Luận văn Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng SCB Quảng Ninh

Lắp đặt các POS tại các trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn

để triển khai dịch vụ chấp nhận thẻ ATM trong thanh toán cho khách hàng.

+ Tăng cường đầu tư các thiết bị thanh toán, rút tiền như ATM, máy đa

năng và tăng cường sự liên kết giữa các dịch vụ ngân hàng, sự đồng bộ của hệ

thống công nghệ thông tin của các đơn vị cung cấp dịch vụ tiện ích (liên kết

thẻ).

- Ngân hàng thương mại trên địa bàn có thể mở rộng kênh phân phối thông

qua các “đại lý” như: Đại lý chi trả kiều hối, thu đổi ngoại tệ, thanh toán thẻ

quốc tế, phát hành thẻ ATM

- Hệ thống máy ATM phục vụ 24/24, dịch vụ Homebanking,

Internetbanking, Phonebanking và các trang web là những công cụ hỗ trợ

đắc lực trong việc cung cấp thông tin, dịch vụ mọi lúc, mọi nơi cho khách

hàng. Ngoài ra, việc triển khai ứng dụng các phần mềm công nghệ đang có

những ảnh hưởng đáng kể tới mô hình hoạt động của ngân hàng theo hướng

xử lý tập trung và chuyên môn hoá sâu (mô hình giao dịch một cửa, mô hình

xử lý tập trung tác nghiệp ). Trên thực tế, đây là một hiệu ứng có kết quả

đặc biệt, bởi lẽ nếu không có vai trò đòn bẩy của công nghệ thì quá trình

chuyển đổi mô hình hoạt động ở ngân hàng sẽ diễn ra rất lâu dài và phức tạp

pdf125 trang | Chia sẻ: lanphuong92 | Ngày: 16/10/2020 | Lượt xem: 328 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng SCB Quảng Ninh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SD đạt tốc độ tăng trưởng là 29%. Trong năm 2013, tốc độ tăng trưởng đạt mức khá cao. Doanh số mua ngoại tệ đạt mức 5.129.000 USD với tốc độ tăng trưởng là 38,8% trong khi doanh số bán ngoại tệ là 5.598.000 USD tốc độ tăng trưởng khá là 43,8%. - Về chi trả kiều hối và dịch vụ chuyển tiền: Doanh số chi trả kiều hối của Ngân hàng SCB Quảng Ninh qua các năm cũng có sự tăng trưởng ổn định. Năm 2010, doanh số chi trả kiều hối là 680 triệu đồng, tốc độ tăng là 15,8% thì tới năm 2011 đã tăng lên mức 821 triệu đồng, với tốc độ tăng trưởng là 20,7%. Tốc độ tăng trưởng này tăng nhẹ trong năm 2012. Trong năm này doanh số chi trả kiều hối đã đạt mức là 992 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 20,8%. Trong năm 2013, doanh số chi trả kiều hối tăng mạnh đạt 1.498 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 51%. Doanh số chuyển tiền của Ngân hàng SCB Quảng Ninh cũng tăng trưởng khá cùng theo xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày một phát triển hơn. Doanh số chuyển tiền trong năm 2010 là 93.280 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là 9,8% thì năm 2011, doanh số chuyển tiền đạt mức 119.382 triệu đồng, tốc độ tăng là 28%. Trong năm 2012 và 2013, doanh số chuyển tiền tiếp Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 47 tục tăng tương ứng mức 166.598 triệu đồng và 232.178 triệu đồng tương đương tốc độ tăng trưởng lần lượt là 39,6% và 39,4%. Lợi nhuận: Biều đồ 2.3 Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng SCB Quảng Ninh giai đoạn 2009 – 2013. ĐVT: tỷ đồng (Nguồn: Báo cáo tổng kết Ngân hàng SCB Quảng Ninh các năm) Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng SCB Quảng Ninh trong các năm qua nhìn chung khá ổn định. Năm 2009, chịu ảnh hưởng lớn của suy giảm kinh tế nhưng lợi nhuận trước thuế vẫn đạt mức là 22 tỷ đồng. Năm 2010, lợi nhuận trước trước thuế cũng đạt mức 24 tỷ đồng. Tuy nhiên năm 2011, do việc tăng trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ xấu phát sinh, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, nên lợi nhuận trước thuế bị giảm sút, chỉ còn 18 tỷ đồng. Sang năm 2012, tình hình kinh doanh được cải thiện nên lợi nhuận trước trước thuế đã tăng trở lại đạt mức 29 tỷ đồng và tiếp tục đạt 32 tỷ đồng trong năm 2013. Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 48 2.2. Phân tích, dự báo nhu cầu dịch vụ Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020. Quảng Ninh có vị trí địa chiến lược “có một không hai” (nguồn tài nguyên vô giá), được ví “là đất nước Việt Nam thu nhỏ”; đây là cơ hội lớn để Quảng Ninh phát triển kinh tế tổng hợp, toàn diện, hiện đại, có khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong xu thế hội nhập quốc tế, ở điểm đầu khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt - Trung, trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc; trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng, Hợp tác kinh tế liên vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng; tiếp giáp với Trung Quốc, nền kinh tế đứng thứ hai thế giới; nằm trong khu vực trung chuyển, giao lưu hàng hóa, khoa học công nghệ lớn giữa Đông Bắc Á - Đông Nam Á. Những lợi thế đó tạo cho Quảng Ninh là cầu nối giữa Việt Nam với các nước ASEAN và khu vực Đông Bắc Á. Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới nhưng là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc (đường biên giới trên bộ dài 118,825 km; đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km); diện tích tự nhiên trên 6.102 km2 và ngư trường rộng tương đương. Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với dải bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 ha bãi triều và trên 20.000 ha eo vịnh; có 2/12 huyện đảo của cả nước; có 3/28 KKT cửa khẩu (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh) và 01/15 KKT ven biển (Vân Đồn); có 4 cảng khẩu trên biển (Cẩm Phả, Cái Lân, Hòn Gai, Vạn Gia); là tỉnh duy nhất có 4 thành phố trực thuộc, tỷ lệ đô thị hóa cao 55%; tiếp giáp với vùng duyên Hải phía Nam Trung Quốc nơi đang được đầu tư phát triển để trở thành các "cực tăng trưởng" chính trong khu vực quanh Vịnh Bắc Bộ với các cảng biển, các trung tâm kinh tế lớn Đông Hưng, Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải (Quảng Tây – Trung Quốc), Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 49 Trạm Giang (Quảng Đông – Trung Quốc) và Tam Á (Hải Nam –Trung Quốc). Đồng thời với điều kiện tự nhiên thuận lợi (rừng vàng, biển bạc) và vị trí địa lý đắc địa, cùng với 2 thành phố lớn phía bắc là Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh được xác định là đầu tàu và là một trong ba trung tâm kinh tế lớn của vùng Tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, là động lực phát triển của Miền Bắc. Với ưu thế này việc đa dạng hóa, phát triển không ngừng dịch vụ vận tải cả trong và ngoài nước ngày càng lớn. Không những phát triển dịch vụ vận tải đường biển mà cả về đường bộ và hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới. Đây chính là nguồn lực rất lớn để các ngân hàng phát triển hoạt động cho vay đầu tư phương tiện vận tải thủy, bộ (tầu thuyền, xe cơ giới) và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu tại địa bàn Quảng Ninh. Bên cạnh đó, Quảng Ninh với nhiều cảnh quan nổi trội “có một không hai”, là cơ hội lớn để phát triển các loại hình du lịch (biển đảo, sinh thái, văn hóa lịch sử...) và hướng đến phát triển ngành công nghiệp văn hóa - giải trí. Quảng Ninh có hơn 600 danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử; hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên: Rừng, núi, nước non, biển đảo, sông hồ... đặc biệt có Vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận Di sản thiên nhiên thế giới và vừa được vinh danh là Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới; là cơ hội để phát triển dịch vụ du lịch và tiến đến phát triển công nghiệp văn hóa - giải trí. Quần thể Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long là nguồn tài nguyên du lịch nổi bật, độc đáo vào bậc nhất cả nước và thế giới, với hơn 2.077 hòn đảo (chiếm 2/3 số đảo của cả nước). Di tích Nhà Trần, Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, Quần thể di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, Di tích và danh thắng núi Bài Thơ, Thương cảng Vân Đồn, Đền Cửa Ông... Cùng với tiềm năng du lịch sinh thái rừng, Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 50 biển hết sức phong phú, với dải bờ biển dài, nhiều bãi biển tự nhiên độc đáo ; hệ thống rừng ngập mặn đặc sắc, phong phú và nhiều hồ nước ngọt lồng ghép với chuỗi đồi, núi nhấp nhô là những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách gần xa trong và ngoài nước. Đây chính là nguồn lực rất lớn để phát triển dịch vụ du lịch, 1 ngành dịch vụ có lợi nhuận cao và có thể coi như là 1 ngành công nghiệp không khói. Với nguồn lực như vậy, nhu cầu về vốn vay đầu tư các khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, sẽ ngày càng tăng cao, là cơ hội rất lớn để các ngân hàng phát triển hoạt động cấp tín dụng của mình. Ngoài ra, Quảng Ninh còn có nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có, nhất là than đá, đá vôi, đất sét là điều kiện và cơ hội tốt để phát triển trung tâm khai khoáng, trung tâm nhiệt điện, sản xuất vật liệu xây dựng của cả nước. Với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, trữ lượng lớn, như than đá ở mức (-300 mét) so với mực nước biển là 3,2 tỷ tấn (chiếm hơn 90% trữ lượng than đá cả nước), đất sét, đá vôi, nguồn tài nguyên khoáng sản ven bờ biển đa dạng (cát, ti tan). Trữ lượng tài nguyên đá vôi xi măng (2.300 triệu m3), sét xi măng (1.900 triệu tấn), cao lanh (69 triệu tấn), cát thủy tinh (6,2 triệu tấn), cát sỏi xây dựng (11,7 triệu tấn). Đây là cơ hội để Quảng Ninh phát triển các ngành khai thác khoáng sản tại Quảng Ninh. Ngành Than Quảng Ninh thuộc tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam không ngừng đầu tư mua sắm trang thiết bị tuyển mộ nhân công để mở rộng sản xuất khai thác than với chi phí đầu tư bình quân hàng năm trên 22.000 tỷ đồng. Ngành điện – đặc biệt là Nhiệt điện tập trung phần lớn tại Quảng Ninh (5 nhà máy nhiệt điện: Uông Bí, Mạo Khê, Hà Khánh, Cẩm Phả, Mông Dương) để cung cấp điện cho cả nước đã được Chính phủ tập trung đầu tư xây dựng. Chính vì vậy nhu cầu về việc huy động tiền gửi thanh toán và cho vay vốn đầu tư cơ sở vật chất và vốn lưu động phục vụ sản xuất sẽ ngày càng lớn theo sự phát triển chung của các ngành khai thác khoáng sản và nhiệt điện tại Quảng Ninh. Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 51 Đầu năm 2013, UBND Tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng đề án báo cáo bộ Chính trị về việc thí điểm thành lập hai đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái trực thuộc Tỉnh Quảng Ninh và về cơ bản chủ trương này sẽ được Quốc hội thông qua. - Về Khu kinh tế ven biển Vân Đồn, có tổng diện tích khoảng 2.171 km2, trong đó diện tích đất tự nhiên 551 km2; là 01 trong 15 KKT ven biển của cả nước. Huyện đảo Vân Đồn, gồm quần thể đảo đá và đất thuộc Vịnh Bái Tử Long; có nhiều giá trị khác biệt về cảnh quan sinh thái và phát triển kinh tế biển trong vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, với vùng biển rộng 1.620 km2 với trên 600 hòn đảo lớn, nhỏ (phần lớn là đảo đất); Vân Đồn có 1 thị trấn và 11 xã; nằm ở điểm giữa của tuyến đường biển Hạ Long - Móng Cái, thông thương với các địa phương trong nước qua Quốc lộ 18A và thông qua đường biển đến với các nước trên thế giới. Vân Đồn nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế sôi động của khu vực. Từ Vân Đồn chỉ cần khoảng từ 1 - 2 giờ bay là đến các trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch (như Thượng Hải, Hồng Kông, Macau, Thẩm Quyến, Hải Nam, Đài Bắc) và thủ đô của các nước trong khu vực Đông Nam Á; Từ 3 - 4 giờ bay là có thể đến Bắc Kinh (Trung Quốc), Seoul (Hàn Quốc), Tokyo (Nhật Bản), Dubai (UAE). Từ cảng Vạn Hoa hoặc cảng biển phía Bắc đảo Cái Bầu theo đường biển đến các cảng của đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 200 hải lý, Hồng Kông 580 hải lý và Singapore 1.300 hải lý, là khoảng cách phù hợp cho các tour du lịch đường biển quốc tế. Vị trí địa lý và sự phong phú về tài nguyên biển, đảo đã tạo cho Vân Đồn nhiều điều kiện lý tưởng cho phát triển các loại hình du lịch chất lượng cao và trở thành trung tâm tài chính, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển đảo lớn có đủ sức cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế. - Về Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, là thành phố cửa khẩu quốc tế; có tổng diện tích khoảng 1.211 km2, trong đó đất liền 661 km2. Khác với các đô Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 52 thị biên giới khác, Móng Cái có cả đường biên giới trên đất liền và đường biên giới trên biển (70 km); có đất đai, rừng, núi, sông, hồ, biển, đảo, với bãi biển Trà Cổ dài nhất Việt Nam (khoảng 17 km); bên cạnh nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, một thị trường dễ tính (Trung Quốc); có cửa khẩu quốc tế Móng Cái và cửa khẩu biển Vạn Gia (năm 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 6 tỷ USD; cửa khẩu có lượt khách đi qua nhiều nhất Việt Nam - trên 3,3 triệu lượt/năm). Thành phố Móng Cái cách thành phố Hạ Long (thủ phủ của tỉnh) 186 km đường bộ, cách thủ đô Hà Nội 230 km, cách Phòng Thành – Quảng Tây (Trung Quốc) 45 km, cách Nam Ninh – Quảng Tây (Trung Quốc) 150 km, cách Trạm Giang - Quảng Đông (Trung Quốc) 250 km. Trong xu thế mở cửa và hội nhập, Móng Cái là điểm hội tụ, là cửa ngõ thông thương giao lưu kinh tế chính giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam với các tỉnh, thành phố miền duyên hải phía Nam Trung Quốc cũng như trong tiến trình hợp tác của khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc. Mặt khác, Quảng Ninh đang tập trung nguồn lực, thu hút đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông và được trung ương ưu tiên hỗ trợ vốn để xây dựng như: hoàn thành xây dựng đường cao tốc Hải Phòng - Hạ Long (đường 5B kéo dài); đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, Hạ Long - Móng Cái; đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân. Hoàn thành xây mới sân bay Vân Đồn và các hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ phục vụ bảo vệ biên giới, hải đảo tại địa bàn Quảng Ninh. Như vậy, Quảng Ninh sẽ có nguồn vốn rất lớn từ địa phương, chính phủ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài để hoàn thành các đề án đã được Quốc hội, chính phủ phê duyệt. Khi các đề án này chính thức thực hiện, nhu cầu về vốn vay đâu tư từ ngân hàng sẽ rất lớn. Vì vậy, có thể thấy trong giai đoạn 2010 – 2015, 2016 – 2020 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Tỉnh trong nhiều lĩnh vực, nhu cầu về vốn vay đầu tư từ ngân hàng tại địa bàn là rất lớn. Từ việc phát triển hoạt động cho vay, sẽ Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 53 kéo theo nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ phi tín dụng (thanh toán trong ngoài nước, chuyển tiền, thu – chi hộ, kinh doanh ngoại hối, phát hành thẻ ATM, ...). Có thể thất đây là cơ hội, là tiền đề để các ngân hàng tại địa bàn trong đó có Ngân hàng SCB Quảng Ninh phát triển dịch vụ của mình. Nhận định chiến lược sẽ hình thành các cặp dịch vụ ngân hàng – loại khách hàng chính yếu ở Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020 như sau: Bảng 2.4. Kết quả xác định luận giải nhu cầu các cặp dịch vụ ngân hàng – loại khách hàng chính yếu ở Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020. Tên các loại cặp dịch vụ ngân hàng – khách hàng chính yếu Cơ sở của nhu cầu Huy động vốn thị trường 1 từ tiền gửi tiết kiệm – Dân cư trên địa bàn Quảng Ninh là tỉnh nằm trong Top 10 tỉnh/TP trực thuộc TW có nguồn thu ngân sách lớn nhất cả nước, đồng thời cũng là tỉnh duy nhất có 04 thành phố tập trung đông dân cư, với mức thu nhập bình quân đầu người tương đối cao (hiện tại khoảng trên 2.000 USD/đầu người/năm). Dự kiến, giai đoạn 2011 – 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân của Quảng Ninh đạt 12%-13%/năm, GDP bình quân đầu người (giá thực tế) năm 2015 đạt từ 3.600 – 4.000 USD; năm 2020 đạt 8.000 – 8.500 USD. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho các ngân hàng trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư. Cho vay vốn đầu tư trung dài hạn và vốn lưu động phục vụ SXKD – Các Tổ chức kinh tế trên địa bàn Với nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giúp cho Quảng Ninh tăng trưởng và phát triển kinh tế trên mức bình quân chung của cả nước, và với mục tiêu dài hạn từ nay tới năm 2020, Quảng Ninh sẽ trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế và là một trong những đầu tàu kinh tế của miền Bắc và cả nước, sẽ tạo điều kiện cho Quảng Ninh ngày càng thu hút thêm nhiều dự án, phương án đầu tư vào đa lĩnh vực: chế biến, khai thác than và khoáng sản; dịch vụ cảng biển, kho bãi, vận tải thủy bộ; thương mại, dịch vụ Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 54 du lịch; công nghiệp điện; công nghiệp SX vật liệu xây dựng (xi măng, gạch tuynel) và hàng tiêu dung; nuôi trồng, chế biến thủy hải sản,do đó, nhu cầu vốn vay đầu tư từ ngân hàng là rất lớn. Cho vay tiêu dùng (mua mới, sửa chữa nhà cửa; mua sắm xe máy, ôtô và các nhu cầu tiêu dùng khác) – Cá nhân, hộ gia đình Quảng Ninh được coi là tỉnh có mức thu nhập bình quân cao hơn mức bình quân chung cả nước, cùng với điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng cao, đây là một điều kiện rất tốt cho các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng, một mặt giảm thiểu rủi ro tín dụng trên nguyên lý cơ bản “lấy số đông bù số ít” đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh tiền tệ cho ngân hàng. Dịch vụ chuyển tiền trong nước – Các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn Theo xu hướng chung, các tổ chức, cá nhân có hướng sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng vừa đảm bảo an toàn tài sản, tiết kiệm thời gian, đồng thời chi phí rẻ hơn các hình thức chuyển tiền khác (chuyển tiền qua bưu điện,), do đó tốc độ tăng dịch vụ chuyển tiền qua các ngân hàng trên địa bàn ngày càng phát triển ổn định, trong đó có SCB. Dịch vụ thanh toán quốc tế - Các doanh nghiệp hoạt động XNK hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn Với lợi thế có Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái giáp biên với Trung Quốc, nhu cầu XNK hàng hóa giữa các doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc không ngừng gia tăng, bên cạnh đó hoạt động XK hàng hóa trên địa bàn: thủy hải sản, xi măng ngày càng lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển mở rộng dịch vụ Thanh toán quốc tế. 2.2.1. Kết quả phân tích nhu cầu từng cặp sản phẩm – khách hàng chính yếu của dịch vụ ngân hàng Quảng Ninh trong 5 năm gần nhất (từ 2009 – 2003). Theo số liệu thống kê toàn thị trường do các chuyên gia đánh giá 5 năm qua, có thể thấy nhu cầu của các cặp dịch vụ ngân hàng – loại khách hàng biến động qua mỗi năm. Số liệu cụ thể như sau: Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 55 Bảng 2.5. Kết quả phân tích nhu cầu từng cặp sản phẩm – khách hàng chính yếu của dịch vụ ngân hàng Quảng Ninh trong 5 năm qua gần nhất. Năm/Cặp KH-DV Số lượng (KH) Giá trị, ( tỷ đồng) Yếu tố làm tăng, giảm chính Tốc độ tăng giảm Huy động vốn thị trường 1 từ tiền gửi tiết kiệm – Dân cư trên địa bàn 2009 326.500 29.695 Thu nhập bình quân của người dân vẫn có xu hướng tăng, thị trường BĐS đóng băng, ngoại trừ những cá nhân dùng tiền đầu tư kinh doanh vàng, dự trữ ngoại tệ (USD), đầu tư chứng khoán, thì nhiều KH tiếp tục lựa chọn kênh đầu tư an toàn hơn thông qua hình thức gửi TK ngân hàng làm tăng nguồn huy động cho các ngân hàng trên địa bàn. 10,5% 2010 343.415 33.435 Như trên 12,6% 2011 355.960 38.211 Như trên 14,3% 2012 410.300 52.140 Như trên 36,5% 2013 417.450 66.000 Như trên 26,6% Cho vay vốn đầu tư trung dài hạn và vốn lưu động phục vụ SXKD – Các Tổ chức kinh tế trên địa bàn 2009 3.650 43.195 So với năm 2008, tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2009 chỉ đạt 4,8% thấp hơn 4,8% Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 56 15% so với tốc độ tăng trưởng năm 2008 (năm 2008 đạt 19,8%). Nguyên nhân chính do các doanh nghiệp trên địa bàn cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước và khu vực xảy ra từ đầu quý 1/2008, việc cung ứng hàng hóa dịch vụ bị đình trệ, trong năm 2009 các ngân hàng chủ yếu cho vay bổ sung vốn lưu động để các doanh nghiệp ổn định SXKD, hầu như không cho vay đầu tư them TSCĐ nên tăng trưởng tín dụng tăng chậm. 2010 3.890 44.826 Tiếp tục chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước và khu vực, nguồn vốn ngân hàng cho vay chủ yếu là VLĐ phục vụ ổn định SXKD nên tốc độ tăng trưởng tiếp tục giảm (1%) so với năm 2009. 3,8% 2011 4.018 51.440 Sang năm 2011, thực hiện chủ chương chung của Chính phủ cũng như chỉ đạo của NHNN TW, các ngân hàng trên địa bàn đã dần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đảy mạnh cho vay vào một số lĩnh vực, ngành mũi nhọn trên địa bàn (bổ sung vốn kinh doanh cho các đơn vị chế biến kinh doanh XK than, xuất khẩu hải sản, nhà máy 14,8% Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 57 nhiệt điện, xi măng, vật liệu xây dựng, khách sạn và trung tâm thương mại,) nhằm ổn định kinh tế địa phương, và tạo công ăn việc làm cho người lao động, do đó làm tăng tốc độ tăng trưởng tín dụng so với năm 2010 thêm 11%. 2012 4.250 57.420 Sang năm 2012, các ngân hàng trên địa bàn tiếp tục giải ngân cho các doanh nghiệp theo các cam kết tín dụng đã ký năm 2011 và bổ sung vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tuy nhiên, để đảm bảo an toàn vốn, các ngân hàng vẫn dè dặt cấp tín dụng cho các doanh nghiệp mới quan hệ do tâm lý e ngại nền kinh tế chưa có dấu hiệu phục hồi hoàn toàn, trong khi hầu hết các ngân hàng đều có xu hướng đảy mạnh cho vay vào lĩnh vực phi SX (cho vay tiêu dùng) nhằm giảm thiểu rủi ro, đã làm cho tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm (- 3,2%) so với năm 2011. 11,6% 2013 4.386 55.780 Sang năm 2013, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực SX bị giảm cả số tương đối (-2,9%) và số tuyệt đối (-1.640 tỷ đồng), mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn địa bàn tăng 15 tỷ đồng, tương ứng tăng 0,02%. Nguyên nhân chủ (-2,9%) Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 58 yếu do tâm lý e ngại về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp chưa phục hồi, các ngân hàng đã chuyển hướng đảy mạnh tỷ trọng cho vay tiêu dùng và giảm tương ứng việc cấp tín dụng cho lĩnh vực SX nên làm ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực SXKD. Cho vay tiêu dùng (mua mới, sửa chữa nhà cửa; mua sắm xe máy, ôtô và các nhu cầu tiêu dùng khác) – Cá nhân, hộ gia đình 2009 18.250 2.275 Các ngân hàng có xu hướng đảy mạnh hoạt động bán lẻ cho vay tiêu dùng, một mặt giảm thiểu rủi ro tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu sử dụng vốn, nên tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực phi SX đều tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. 18,3% 2010 23.210 2.862 Như trên 25,8% 2011 35.320 5.716 Như trên 99,7% 2012 38.120 8.580 Như trên 50,1% 2013 41.075 10.235 19,3% Dịch vụ chuyển tiền trong nước – Tổ chức kinh tế và cá nhân Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 59 2009 28.350 85.759 Nhằm sử dụng tối đa tiện ích các dịch vụ của ngân hàng, trong đó có dịch vụ chuyển tiền trong nước, theo xu hướng chung, các tổ chức, cá nhân có hướng sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng vừa đảm bảo an toàn tài sản, tiết kiệm thời gian, đồng thời chi phí rẻ hơn các hình thức chuyển tiền khác (chuyển tiền qua bưu điện,), do đó tốc độ tăng dịch vụ chuyển tiền qua các ngân hàng trên địa bàn ổn định và năm sau cao hơn năm trước cả về số tuyệt đối và tương đối. 7,6% 2010 32.175 92.620 Như trên 8% 2011 36.218 101.880 Như trên 10% 2012 40.055 113.596 Như trên 11,5% 2013 42.510 127.227 Như trên 12% Dịch vụ thanh toán quốc tế - Các doanh nghiệp hoạt động XNK hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn 2009 2.068 236 Với lợi thế sẵn có về Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái, cửa khẩu Hoành Mô, cửa khẩu Bắc Phong Sinh và hệ thống cảng biển cho hoạt động XNK hàng hóa, nhu 16,2% Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 60 cầu sử dụng dịch vụ TTQT trên địa bàn có xu hướng ngày càng tăng, với tốc độ tăng trưởng ổn định, năm sau cao hơn năm trước. 2010 2.350 275 Như trên 16,5% 2011 2.410 321 Như trên 17% 2012 2.580 379 Như trên 18% 2013 2.628 452 Như trên 19,5% (Nguồn số liệu: Lấy từ các chuyên gia phân tích hoạt động ngân hàng tại QN) 2.2.2. Dự báo nhu cầu các loại dịch vụ ngân hàng – khách hàng chính yếu của thị trường Quảng Ninh giai đoạn 2016 – 2020. Từ dữ liệu thực tế về nhu cầu các cặp dịch vụ ngân hàng – loại khách hàng trong 5 năm gần nhất tại địa bàn Quảng Ninh đã phân tích cụ thể ở trên, tiến hành tổng hợp dự báo nhu cầu của từng cặp dịch vụ ngân hàng – loại khách hàng giai đoạn 2016 - 2020 như sau: Bảng 2.6. Dự báo nhu cầu các loại dịch vụ ngân hàng chính yếu của thị trường Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2020. Năm/Cặp KH-DV Số lượng (KH) Giá trị, ( tỷ đồng) Yếu tố làm tăng, giảm chính Tốc độ tăng giảm b/q năm (%) Huy động vốn thị trường 1 từ tiền gửi tiết kiệm – Dân cư trên địa bàn Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 61 Hiện trạng 417.450 66.000 2016 542.100 96.000 Thu nhập bình quân đầu người tới năm 2020 của Quảng Ninh dự kiến đạt 8.000 USD/người/năm. Ngoại trừ các cá nhân tham gia đầu tư tiền nhàn rỗi vào các kênh khác như: BĐS, chứng khoán, thì kênh đầu tư gửi tiền tiết kiệm vẫn được kỳ vọng là an toàn, hiệu quả, huy động TT1 của ngân hàng từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư có xu hướng tăng về số tuyệt đối, nhưng giảm về số tương đối do nhu cầu tiêu dùng của dân ngày càng tăng cao, người dân chấp nhận đầu tư vào các kênh khác có lợi nhuận lớn hơn và kèm theo sự rủi ro cao hơn như: BĐS, chứng khoán, 22,75% 2018 625.000 132.480 Như trên 19% 2020 702.150 175.205 Như trên 16% Tăng trưởng bình quân 19,25%/năm Cho vay vốn đầu tư trung dài hạn và vốn lưu động phục vụ SXKD – Các Tổ chức kinh tế trên địa bàn Đề tài: Hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh của Ngân hàng SCB Quảng Ninh Kiều Quang Vinh CH QTKD BK 2011A 62 Hiện trạng 4.386 55.780

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf000000273641_3064_1951424.pdf
Tài liệu liên quan