các hợp phần và tiểu hợp phần của các chương trình này chiếm tới trên 40% số hoạt động và ngân sách hỗ trợ cho các tỉnh miền núi Đông Bắc. Ngoài các chương trình chung, còn có dự án hỗ trợ, phát triển dân tộc Pu Péo tại tỉnh Hà Giang (Quyết định số 238/QĐ- UBDT) ngày 16-5-2005); hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số, hộ nghèo và cận nghèo, hộ chính sách xã hội tại những vùng chưa nối mạng lưới điện quốc gia (Quyết định 289/2008/QĐ-TTg); hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía Bắc (Nghị quyết số 37/NQ và Quyết định 27/2008/QĐ-TTg); chương trình tái định cư - Hỗ trợ di dân đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 5-3-2007); chương trình tái định cư - hỗ trợ di dân tại các xã biên giới với Trung Quốc (Quyết định số 60/2005/QĐ-TTg ngày 24-3-2005); chính sách cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn vay vốn phát triển sản xuất (Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày 05-3-2007). Các hoạt động giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc nhìn chung toàn diện, bao trùm các lĩnh vực và yếu tố cần thiết, chú ý đến cả vùng nghèo và dân tộc kém vị thế. Một số dự án được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của một số nhóm đối tượng xã đặc biệt khó khăn, dân tộc đặc biệt khó khăn, dân tái định cư, dân cư trú khu vực biên giới. Tuy nhiên, trên thực tế các tỉnh miền núi Đông Bắc và từng huyện có thể điều chỉnh cho phù hợp tình hình của vùng hoặc địa phương. Việc thực hiện chính sách giảm nghèo ở miền núi Đông Bắc tập trung vào các biện pháp sau đây: 1) Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (khuyến nông, trợ giá đầu vào cho nông nghiệp, đào tạo nông nghiệp, hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ ngư nghiệp, bảo vệ rừng, quản lý và khai thác rừng, vốn vay cho người nghèo để sản xuất); 2) Hỗ trợ giáo dục (tiếp cận giáo dục, hỗ trợ học phí, hỗ trợ cho các trường nội trú, chính sách về lương cho giáo viên ở vùng sâu, vùng xa); 3) Tiếp cận dịch vụ (tiếp cận dịch vụ cấp nước sạch, tiếp cận dịch vụ điện); 4) Cơ sở hạ tầng (các loại công trình cơ sở hạ tầng khác nhau, vận hành, bảo trì, duy tu, bảo dưỡng); 5) Hỗ trợ y tế (dịch vụ y tế, cải thiện tình trạng vệ sinh, nâng cao an toàn vệ sinh chăn nuôi); 6) Đào tạo và tăng cường năng lực (dạy nghề, đào tạo cán bộ để thực hiện chương 9

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftv_qua_trinh_thuc_hien_chinh_sach_dan_toc_cua_dang_o_mot_so_tinh_mien_nui_dong_bac_viet_nam_tu_nam_1.pdf
Tài liệu liên quan