Luận án Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam - Lê Duyên Hà

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ

TÀI LUẬN ÁN 8

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 8

1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 22

1.3. Một số nhận xét rút ra từ các công trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra

cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 30

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHIẾU NẠI

HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 35

2.1. Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về khiếu nại hành chính

trong lĩnh vực đất đai 35

2.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về khiếu nại hành

chính trong lĩnh vực đất đai 46

2.3. Hình thức và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về khiếu nại hành

chính trong lĩnh vực đất đai 56

2.4. Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai ở các

tỉnh Tây Bắc và giá trị tham khảo cho các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam 68

Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN, VIỆT NAM 75

3.1. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong

lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 75

3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai

trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam (từ năm 2011 đến năm 2016) 82

3.3. Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm thực hiện pháp luật về khiếu nại hành

chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam 106

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT VỀ KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN

ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN, VIỆT NAM HIỆN NAY 122

4.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong

lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam 122

4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh

vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam hiện nay 129

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 169

pdf206 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 406 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam - Lê Duyên Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
định của pháp luật. Riêng tỉnh Đắk Nông qua 2 năm (2011 - 2012) rà soát đã xây dựng được 90 phương án đền bù, hỗ trợ cho hơn 473 hộ dân được hưởng chính sách hỗ trợ về tiền là 24,6 tỷ, 50 lô đất tái định cư và 300 ha đất sản xuất [112, tr.7]. Khi xác định đúng quyền lợi, lợi ích của người dân thì tình hình KNHC về đất đai có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là người dân chấp hành không tụ tập đông người gửi đơn vượt cấp; các cơ quan cũng thấy được những tồn tại, hạn chế và sai sót của chính mình trong công tác thẩm tra, thẩm định lập phương án đền bù còn nhiều bất cập cần được rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác đền bù. Qua khảo sát có 87% CB,CC có thẩm quyền giải quyết KNHC về đất đai cho rằng đã chấp hành và giải quyết KNHC đúng theo pháp luật. Tuy nhiên, khi được hỏi đối tượng là người KNHC về đất đai lại cho rằng vẫn còn 36% người giải quyết KNHC chưa chấp hành và giải quyết đúng theo pháp luật. Tác giả đã phỏng vấn nhanh ý kiến của 100 trường hợp có đơn KNHC về đất đai tại một số địa phương các tỉnh Tây Nguyên, trong đó chỉ có 5 trường hợp có ý kiến là được giải quyết thỏa đáng, 102 trường hợp nói là không thỏa đáng và 79 trường hợp vẫn đang chờ đợi kết quả. Điều này cho thấy, việc chấp hành các quy định của pháp luật về KNHC trong lĩnh vực đất đai của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vẫn chưa cao. - Chấp hành các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết KNHC trong lĩnh vực đất đai + Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại QĐHC, HVHC về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại và theo TTHC. Thủ tục khiếu nại và giải quyết KNHC cần được rà soát để tiếp tục đổi mới theo xu hướng đơn giản, hiệu quả và thuận tiện. Trình tự và thời hạn giải quyết khiếu nại của cơ quan HCNN phải công khai, minh bạch, bảo đảm cho công dân dễ tiếp cận, dễ thực hiện khi tham gia vào quan hệ pháp luật khiếu nại, đồng thời cũng bảo đảm cho công dân dễ dàng giám sát, phản ánh việc thực hiện trình tự, thủ tục này của cơ quan HCNN. Nếu các quy định về trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết KNHC phức tạp, khó thực hiện và khó tiếp cận, thiếu minh bạch, công khai thì rất dễ dẫn đến những vi phạm của công dân trong việc thực hiện trình tự thủ tục như: khiếu nại 91 vượt cấp, đông người, khiếu nại không đúng cơ quan có thẩm quyền, khiếu nại nhiều lần. Có thể thấy, tiến độ giải quyết các KNHC về đất đai của cơ quan HCNN ở một số địa phương các tỉnh Tây Nguyên chưa đúng thời gian, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và không đúng theo pháp luật; các vụ việc thuộc thẩm quyền nhìn chung còn chậm so với kế hoạch đề ra. Nhiều vụ việc khiếu nại các QĐHC, HVHC giải quyết còn chậm, để công dân khiếu nại nhiều lần, vượt cấp, một số vụ việc giải quyết không đúng chính sách, pháp luật và phù hợp với thực tế nên không dứt điểm. Nhiều địa phương ở các tỉnh Tây Nguyên chỉ chú trọng đến việc giải quyết KNHC cho hết thẩm quyền mà chưa quan tâm đến giải quyết dứt điểm vụ việc. Riêng tỉnh Lâm Đồng, theo thống kê, khoảng 84% số quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh bị khởi kiện được Tòa án nhân dân công nhận là đúng, có 7% bị tuyên hủy và 9% bị tuyên hủy một phần do hồ sơ không đầy đủ chứng cứ pháp lý hoặc áp dụng pháp luật chưa đúng [95]. + Tổ chức công tác tiếp dân, đối thoại giải quyết KNHC trong lĩnh vực đất đai. Công tác tiếp công dân, đối thoại giải quyết các KNHC trong lĩnh vực đất đai cũng được các quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết KNHC về đất đai. UBND các tỉnh Tây Nguyên đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành nghiêm túc triển khai các biện pháp nâng cao hiệu quả giải quyết đơn thư của công dân góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Trong thời gian qua, từ năm 2011 đến 2016, THPL về giải quyết KNHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, các cấp ủy, chính quyền các địa phương 5 tỉnh Tây Nguyên luôn quan tâm chỉ đạo giải quyết đúng mức, kịp thời công tác tiếp dân. Đến nay, 100% chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng cấp tỉnh trên toàn vùng Tây Nguyên đều có phòng tiếp dân, xây dựng được Quy chế tiếp dân, thông báo lịch tiếp dân hằng tuần, phân công cán bộ tiếp dân, bố trí địa điểm tiếp dân thuận lợi, từng bước chấn chỉnh và lập lại trật tự, kỷ cương ở nơi tiếp dân. Vì vậy, công tác tiếp công dân, việc giải quyết đơn thư KNHC của công dân trong lĩnh vực đất đai đã được quan 92 tâm. Theo kết quả phỏng vấn nhanh của tác giả tìm hiểu đối tượng là CB,CC đang theo học tại trường chính trị của 5 tỉnh Tây Nguyên, có trên 87% người được hỏi cho rằng công tác tiếp công dân khi giải quyết các KNHC về đất đai đã thực hiện tốt. Các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên đã xem trọng công tác tiếp dân, đối thoại giải quyết KNHC trong lĩnh vực đất đai, coi đó là trách nhiệm, là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên UBND cấp tỉnh và cấp huyện trực tiếp tiếp công dân theo lịch phân công, lãnh đạo các sở, ngành cùng tham gia tiếp công dân gồm: Thanh tra, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Tiếp dân, Trung tâm Phát triển Quỹ đất; HĐND và Đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh Tây Nguyên đều tổ chức tiếp công dân 2 ngày/tháng, có mời các sở, ngành thuộc lĩnh vực tư pháp và hành pháp cùng tham gia tiếp công dân. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch, thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra, các đoàn công tác để tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc KNHC về đất đai kéo dài, có tính chất gay gắt, phức tạp. Đôn đốc các cơ quan chuyên môn trực thuộc hoặc đôn đốc giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của cấp dưới có phần sâu sát hơn, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải quyết, giải quyết đạt tỷ lệ cao, những khiếu nại mới phát sinh được chỉ đạo giải quyết kịp thời ngay từ cơ sở tránh để trở thành “điểm nóng”, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tại tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2011 đến năm 2015, các cấp các ngành trong toàn tỉnh đã tiếp nhận 3.221 vụ về KNHC đất đai; kiến nghị, phản ánh là: 7.893 vụ, chủ yếu là kiến nghị, phản ánh về quản lý đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã nhận được 100 đơn thư, tiếp 65 lượt/65 công dân đến KNHC [103]; Tỉnh Kon Tum trong năm 2015, toàn tỉnh đã tiếp 697 lượt/791 người đến KNHC về đất đai. Trong đó: Trụ sở tiếp công dân của tỉnh và Thanh tra tỉnh tiếp 180 lượt; các sở, ngành, huyện, thành phố tiếp 389 lượt; các xã, phường, thị trấn tiếp 222 lượt [109, tr.12]; Trong 6 tháng đầu năm 2016, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông đã tiếp 48 lượt công dân đến KNHC. Trong đó có 35/39 đơn KNHC đủ 93 thẩm quyền giải quyết liên quan đến lĩnh vực đất đai. Nội dung công dân đến khiếu nại, kiến nghị phản ánh tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực đất đai như: cấp đất, giao đất, thu hồi, chế độ chính sách đền bù; bồi thường tái định cư. Kết quả tiếp công dân đã hướng dẫn làm đơn gửi cơ quan có thẩm quyền giải quyết 177 lượt, giải thích cho nhân dân hiểu về những vấn đề vướng mắc 520 lượt [110, tr.9]. Cơ sở vật chất phục vụ tiếp công dân ngày càng được đầu tư nâng cấp; đội ngũ công chức tiếp công dân được tuyển chọn, bố trí phù hợp, thường xuyên được tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng tiếp công dân, thái độ làm việc tận tình, chu đáo. Thông qua công tác tiếp công dân, đối thoại đã giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp KNHC về các QĐHC, HVHC về đất đai. Đi đầu ở Tây Nguyên trong tổ chức đối thoại trực tiếp với dân để giải quyết những vấn đề tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai tại địa bàn của từng xã là các huyện Tuy Đức, huyện Đắk Mil của tỉnh Đắk Nông. Qua hình thức này, nhiều bức xúc, thắc mắc của người dân đã được chính quyền xã, huyện và các ngành liên quan giải đáp một cách tường tận, công khai, rõ ràng. Việc làm này cũng đã góp phần hạn chế được những vụ khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, đông người, gây mất an ninh trật tự địa phương [110]. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra xã hội học của tác giả luận án về đối tượng người KNHC về đất đai cho thấy: có 144/500 (chiếm 28,8%) người KNHC về đất đai cho rằng CB,CC tiếp dân có thái độ chưa thật chuẩn mực; có 90/ 500 (18,0%) làm phiền hà cho dân phải đi lại nhiều lần; có 25/500 (5%) không tổ chức công tác tiếp công dân; có 118/500 (23,6%) cho rằng nhiều TTHC còn rườm ra, bệnh giấy tờ chưa giảm. Đánh giá một cách khách quan cho thấy: nhận thức của lãnh đạo một số địa phương, một số CB,CC bộ phận tiếp dân, giải quyết KNHC về đất đai chưa đầy đủ dẫn đến sự phối hợp, thực hiện chưa chặt chẽ, kém hiệu quả. Một số địa phương các tỉnh vùng Tây Nguyên chưa tổ chức tốt, thiếu gắn kết giữa công tác tiếp công dân với việc giải quyết KNHC về đất đai, nhất là ở cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh chưa thực hiện tốt việc tiếp công dân theo quy định. Một số chủ tịch UBND cấp tỉnh và cấp huyện chưa chủ động tổ chức tốt việc 94 tiếp công dân theo quy định, việc thực hiện Đề án đổi mới công tác tiếp công dân còn chậm, nhất là khâu kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân. Qua khảo sát của tác giả trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên cho thấy vẫn còn 36% số người được hỏi trả lời: cơ quan chức năng không tiến hành đối thoại với người KNHC về đất đai. Một số cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân, tham mưu, giải quyết khiếu nại thiếu tinh thần trách nhiệm; thiếu quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khiếu nại, hoặc có động cơ không trong sáng nên giải quyết vụ việc chưa khách quan, chính xác, kịp thời hoặc chưa bảo đảm vụ việc được giải quyết hợp lý, hợp tình nên công dân không nhất trí, tiếp tục khiếu nại. 3.2.3. Thực trạng sử dụng pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Việt Nam THPL về KNHC trong lĩnh vực đất đai có những đặc thù khác với THPL một số lĩnh vực như hình sự, hành chính, do vậy trong THPL về KNHC trong lĩnh vực đất đai chủ yếu tập trung nhiều vào hình thức sử dụng và ADPL. Các cá nhân, tổ chức sử dụng đất có quyền KNHC đối với các QĐHC và HVHC của cơ quan HCNN đã ban hành trong quá trình quản lý đất đai, theo đó cơ quan HCNN ra QĐHC về giao đất, cấp đất, thu hồi, cưỡng chế thu hồi đất, xử lý hành chính về hành vi VPPL trong lĩnh vực đất đai... có trách nhiệm tôn trọng và phải tạo mọi điều kiện giải quyết các KNHC trong lĩnh vực đất đai cho người khiếu nại. - Các cá nhân, tổ chức sử dụng đất thực hiện quyền KNHC đối với các QĐHC và HVHC về bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Để thực hiện chính sách phát triển KT-XH trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển, các công trình phúc lợi công cộng. Các tổ chức được CQNN có thẩm quyền trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên giao đất, cấp đất để làm dự án kinh doanh, sản xuất hầu hết đều cho rằng các QĐHC là áp dụng đúng theo quy định của pháp luật, ít có khiếu nại, kiến nghị. Bên cạnh đó các cá nhân có đất bị CQNN có thẩm quyền thu hồi đất để giao cho các tổ chức sử dụng lại phát sinh các KNHC từ các QĐHC, HVHC đó, bởi lẽ các cá nhân đều cho rằng các QĐHC, 95 HVHC mà cơ quan HCNN thu hồi đất để cấp cho các doanh nghiệp là không theo quy trình, quy định của pháp luật đất đai, nên đã khiếu nại các QĐHC tới các cơ quan ban hành QĐHC, HVHC. Theo kết quả điều tra của tác giả cho thấy, trong các KNHC về đất đai thì KNHC về quản lý đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng (167/500 chiếm 33,4%). KNHC về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, đề nghị được tăng giá bồi thường khi nhà nước thu hồi đất 105/500 (chiếm 21%); KNHC về giải quyết tranh chấp đất đai 48/500 (chiếm 4,6). Điều này cho thấy trong KNHC về đất đai thì KNHC về quản lý đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng là chủ yếu. Từ năm 2011 đến năm 2016 trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, KNHC về bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm 59,7%, luôn có nhiều tiềm ẩn và diễn biến phức tạp bởi nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan. Tại một số địa bàn đã phát sinh tình trạng đông người đi khiếu kiện, chủ yếu là khiếu kiện đòi bồi thường giải phóng mặt bằng, có nơi đã trờ thành điểm nóng, điển hình như trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắk Nông, điểm nóng KNHC đông người xảy ra tại xã Đắk R’moan, trong năm 2011 ngày nào cũng có vài trăm người kéo lên UBND tỉnh và UBND thị xã khiếu nại, kiến nghị đòi hỗ trợ, đền bù trong việc thu hồi đất để xây dựng Thủy điện Đắk R’tih, cùng với các hộ dân ở Dự án Alumin Nhân Cơ, Đắk R’lấp hay đơn kiến nghị của đồng bào xã Đắk P’lao ở Thủy điện Đồng Nai 3 và 4 hay 12 hộ dân KNHC Dự án mở rộng Quốc lộ 14 - đoạn qua thị xã [110, tr.8]. Tỉnh Kon Tum đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức đối thoại, trao đổi trực tiếp với người dân để giải quyết các KNHC về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, điển hình như các vụ việc: tranh chấp đất đai của 1 số hộ dân thôn Phương Quý 1, 2 xã Vinh Quang; KNHC của người dân trong việc thực hiện phương án khoán, liên kết trồng cao su với Công ty Cao su Kon Tum; lấn chiếm sử dụng đất tại khu vực thao trường bắn do Sư đoàn 10 quản lý trên địa bàn xã Đăk Blà, xã Đăk Cấm, thành phố Kon Tum; bồi thường, giải phóng mặt bằng khu quy hoạch công viên cây xanh đường Trương Quang Trọng, thành phố Kon 96 Tum... Đã làm việc với UBND tỉnh Gia Lai để có biện pháp giải quyết tình trạng dân xã Ia Khai, huyện Ia Grai và xã Ia Kreng, huyện Chư Păh xâm canh sang đất Kon Tum [109, tr.5]. Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, các đoàn khiếu nại với đông người tham gia tập trung chủ yếu ở một số địa phương như các huyện: Kbang, Chư Prông, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Sê, Đăk Đoa, thành phố Pleiku... có đoàn lên đến cả trăm người; một số cá nhân khiếu nại đeo băng rôn, khẩu hiệu, lợi dụng, lôi kéo những người khác tập trung trước trụ sở cơ quan Tỉnh ủy, UBND tỉnh, đeo bám tại các cơ quan Trung ương hoặc đến nhà riêng các đồng chí lãnh đạo tỉnh để đưa đơn, đòi được tiếp nhằm gây áp lực đòi được giải quyết quyền lợi theo yêu cầu hay yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại một số chủ trương, chính sách mà người dân cho rằng việc thực hiện chủ trương, chính sách này đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ, trong đó có một số cá nhân có thái độ rất gay gắt, cực đoan, có hành vi quá khích làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, mặc dù cán bộ tiếp dân hướng dẫn, giải thích nhưng công dân không nghe. Tại thị xã An Khê năm 2011, khiếu nại của một số hộ dân ở xã Cửu An về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất làm công trình thủy điện An Khê-Kanak; Tại huyện Chư Prông 03 vụ: KNHC của một số hộ dân ở xã Bình Giáo đối với việc thu hồi đất để xây dựng trại cá, bồi thường thấp không sát với giá thực tế; Vụ ông Siu Gi, đại diện 16 hộ dân xã Ia Kly KNHC đối với việc đòi lại đất đã giao cho người khác; năm 2010, khiếu nại của 27 hộ dân tại xã Ia Vê đối với các trường hợp giao đất cho dân di cư tự do. Tại huyện Kbang, năm 2010, KNHC của 16 hộ dân ở thị trấn Kbang liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để làm công trình thủy điện An Khê - Kanat. Tại huyện Mang Yang 2011 xảy ra 01 vụ KNHC đông người của người dân ở thôn Mỹ Yang, xã Đăk Yă về đất trồng cây bạch đàn của Công ty trồng rừng. Tại huyện Ia Pa năm 2012, vụ khiếu nại của 47 hộ dân tổ hợp Định Thành và Hạt 9 xã Ia Trôk về việc cấp giấy CNQSD đất cho những hộ dân đi di cư tự do không có nguồn gốc đất rõ ràng [108, tr.4]. Tuy nhiên, vấn đề bồi thường và hỗ trợ và tiến hành tái định cư cho những hộ thuộc diện bị thu hồi đất ở nhiều địa phương các tỉnh vùng Tây Nguyên gặp 97 không ít khó khăn, vướng mắc. Một số dự án chưa có khu tái định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở, đất sản xuất của các hộ dân. Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu tái định cư. Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn. Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác. - Các cá nhân, tổ chức sử dụng đất thực hiện quyền KNHC các QĐHC và HVHC về cấp đất, cho thuê đất, thu hồi giấy CNQSDĐ của cơ quan QLHCNN Đây là nội dung KNHC cũng rất phổ biến trong lĩnh vực đất đai hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên. Từ năm 2011 đến năm 2015, đã có trên 15.760 vụ việc người sử dụng đất trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên thực hiện quyền khiếu nại của mình đối với các QĐHC và HVHC về quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất chiếm 24%; khiếu nại quyết định cấp, thu hồi giấy CNQSDĐ chiếm 14%. Theo điều tra xã hội học của tác giả, trong các vụ KNHC đất đai đã được cơ quan HCNN có thẩm quyền giải quyết thì KNHC các QĐHC và HVHC về cấp đất, cho thuê đất, thu hồi giấy CNQSDĐ chiếm 15% (75/500). Tuy nhiên, theo báo cáo của các tỉnh Tây Nguyên thì chỉ tính riêng tỉnh Đắk Nông, từ năm 2012 đến 9 tháng năm 2016, số người KNHC về quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; khiếu nại quyết định cấp, thu hồi giấy CNQSDĐ là l.217 vụ việc. Tỉnh Gia Lai, tại huyện Ia Pa: Năm 2012, 47 hộ dân tổ hợp Định Thành và Hạt 9 xã Ia Trôk khiếu nại về việc cấp GCNQSD đất cho những hộ dân đi di cư tự do không có nguồn gốc đất rõ ràng. Tại thị xã An Khê năm 2009, khiếu nại của một số hộ dân tại xã Song An về việc hộ liền kề ở mặt đường được cấp giấy CNQSDĐ lấn chiếm đường đi chung của những hộ phía sau [108, tr.5]. Dạng KNHC này phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp giấy CNQSDĐ sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích Có trường hợp KNHC về việc không cấp giấy CNQSDĐ mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng. Các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải 98 quyết lại không giải thích rõ cho dân hiểu lý do tại sao không cấp giấy. Quá trình giải quyết hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu gây khó khăn cho người sử dụng đất. Một nguyên nhân khác là do quy hoạch treo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp giấy CNQSDĐ là hợp pháp. - Các cá nhân, tổ chức sử dụng đất thực hiện quyền KNHC về quyết định cưỡng chế, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Nội dung KNHC này cũng có nhiều dạng. Do nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật về khiếu nại, pháp luật về đất đai còn hạn chế nên phát sinh tình trạng VPPL trong các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy tắc xây dựng. Một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại. Bên cạnh đó cũng có phần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, như: ban hành QĐHC xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng; việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật; việc ra QĐHC cưỡng chế hành chính trong các trường hợp thu hồi đất không đúng căn cứ pháp luật; việc ra QĐHC quá nhẹ hoặc quá nặng (về mức phạt hoặc hình thức phạt) hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan. Theo điều tra xã hội học của tác giả thì khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai chiếm 12% trong các loại KNHC về đất đai. Cũng thông qua khảo sát 200/1200 đối tượng là CB,CC xã, phường, thị trấn đang theo học tại các trường chính trị của 5 tỉnh Tây Nguyên cho rằng trên 2/3 số xã, phường, thị trấn ở các tỉnh Tây Nguyên vi phạm và có biểu hiện vi phạm về lĩnh vực quản lý đất đai. Số liệu trên cho thấy tình trạng khiếu nại của công dân ở các tỉnh Tây Nguyên trong những năm qua ngày càng diễn biến phức tạp một phần do trách nhiệm từ phía các cơ quan HCNN trong quản lý, thực hiện chính sách đất đai thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, dẫn đến các sai phạm trong lĩnh vực đất đai, và phát sinh KNHC của các cá nhân, tổ chức sử dụng đất. 3.2.4. Thực trạng áp dụng pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Áp dụng pháp luật trong giải quyết KNHC về đất đai của cơ quan QLHCNN có đối tượng là những quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh trong lĩnh 99 vực khiếu nại về đất đai cần đến sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể trên cơ sở những mệnh lệnh chung là các QPPL trong lĩnh vực khiếu nại. Trên cơ sở các quy định chung của các QPPL về khiếu nại đất đai, cơ quan QLHCNN sẽ phân tích, đánh giá và lựa chọn các QPPL phù hợp để áp dụng đối với những tình huống cụ thể. - Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản áp dụng pháp luật giải quyết KNHC trong lĩnh vực đất đai Trong những năm qua, nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc THPL về KNHC trong lĩnh vực đất đai, nên Tỉnh ủy, HĐND, UBND của 5 tỉnh Tây Nguyên đã ban hành nhiều văn bản (chỉ thị, kế hoạch, quyết định, báo cáo) để triển khai thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết KNHC về đất đai, như: Chỉ thị số 11/2009/CT-UBND, ngày 09/12/2009 của UBND tỉnh Đắk Lắk về tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; Quyết định số 25/2009/QĐ-UBND ngày 21/8/2009 của UBND tỉnh Đắk Lắk Ban hành Quy định về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 26/2009/QĐ-UBND ngày 21/8/2009 của UBND tỉnh Đắk Lắk “Ban hành Quy định về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh; Báo cáo số 243/BC-UBND, ngày 09/11/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk “về tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, QP-AN năm 2014; phương hướng, nhiệm vụ KT-XH, QP- AN năm 2015; Báo cáo số 566/BC-UBND, ngày 17/11/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk kết quả THPL về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo về phòng, chống tham nhũng từ năm 2011 đến năm 2014; Chỉ thị số 08/2013/CT-UBND ngày 18 tháng 11 năm 2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk “về việc tăng cường công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh”; Chỉ thị số: 09/2014/CT-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk “về việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với các trường hợp VPPL đất đai trên địa bàn tỉnh”; Báo cáo số 210/BC- UBND, ngày 22/11/2016 của UBND tỉnh Lâm Đồng “Tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”; Báo cáo số 321/BC- 100 UBND, ngày 12/12/2016 của UBND tỉnh Lâm Đồng “Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, các chính sách đầu tư, hỗ trợ vùng đồng bào DTTS, giai đoạn 2011-2015; mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện giai đoạn 2016-2020”; Chỉ thị số 05/2012/CT-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng “về việc chấn chỉnh công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh”; Báo cáo số 139/BC-UBND, ngày 24/10/2016, của UBND tỉnh Gia Lai (2016), Tổng kết 04 năm thi hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo trên địa bàn tỉnh; Báo cáo số 308/BC-UBND, ngày 9/11/2012 của UBND tỉnh Kon Tum về tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, QP-AN năm 2012; phương hướng, nhiệm vụ KT-XH, QP-AN năm 2013; Báo cáo, số 505/BC-UBND, của UBND tỉnh Đắk Nông “về tình hình phát triển KT-XH 5 năm 2011 - 2015 và xây dựng kế hoạch giai đoạn 2016 - 2020; Báo cáo, số 284/BC-UBND, ngày 12/7/2016 của UBND tỉnh Đắk Nông về Tình hình các vụ việc khiếu kiện kéo dài, phức tạp chưa được giải quyết dứt điểm; Báo cáo, số 643/BC-UBND, ngày 29/9/2016 của UBND tỉnh Đắk Nông về tình hình, kết quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2012 -2016, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Những văn bản trên đây là cở sở pháp lý giúp cho việc triển khai THPL về KNHC trong lĩnh vực đất đai thực sự mang lại hiệu quả ở các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian qua. Đây là căn cứ quan trọng của cơ chế THPL về KNHC trong lĩnh vực đất đai trên toàn vùng Tây Nguyên hiện nay. - Các QĐHC, HVHC về đất đai của các cơ quan QLHCNN bị khiếu nại Thực hiện Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/1/2008 của Bộ Chính trị về “Kết luận về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới”, trên địa bàn Tây Nguyên từ 2008 đến 2016 cho thấy, việc việc áp dụng, vận dụng các chính sách pháp luật trên địa bàn các tỉnh đã nghiêm túc triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện, các tỉnh đã ban hành 257 văn bản QPPL về đất đai và trên 335.000 QĐHC về đất đai (quyết định về cấp đất, giao đất, thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư). Từ năm 2011 đến năm 2015, trên toàn vùng Tây Nguyên đã phát sinh 45.138 QĐHC bị khiếu nại trên tổng số 249.322

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_thuc_hien_phap_luat_ve_khieu_nai_hanh_chinh_trong_li.pdf
Tài liệu liên quan