Luận án Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Ngãi

LỜI CAM ĐOAN .i

MỤC LỤC.ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.v

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ .vi

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ . viii

MỞ ĐẦU .1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THưƠNG MẠI.14

1.1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về văn hóa doanh nghiệp tại ngân

hàng thương mại.14

1.1.1. Các nghiên cứu về nội hàm của văn hóa doanh nghiệp .14

1.1.2. Các nghiên cứu về các loại hình văn hóa doanh nghiệp .21

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp.24

1.2. Tổng quan các nghiên cứu trong nước liên quan đến văn hóa doanh

nghiệp ở ngân hàng thương mại .25

1.3. Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu .30

1.3.1. Sự kế thừa các nghiên cứu trước .30

1.3.2. Khoảng trống nghiên cứu .32

Tiểu kết chương 1.34

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN

HÀNG THưƠNG MẠI .35

2.1. Một số vấn đề lý luận về văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.35

2.1.1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp.35

2.1.2. Văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.38

2.1.3. Biểu hiện văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại .42

2.1.4. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.49

2.2. Các loại hình văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.53

2.2.1. Văn hoá gia đình.55

2.2.2. Văn hoá thứ bậc.56

2.2.3. Văn hoá sáng tạo .57

2.2.4. Văn hóa thị trường.58

pdf225 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 11/03/2022 | Lượt xem: 259 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại tại tỉnh Quảng Ngãi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Năm 2017, VietinBank Quảng Ngãi đã đạt được kết quả nổi bật, là đơn vị Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong hệ thống VietinBank: Nguồn vốn huy động tăng 39% so với năm 2016; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 22% so với năm 2016; tỷ trọng nợ xấu dưới 1% trên tổng dư nợ, đảm bảo về chất lượng tín dụng trong hệ thống VietinBank. Lợi nhuận của Chi nhánh tăng 18% so với năm 2016. Chi nhánh thực hiện nghĩa vụ đối 82 với NSNN theo đúng quy định. Ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh, toàn thể CBNV VietinBank Quảng Ngãi luôn tâm niệm và ý thức thực hiện tốt công tác an sinh xã hội vì cộng đồng. Đơn vị cũng là một trong những NHTM hoạt động trách nhiệm xã hội mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Biểu đồ 3.1. Xếp hạng lợi nhuận trƣớc thuế của một số NHTM 9T.2018 Đơn vị tính: Tỷ đồng Tuy nhiên, kết quả 2018 của VietinBank lại có sự thay đổi về xếp hạng lợi nhuận trong hệ thống ngân hàng thương mại. Lợi nhuận trước thuế năm 2018 đạt hơn 6.800 tỷ đồng, vượt 2% so với kế hoạch điều chỉnh nhưng giảm mạnh so với kết quả 9.200 tỷ năm 2017. Phương án tăng vốn chưa được phê duyệt, trong khi phải thực hiện bước đầu kế hoạch tái cơ cấu khiến VietinBank thu hẹp hoạt động trong quý cuối năm. Giảm dư nợ cho vay, tăng trích lập dự phòng là nguyên nhân chính tạo nên biến động về lợi nhuận của một trong những nhà băng lớn nhất hệ thống. Trong khi ngôi đầu vẫn thuộc về Vietcombank với lợi nhuận trước thuế hơn 18.000 tỷ đồng, vị trí thứ hai lần đầu có sự xuất hiện của một ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) được dự báo sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng và cũng là ngân hàng tư nhân đầu tiên đạt được con số này. Techcombank đi theo mô hình đặc thù, hoạt động lõi xoay quanh mối quan hệ với các đối tác lớn như Vingroup, Masan hay Vietnam Airlines. Thu nhập lãi thuần của Techcombank cũng chỉ chiếm hơn một nửa trong cơ cấu 83 tổng thu nhập, phần còn lại đến từ các khoản thu ngoài lãi và lợi nhuận bất thường. Nhờ biên lợi nhuận cao hơn với các khoản thu ngoài lãi nên tổng thu nhập không bằng những nhà băng cùng quy mô nhưng lợi nhuận lại cao hơn đáng kể. Bảng 3.3. Xếp hạng lợi nhuận trƣớc thuế ƣớc tính của một số NHTM 2018 STT Ngân hàng TMCP Lợi nhuận trƣớc thuế 1 Vietcombank 18.000 2 Techcombank 10.000 3 BIDV 9.600 4 VPBank 9.200 5 MB 7.600 6 Agribank 7.500 7 VietinBank 6.800 8 TPBank 2.200 9 Sacombank 2.200 10 Maritime 1.000 Nguồn: BCTC năm 2018 của các ngân hàng Hai vị trí tiếp theo trong bảng xếp hạng lợi nhuận là BIDV 9.600 tỷ đồng và VPBank đạt 9.200 tỷ đồng. Trong khi BIDV tăng hơn 11% so với 2017 và vượt kế hoạch năm thì VPBank chỉ hoàn thành 84% kế hoạch lợi nhuận dù tăng gần 12% so với năm trước đó. Hai vị trí tiếp sau trên bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng thuộc về MB và Agribank khi đều cao hơn VietinBank - ngân hàng "á quân" trong năm 2017, với ước lãi lần lượt là 7.600 và 7.500 tỷ đồng. Đứng sau là TPBank và Sacombank khi cả hai đều dự báo lợi nhuận tăng mạnh so với cùng kỳ, đạt trên 2.200 tỷ đồng. Trong khi đó, Maritime Bank cũng ước tính lợi nhuận hơn 1.000 tỷ đồng. Một số tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ phát hành vốn cổ phần cho nước ngoài trong năm 2018 và 2019. Việc này sẽ góp phần tạo hỗ trợ cho nhóm các cổ phiếu ngân hàng nhờ: (1) Ngân hàng nâng cao năng lực vốn tự có; (2) Các ngân hàng được kỳ vọng trở nên minh bạch hơn khi có cổ đông lớn là nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với các ngân hàng mà chất lượng nợ vay khó xác định và còn nhiều tài sản mập mờ; (3) Dòng tiền mới bổ sung vào thị trường với giá trị lớn. Năm 2019 được dự báo là 1 năm khó khăn bởi có nhiều biến động từ thị trường thế giới cũng như nội tại của ngành ngân hàng Việt Nam khi vấn đề tăng vốn sẽ là áp lực rất 84 lớn do Thông tư 41 quy định về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đối với ngân hàng với những yêu cầu khắt khe hơn theo chuẩn Basel 2 sẽ chính thức có hiệu lực vào đầu năm 2020. Ngoài ra, khi Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực, sức ép từ Hiệp định này đối với ngành ngân hàng sẽ tăng lên khi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu, rộng hơn và cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng trong nước, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng. Có thể nhận thấy, hiện nay các NHTMCP đang trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt để tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Đa số các ngân hàng đều cung cấp những sản phẩm dịch vụ tiền tệ tương đồng nhau nên yếu tố cạnh tranh tập trung chủ yếu ở quy trình cung cấp dịch vụ và thu hút khách hàng, truyền thông thương hiệu và đặc biệt là các yếu tố văn hóa doanh nghiệp. 3.1.2. Thông tin mẫu nghiên cứu Mẫu nghiên cứu sau khi phát đi 480 phiếu điều tra trực tiếp và qua thư điện tử đến các cán bộ lãnh đạo, nhân viên ngân hàng từ tháng 7 tới tháng 10 năm 2018 tại 6 chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được lựa chọn là: BIDV, VietinBank, Vietcombank, Sacombank, SeABank và MB, kết quả thu về được 462 phiếu, hư hỏng 26 phiếu, hợp lệ đạt 436 phiếu. Các ngân hàng được khảo sát có số người trả lời tương ứng là BIDV 120 người (27.5%), MB 56 người (12.8%), Sacombank 64 người (14.7%), SeABank 36 người (8.3%), Vietcombank 82 người (18.8%) và VietinBank là 78 người (17.9%). Hình 3.1. Kết cấu mẫu nghiên cứu theo đơn vị Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả 27% 13% 15% 8% 19% 18% BIDV MB Sacombank SeABank Vietcombank VietinBank 85 Về giới tính, kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ nhân viên nam nữ gần bằng nhau với 217 nhân viên được điều tra là nam (chiếm tỷ lệ 49.8%) và 219 là nhân viên là nữ (chiếm tỷ lệ 50.2%). Về nhóm tuổi của những người được khảo sát cho thấy nhóm tuổi từ 25 – 35 chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nhóm tuổi khác chiếm tỷ lệ 78.2%, nhóm tuổi dưới 25 chiếm 12.2% và nhóm tuổi từ 36 – 45 chiếm 9.6%. Trong số những người được khảo sát trong nghiên cứu này không có nhân viên nào ở nhóm tuổi 46 trở lên. Về trình độ học vấn, những người được khảo sát có trình độ học vấn Đại học chiếm khá cao với 313 người (chiếm tỷ lệ 71.8%), 86 người có trình độ Thạc sỹ (19.7%) và còn lại là trình độ trung cấp, cao đẳng có 37 người (8.5%). Về chức vụ của người được khảo sát, có 61 người thuộc ban lãnh đạo các phòng ban trong tổ chức (chiếm tỷ lệ 14%) và 375 người là nhân viên (chiếm tỷ lệ 86%). Về thời gian làm việc trong ngành, nhóm có thời gian làm việc từ 2 – 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 50.9% (222 người), tiếp đến là nhóm từ 6 – 10 năm với 25% (109 người), nhóm dưới 2 năm là 17.7% (77 người) và nhóm từ 11 – 16 năm là 6.4% (28 người). Về thời gian làm việc tại ngân hàng hiện nay, nhóm có thời gian làm việc từ 2 – 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 50.7% (221 người), tiếp đến là nhóm dưới 2 năm là 21.8% (95 người), nhóm từ 6 – 10 năm là 21.1% (92 người) và nhóm từ 11 – 16 năm là 6.4% (28 người). 3.2. Kết quả đánh giá biểu hiện văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thƣơng mại ở tỉnh Quảng Ngãi Trong quá trình đầu tư phát triển nhằm gia tăng năng lực canh tranh thời gian qua, các NHTM đã quan tâm chú trọng đầu tư nhiều hơn về xây dựng và phát huy vai trò của VHDN trong hệ thống các ngân hàng từ trung ương đến chi nhánh địa phương. Các yếu tố liên quan tới VHDN được các NHTM tập trung nhiều nguồn lực để phát triển và đã đạt được một số kết quả nhất định. Ở một nghiên cứu thực nghiệm khác trước đó, VHDN trong hoạt động kinh doanh ngân hàng được thể hiện bới các giá trị trực quan và hệ thống các giá trị tuyên bố trong NHTM [26]. Các giá trị trực quan bao gồm Nhân viên ngân hàng, Cách bài trí công sở, Cơ sở máy móc thiết bị hỗ trợ công việc và Nghi lễ văn bản ấn phẩm điển hình của ngân hàng. Trong khi đó, các giá trị tuyên bố trong VHDN của 86 NHTM sẽ bao gồm Chiến lược kinh doanh, Triết lý mục tiêu, Bộ quy tắc ứng xử trong kinh doanh ngân hàng và Các cam kết của ngân hàng. Dựa trên cơ sở lý luận đề xuất của luận án, tác giả khái quát một số yếu tố liên quan đến VHDN của nhóm NHTM trong phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau: 3.2.1. Kết quả nghiên cứu biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi 3.2.1.1. Kết quả nghiên cứu nhóm biểu hiện vật thể Kết quả đánh giá lần lượt cho từng yếu tố vật thể thu được kết quả trong Bảng 3.4. Kết quả phân tích cho thấy, các nhân viên ngân hàng thương mại nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi đều đánh giá cao trên trung bình các yếu tố này. Trong đó, yếu tố được đánh giá cao nhất là hệ thống quy chế, quy trình, quy định (VT3.1) với mức điểm trung bình là 4,3607; tiếp theo là các hoạt động văn nghệ, thể thao... truyền thống của đơn vị với mức điểm trung bình là 4,2964. Nhóm các biểu trưng bên ngoài như công cụ nhận diện thương hiệu logo, khẩu hiệu, trang phục, văn phòng phẩm (VT2.1, VT2.2, VT2.3 và VT2.4) cũng được đánh giá tương đối cao từ 4,0250 tới 4,2393. Yếu tố nhận được đánh giá thấp nhất là nhóm các đặc điểm kiến trúc nơi làm việc, bao gồm Kiến trúc tòa nhà, văn phòng (VT1.1) và Trang trí công sở (Q3) với mức trung bình là 3,8714 và 3,9357. Bảng 3.4. Kết quả đánh giá về các yếu tố vật thể của các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc ở tỉnh Quảng Ngãi. Các yếu tố Tiêu chí đánh giá biểu hiện VHDN tại NHTM Tên tiêu chí Kí hiệu Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn Đặc điểm kiến trúc nơi làm việc Kiến trúc tòa nhà, văn phòng Trang trí công sở VT1.1 VT1.2 3,8714 3,9357 0,7558 1,0069 Biểu trƣng Văn phòng phẩm Khẩu hiệu Biểu tượng Đồng phục VT2.1 VT2.2 VT2.3 VT2.4 4,2393 4,2143 4,1857 4,0250 1,0892 0,8658 0,9007 1,0453 Hệ thống qui định Hệ thống qui trình, qui định Ngôn ngữ chung VT3.1 VT3.2 4,3607 3,9750 0,8605 0,9135 Lễ nghi Các hoạt động văn nghệ thể thao Bài hát truyền thống Các tổ chức đoàn thể VT4.1 VT4.2 VT4.3 4,2964 4,1429 4,0893 0,8217 1,0165 0,8814 Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS 87 Các yếu tố hữu hình bao gồm hệ thống nhận diện thương hiệu, là các yếu tố được các NHTM nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi tập trung xây dựng và phát triển nhiều nhất. Qua các giai đoạn phát triển của ngân hàng, các yếu tố này đã được hình thành và hiệu chỉnh cho phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh hiện nay. Hệ thống nhận diện được các ngân hàng này sử dụng phổ biến hiện nay bao gồm biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan) [phụ lục 2], đồng phục, bài hát truyền thống, không gian làm việc, các tài liệu in ấn truyền thông... Ngoài biểu tượng nhận diện thương hiệu, các ngân hàng hiện nay còn rất quan tâm đến các yếu tố hữu hình khác như cơ sở vật chất, thiết kế văn phòng giao dịch và đặc biệt là đồng phục của cán bộ nhân viên ngân hàng. Tất cả NHTM nhà nước hiện nay đều đầu tư thiết kế trang phục công sở mang tính đặc trưng cho đơn vị, các địa điểm giao dịch, chi nhánh hầu hết được thiết kế tương đồng với trụ sở chính, các vật dụng văn phòng hoặc quà tặng cho khách hàng đều được thống nhất mẫu mã, nhãn hiệu, màu sắc... Các yếu tố này góp phần to lớn tạo nên màu sắc riêng cho từng NHTM được khắc họa trong tâm trí của khách hàng, đối tác và công chúng. Các hoạt động thi đua, chương trình sự kiện truyền thống cũng được các ngân hàng đầu tư cả về quy mô và chất lượng, nhằm góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu cũng như VHDN tại đơn vị. Chẳng hạn từ năm 2006, BIDV đã xây dựng Đề án “Xây dựng và phát huy văn hóa BIDV” nhằm có cơ sở và phương pháp để xây dựng và phát huy những giá trị văn hóa riêng có của BIDV trong bối cảnh hội nhập. Đến năm 2010, BIDV cũng đã ban hành hai bộ quy tắc bao gồm “Bộ quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp cán bộ BIDV” và “Bộ quy tắc ứng xử của cán bộ BIDV”. Với Bộ quy tắc ứng xử, BIDV có những qui định về giao tiếp ứng xử cá nhân với đồng nghiệp; cấp trên với cấp dưới; bên trong với bên ngoài; nghi thức công việc; hội họp... Với Quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp, BIDV đã đưa ra hệ thống các điều khoản làm cơ sở tham chiếu cho cán bộ BIDV thực hiện nghiệp vụ chuyên môn của mình, đảm bảo đúng với quy định chung của pháp luật và quy định nội bộ của BIDV. Văn hóa BIDV gắn liền với sứ mệnh và 5 giá trị cốt lõi của ngân hàng “Hướng đến khách hàng – Đổi mới phát triển – Chuyên nghiệp sáng tạo – Trách nhiệm xã hội – Chất lượng tin cậy”. Những giá trị cốt lõi đó đã thấm nhuần trong mọi hoạt động hàng ngày của mỗi cán bộ nhân viên BIDV, góp phần tạo dựng hình ảnh, uy tín của một định chế hàng đầu đất nước và có uy tín cao trong khu vực 88 và trên thế giới. Tại BIDV, mỗi cán bộ được xem là một đại sứ văn hóa, luôn tự hào và gắn kết trong ngôi nhà chung BIDV, cùng mang một sứ mệnh phục vụ vì sự phát triển và thịnh vượng của nền kinh tế, khách hàng, và bản thân ngân hàng. Đặc biệt, các NHTM nhà nước đã phát triển VHDN bằng cách xây dựng các quy định rõ ràng được thể hiện dưới hình thức Sổ tay văn hóa doanh nghiệp. Ví dụ, VietinBank đã phát hành “Sổ tay Văn hóa doanh nghiệp Ngân hàng Công thương Việt Nam” vào năm 2009, nội dung bao gồm ba phần chính: Sứ mệnh – tầm nhìn – triết lý kinh doanh, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp, Văn hóa hành vi trong VietinBank; hay ấn phẩm Sổ tay văn hóa Vietcombank được phát hành năm 2010 bao gồm ba phần nội dung: Bản sắc văn hóa Vietcombank, Đạo đức và trách nhiệm của người Vietcombank, Các chuẩn mực hành vi ứng xử của người Vietcombank. Các ngân hàng nên tiếp tục quan tâm phát triển các yếu tố vật chất này, có tác động trực tiếp và hiệu quả đến hình ảnh của ngân hàng trong cảm nhận của khách hàng và đối tác. Điều này cho thấy các NHTM nhà nước hiện nay đang tập trung biểu hiện VHDN của đơn vị qua hệ thống quy chế, quy trình, quy định và các công cụ nhận diện thương hiệu phổ biến như logo, khẩu hiệu, trang phục và các cuộc thi văn nghệ, thể thao truyền thống hàng năm của đơn vị... Những công cụ này có vai trò vô cùng hữu hiệu trong việc nâng cao hình ảnh thương hiệu. Vì là cơ quan nhà nước, các NHTM này luôn tồn tại các tổ chức đoàn thể như Công đoàn và Đoàn thanh niên tham gia vào quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm tạo sự đoàn kết và môi trường làm việc hiệu quả. Tổ chức này đóng vai trò là người tổ chức các hoạt động thi đua, các chương trình tạo dấu ấn và các chính sách hướng tới người lao động tại đơn vị, từ đó đóng góp vào quá trình xây dựng và phát huy VHDN của các ngân hàng này. Bên cạnh đó, đặc điểm kiến trúc văn phòng và trang trí công sở chưa thực sự mang lại hiệu quả trong việc thể hiện nét đặc trưng về văn hóa của các NHTM nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình quan sát và phỏng vấn sâu các lãnh đạo, quản lý cấp chi nhánh tại các NHTM này, đặc điểm văn phòng làm việc giữa chi nhánh chính và văn phòng giao dịch có sự khác biệt. Các văn phòng chi nhánh chính có cơ sở hạ tầng ổn định, thống nhất về kiến trúc với các văn phòng chi nhánh khác trong hệ thống. Tuy nhiên, các điểm giao dịch trực thuộc chi nhánh các ngân hàng này tại một số nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi mang tính chất thời vụ, chuyển đổi vị trí liên tục do điều kiện kinh doanh và thuê mặt 89 bằng. Do vậy, đặc điểm kiến trúc sẽ không thể duy trì thống nhất hoàn toàn với hệ thống, trang trí công sở cũng bị hạn chế nhiều. 3.2.1.2. Kết quả nghiên cứu nhóm biểu hiện phi vật thể Trong nghiên cứu này, các biểu hiện phi vật thể của VHDN trong các NHTM nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi được đánh giá qua 3 yếu tố và 9 tiêu chí đánh giá. Kết quả được thể hiện trong bảng 3.5. Nhìn chung, các biểu hiện phi vật thể được đánh giá thấp hơn so với các biểu hiện vật thể. Kết quả phân tích cho thấy các chỉ tiêu được đánh giá biểu hiện rõ ràng nhất hệ thống triết lý kinh doanh và các giá trị cốt lõi (PVT1.2) với giá trị trung bình là 4,2179. Các chỉ tiêu đánh giá về truyền thống phát triển văn hóa có biểu hiện khá thấp (PVT2.1 và PVT2.2) với mức giá trị trung bình lần lượt là 3,9250 và 3,5679. Chỉ tiêu Nhận thức về vai trò của bản thân CBNV trong sự phát triển của đơn vị trong tương lai (PVT3.1) và cảm nhận được sự khác biệt của ngân hàng (PVT3.3) cũng ở mức đánh giá thấp hơn so với các biểu hiện khác. Bảng 3.5. Kết quả đánh giá về các yếu tố phi vật thể của các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc ở tỉnh Quảng Ngãi. Các yếu tố Tiêu chí đánh giá biểu hiện VHDN tại NHTM Tên tiêu chí Kí hiệu Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn Các giá trị chung Sứ mệnh Triết lý kinh doanh Phương hướng chiến lược PVT1.1 PVT1.2 PVT1.3 4,1714 4,2179 4,1321 0,7755 0,7227 0,9160 Truyền thống phát triển văn hóa Các hoạt động ghi nhớ, tôn vinh Các giai thoại về quá trình hoạt động PVT2.1 PVT2.2 3,9250 3,5679 0,8868 0,9054 Niềm tin, thái độ của thành viên Nhận thức được vai trò của bản thân Niềm tin về sự phát triển của đơn vị Cảm nhận sự khác biệt của đơn vị Tự hào là thành viên của đơn vị PVT3.1 PVT3.2 PVT3.3 PVT3.4 3,8643 4,0893 3,8250 4,0607 0,6848 0,8733 0,8042 0,8252 Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS Kết quả này cho thấy các giá trị chung được NHTM nhà nước quan tâm xây dựng và phát triển, đạt mức đánh giá khá cao từ cán bộ nhân viên trong ngân hàng. Đội ngũ nhân viên thể hiện niềm tin và sự phát triển của ngân hàng trong tương lai và niềm tự hào khi là thành viên của ngân hàng. Điều này phù hợp với thực tế về uy tín của các NHTM 90 nhà nước hiện nay, cũng là yếu tố tâm lý tác động đến sự chuyển dịch lao động từ các nhóm NHTM tư nhân sang các NHTM nhà nước. Tuy nhiên, kết quả đánh giá thực trạng cũng cho thấy tồn tại lớn tại nhóm NHTM nhà nước là các sứ mệnh, triết lý kinh doanh và các chiến lược phát triển dường như chưa đủ rõ ràng và nêu bật vai trò nhiệm vụ của các thành viên trong toàn ngân hàng. Điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến việc các thành viên chưa thực sự xác định rõ vai trò của đóng góp cá nhân trong quá trình phát triển của ngân hàng. Sự khác biệt giữa các NHTM nhà nước với các NHTM khác chưa được đánh giá cao. Đặc biệt, là các NHTM hình thành và phát triển khá sớm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và cả nước nói chung, có một lịch sử phát triển lâu đời nhưng các giai thoại và các hình tượng nổi bật về quá trình hoạt động cũng như chặng đường phát triển của các NHTM này chưa được chú trọng xây dựng. Điều này có thể làm giảm tính đặc trưng về văn hóa, giảm niềm tự hào của đội ngũ nhân viên, ảnh hưởng đến sự đoàn kết của tập thể thành viên trong ngân hàng. Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để các NHTM nhà nước điều chỉnh phù hợp hơn trong định hướng phát triển VHDN trong thời gian sắp tới. 3.2.2. Kết quả nghiên cứu biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại tư nhân ở tỉnh Quảng Ngãi 3.2.2.1. Kết quả nghiên cứu nhóm biểu hiện vật thể Kết quả đánh giá lần lượt cho từng yếu tố vật thể thu được kết quả trong Bảng 3.6. Kết quả phân tích cho thấy, các nhân viên ngân hàng thương mại tư nhân ở tỉnh Quảng Ngãi đều đánh giá cao trên trung bình các yếu tố này. Trong đó, yếu tố được đánh giá cao nhất là hệ thống quy chế, quy trình, quy định (VT3.1) với mức điểm trung bình là 4,3590, tiếp đến là các biểu trưng bên ngoài như công cụ nhận diện thương hiệu logo, khẩu hiệu, trang phục, văn phòng phẩm (VT2.1, VT2.2, VT2.3 và VT2.4); các hoạt động văn nghệ, thể thao... truyền thống của đơn vị. Yếu tố nhận được đánh giá thấp nhất là nhóm các đặc điểm kiến trúc nơi làm việc với mức trung bình là 3,8141. 91 Bảng 3.6. Kết quả đánh giá về các yếu tố vật thể của các Ngân hàng thƣơng mại Tƣ nhân ở tỉnh Quảng Ngãi. Các yếu tố Tiêu chí đánh giá biểu hiện VHDN tại NHTM Tên tiêu chí Kí hiệu Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn Đặc điểm kiến trúc nơi làm việc Kiến trúc tòa nhà, văn phòng Trang trí công sở VT1.1 VT1.2 3,8141 4,0000 0,8097 1,0223 Biểu trƣng Văn phòng phẩm Khẩu hiệu Biểu tượng Đồng phục VT2.1 VT2.2 VT2.3 VT2.4 4,2756 4,1795 4,2949 4,1026 1,0569 0,9738 0,9382 1,1198 Hệ thống qui định Hệ thống qui trình, qui định Ngôn ngữ chung VT3.1 VT3.2 4,3590 3,9487 0,9432 1,0019 Lễ nghi Các hoạt động văn nghệ thể thao Bài hát truyền thống Các tổ chức đoàn thể VT4.1 VT4.2 VT4.3 4,1923 3,9744 4,0833 0,9236 1,1857 0,7866 Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS Kết quả này so với nhóm NHTM Nhà nước trên địa bản tỉnh Quảng Ngãi không có quá nhiều khác biệt. Các NHTM tư nhân tỉnh Quảng Ngãi cũng chú trọng phát triển văn hóa dưới các biểu hiện vật thể chủ yếu như hệ thống qui định về nghiệp vụ chuyên môn và giao tiếp ứng xử, các công cụ nhận diện thương hiệu, các hoạt động phong trào thi đua tại đơn vị. Bên cạnh đó, các NHTM tư nhân có cơ sở vật chất được đầu tư ít có tính cố định như văn phòng chi nhánh, điểm giao dịch trên địa bàn tỉnh vì các trụ sở có sở hữu tư nhân cho thuê có thời hạn. Vì qui mô tài chính nhỏ hơn, các NHTM tư nhân chưa biểu hiện rõ về đặc điểm kiến trúc tòa nhà và trang trí công sở như các NHTM khác. Các nét đặc trưng về nhận diện thương hiệu chủ yếu dựa trên Biểu tượng (Logo), Khẩu hiệu (Slogan) và Đồng phục nhân viên ngân hàng. 3.2.2.2. Kết quả nghiên cứu nhóm biểu hiện phi vật thể Trong nghiên cứu này, các biểu hiện phi vật thể của VHDN trong các NHTM tư nhân ở tỉnh Quảng Ngãi được đánh giá qua 3 yếu tố và 9 tiêu chí đánh giá. Kết quả được thể hiện trong bảng 3.7. Kết quả phân tích cho thấy các chỉ tiêu được đánh giá biểu hiện rõ ràng nhất nhóm các giá trị chung được thống nhất trong các NHTM này, bao gồm Sứ mệnh (PVT1.1), Triết lý kinh doanh (PVT1.2) và Phương hướng chiến lược (PVT1.3). Tiếp theo là nhóm 92 chỉ tiêu về niềm tin, thái độ của các thành viên trong ngân hàng với giá trị trung bình từ 3,6731 tới 3,9551. Các chỉ tiêu đánh giá về truyền thống phát triển văn hóa có biểu hiện khá thấp, đặc biệt là các giai thoại về quá trình hoạt động (PVT2.2) với mức giá trị trung bình lần lượt là 3,4167. Bảng 3.7. Kết quả đánh giá về các yếu tố phi vật thể của các Ngân hàng thƣơng mại Tƣ nhân ở tỉnh Quảng Ngãi. Các yếu tố Tiêu chí đánh giá biểu hiện VHDN tại NHTM Tên tiêu chí Kí hiệu Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn Các giá trị chung Sứ mệnh Triết lý kinh doanh Phương hướng chiến lược PVT1.1 PVT1.2 PVT1.3 4,1026 4,1603 4,1859 0,8361 0,7746 1,0020 Truyền thống phát triển văn hóa Các hoạt động ghi nhớ, tôn vinh Các giai thoại về quá trình hoạt động PVT2.1 PVT2.2 3,8333 3,4167 0,9560 0,9013 Niềm tin, thái độ của thành viên Nhận thức được vai trò của bản thân Niềm tin về sự phát triển của đơn vị Cảm nhận sự khác biệt của đơn vị Tự hào là thành viên của đơn vị PVT3.1 PVT3.2 PVT3.3 PVT3.4 3,8205 3,9551 3,6731 3,9231 0,7404 0,9252 0,8437 0,9126 Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS Nhìn chung các biểu hiện phi vật thể của VHDN tại các NHTM tư nhân thấp hơn tại các NHTM nhà nước ở tỉnh Quảng Ngãi về giá trị trung bình, nhưng không có khác biệt lớn về thứ tự các chỉ tiêu đánh giá. Hai nhóm NHTM này đều có các biểu hiện phi vật thể được đánh giá cao nhất là Hệ thống qui định và thấp nhất là các giai thoại về quá trình hoạt động và phát triển của đơn vị. Biểu hiện này cũng cho thấy thực trạng các giá trị chung trong các NHTM ở tỉnh Quảng Ngãi đang quan tâm thống nhất về các hệ thống triết ký kinh doanh, sứ mệnh và giá trị cốt lõi, vì các nhân tố này đã được thống nhất từ hội sở, trung ương đến tới các chi nhánh địa phương. Hệ thống giá trị chung được thống nhất trong các ngân hàng thường biểu hiện dưới các hình thức như triết lý kinh doanh, sứ mệnh, giá trị cốt lõi, tầm nhìn (phụ lục 3). Ngược lại, các ngân hàng này lại chưa quan tâm đến nhận thức về truyền thống văn hóa và lịch sử sự phát triển của tổ chức cũng như nhận thức của CBNV về vai trò của họ đóng góp vào sự phát triển trong tương lai của ngân hàng. Điều này sẽ là điểm lưu ý để các NHTM tỉnh Quảng Ngãi xác định rõ hơn về vai trò của các thành viên và 93 nhận thức của họ về tầm nhìn chiến lược, các chiến lược phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó, nét đặc trưng trong phong cách làm việc hay điểm khác biệt của các ngân hàng lại chưa được biểu hiện rõ ràng, cụ thể là ngay chính CBNV lại không đánh giá cao biểu hiện này, điều này trong tương lai cũng có thể ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của như hình ảnh thương hiệu khi so sánh với các ngân hàng thương mại khác có biểu hiện cao hơn trong tâm trí của khách hàng. Đây sẽ là điểm hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình phát triển VHDN trong giai đoạn kế tiếp của các ngân hàng thương mại chi nhánh ở tỉnh Quảng Ngãi. 3.3. Kết quả đánh giá loại hình văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thƣơng mại ở tỉnh Quảng Ngãi Dựa vào cơ sở lý luận và khung phân tích đã được nêu ở Chương 2, NCS sử dụng mô hình khung giá trị cạnh tranh kế thừa từ nghiên cứu của nhóm tác g

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_van_hoa_doanh_nghiep_tai_cac_ngan_hang_thuong_mai_ta.pdf
Tài liệu liên quan