Luận văn Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội

Tiêu đề Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT. 1

DANH MỤC CÁC BẢNG . 1

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ. 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài . 3

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. 6

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 21

4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. 22

5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. 23

6. Câu hỏi nghiên cứu . 24

7. Giả thuyết nghiên cứu. 24

8. Phương pháp nghiên cứu. 25

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm công cụ. 29

1.2. Lý thuyết vận dụng . 32

1.3. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc, trợ giúp

người cao tuổi. 39

1.4. Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi . 43

1.5. Khái quát về địa bàn nghiên cứu. 45

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH LIÊN THẾ HỆ

TỰ GIÚP NHAU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI ĐỊA BÀN

2.1. Khái quát chung về người cao tuổi và mô hình liên thế hệ tự giúp nhau

tại địa bàn. 49

2.2. Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trong mô hình liên thế

hệ tự giúp nhau. 59

pdf20 trang | Chia sẻ: anan10 | Lượt xem: 496 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
............................................................................................ 127 1 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Địa bàn nghiên cứu ................................................................................... 49 Bảng 2.2. Nhóm tuổi của NCT tham gia nghiên cứu ................................................ 49 Bảng 2.3. Giới tính của NCT tham gia nghiên cứu .................................................. 50 Bảng 2.4. Tình trạng hôn nhân của NCT tham gia nghiên cứu ................................ 50 Bảng 2.5. Trình độ học vấn của NCT tham gia nghiên cứu ..................................... 51 Bảng 2.6. Tình trạng sức khỏe của NCT tham gia nghiên cứu ................................. 51 Bảng 2.7. Mức sống của NCT tham gia nghiên cứu ................................................. 52 Bảng 2.8. Thời gian tham gia mô hình của NCT tham gia nghiên cứu .................... 53 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu 2.1. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK ......................... 59 Biểu 2.2. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK theo địa bàn ..... 61 Biểu 2.3. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động CSSK theo nhóm tuổi 63 Biểu 2.4. Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động CSSK .......................... 65 Biểu 2.5. Trợ NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm . 67 Biểu 2.6. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm theo địa bàn.. ............................................................................................................. 69 NCT : Người cao tuổi CLB : Câu lạc bộ DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội HAI : Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế VNAS : Điều tra Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam CSSK : Chăm sóc sức khỏe TDTT : Thể dục thể thao CTXH : Công tác xã hội 2 Biểu 2.7. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm theo nhóm tuổi ........................................................................................................... 71 Biểu 2.8. Những thay đổi của người cao tuổi khi tham gia hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm ........................................................................................................................... 74 Biểu 2.9. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT ............ 77 Biểu 2.10. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT theo địa bàn ............................................................................................................................. 79 Biểu 2.11. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT theo nhóm tuổi ............................................................................................................................. 81 Biểu 2.12. Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động giải trí - TDTT .......... 83 Biểu 2.13. Trợ NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách. .................................................................................................... 85 Biểu 2.14. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách theo địa bàn ........................................................................ 88 Biểu 2.15. Trợ giúp NCT nhận được khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách theo nhóm tuổi ................................................................... 90 Biểu 2.16. Những thay đổi của NCT khi tham gia hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách ............................................................................................ 93 Biểu 3.1. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT .. 98 Biểu 3.2. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động hỗ trợ sinh kế tạo việc làm cho NCT ....................................................................................................................... 101 Biểu 3.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động giải trí - TDTT của NCT ... 104 Biểu 3.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách cho NCT ............................................................................................. 106 Biểu 3.5. Vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau ........ 109 Biểu 3.6. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội trong mô hình liên thế hệ tự giúp nhau ............................................................................................................... 112 3 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình (DS-KHHGĐ), cuối năm 2011 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, nhóm dân số cao tuổi tăng nhanh chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm 1/10 dân số cả nước. Tuổi thọ của người cao tuổi (NCT) tăng nhanh phản ánh những thành tựu to lớn của công tác chăm sóc, phụng dưỡng NCT và công tác dân số được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo thực hiện từ các giai đoạn trước. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng đưa đến những khó khăn, thách thức cho công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò NCT [12; tr.8]; bởi hiện nay đời sống NCT nói chung, cùng điều kiện thu nhập - mức sống, điều kiện sống của đa phần NCT nước ta còn khá thấp, cùng với nhiều vấn đề liên quan như: sức khỏe yếu, bệnh tật nhiều, điều kiện chăm sóc chưa đảm bảo... tác động rất lớn đến đời sống NCT nước ta. Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, ở nước ta hiện nay 70% NCT đang sống ở nông thôn và hiện tại vẫn đang tham gia lao động, điều này cho thấy sau tuổi 60 NCT vẫn có nhu cầu tham gia làm việc nhằm tạo thu nhập, nâng cao mức sống. Chính vì vậy, cùng với các chương trình can thiệp, hoạt động chăm sóc được triển khai, thì hoạt động tạo việc làm nhằm phát huy vai trò NCT, giúp NCT tiếp tục cống hiến những kinh nghiệm, năng lực cho các lĩnh vực trong đời sống; đang được Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội rất quan tâm. Cũng theo số liệu thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ, tuổi thọ khỏe mạnh của NCT Việt Nam là 66, xếp thứ 116/172 nước trên thế giới, trong khi tuổi thọ trung bình hiện tại là 74 đứng thứ 58/177 nước; mỗi NCT ở Việt Nam phải chịu 15,3 năm bệnh tật, có 95,0% NCT mắc bệnh mãn tính và số bệnh trung bình mỗi NCT mắc phải là 2,69 bệnh, đa phần NCT đều có sức khỏe yếu và các bệnh mãn tính mắc phải phổ biến như: bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, xương khớp, tim mạch, thị giác... Qua điều tra và nghiên cứu còn cho thấy tỉ lệ NCT ở nước ta tuy chỉ chiếm hơn 1/10 dân số cả nước, nhưng lại chiếm tới 70% tổng chi phí y tế Quốc gia [37], đây là một thách thức không hề nhỏ cho hệ thống chăm sóc, trợ giúp NCT. 4 Hiện nay, với xu thế già hóa diễn ra nhanh ở nước ta, có rất nhiều mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT được xây dựng, nhưng để đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của số đông NCT thì rất ít mô hình đáp ứng được, trong số đó phải kể tới mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, đây là mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT dựa vào cộng đồng đầu tiên ở nước ta, được thành lập năm 2004; với sự trợ giúp của Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (HAI), Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Mô hình liên thế hệ là một mô hình kết hợp các hoạt động chăm sóc - trợ giúp nhiều mặt, CSSK; tạo việc làm cho NCT, thông qua các CLB và hoạt động sinh kế; giải trí - TDTT; truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách với sự tham gia trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, đến nay mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã được triển khai ở 25 tỉnh, thành phố. Việc chăm sóc - trợ giúp NCT cũng là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, để nâng cao chất lượng chăm sóc và hoạt động trợ giúp NCT, đồng thời phát huy được vai trò của NCT trong cộng đồng như mục tiêu của Luật Người cao tuổi (2009), Chương trình Hành động Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020 đề ra, Bộ LĐ-TB&XH đã đề xuất Đề án Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi giai đoạn 2012-2020 trong đó chú trọng vào việc xây dựng và nhân rộng “Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau” [11; tr.69], đây là một hướng đi đúng đắn, mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện và tình hình già hóa dân số ở nước ta. Thanh Hóa là địa phương đầu tiên nhân rộng mô hình CLB liên thế hệ tự giúp nhau; đến nay, toàn tỉnh có 21 huyện, thị xã, thành phố có mô hình, thành lập được 97 CLB liên thế hệ tự giúp nhau của NCT với tổng số thành viên tham gia là 5.626 người. Mô hình đã hỗ trợ tạo việc làm cho NCT thông qua các hoạt động sinh kế như: nuôi bò, nuôi lợn nái, nuôi gà, nuôi chim bồ câu, thủ công mỹ nghệ... NCT khi tham gia mô hình này đều có việc làm và thu nhập ổn định, được tập huấn kiến thức khoa học - kỹ thuật tiên tiến về chăn nuôi, trồng trọt, giới thiệu các ngành nghề phù hợp với sức khỏe NCT, các thành viên CLB liên thế hệ tự giúp nhau còn được hỗ trợ về vốn vay để phát triển sản xuất, được các tình nguyện 5 viên chăm sóc sức khỏe thường xuyên, giao lưu giải trí văn hóa - văn nghệ; tổ chức các buổi truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức về chính sách [29; tr.5]. Như vậy, có thể thấy rằng, cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng như: NCT cô đơn không nơi nương tựa, NCT có bệnh hiểm nghèo, NCT khuyết tật, NCT nghèo - cận nghèo, NCT có công với cách mạng... nhằm bảo đảm những quyền, lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT. Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số đông NCT và mong mỏi, nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn nghiên cứu thuộc 2 xã Hoằng Lưu và xã Hoằng Trạch. Từ việc nghiên cứu "Mô hình liên thế hệ tự giúp nhau của người cao tuổi và vai trò của công tác xã hội", sẽ cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT; cũng từ việc nghiên cứu mô hình liên thế hệ tự giúp nhau, thấy được bức tranh toàn cảnh về một mô hình thực tiễn dựa vào cộng đồng, phát huy vai trò và nguồn lực từ phía cộng đồng trong chăm sóc, trợ giúp NCT. Nghiên cứu này chỉ ra thực trạng những hoạt động của mô hình liên thế hệ tự giúp nhau và tác động của mô hình này đến đời sống của NCT, qua các hoạt động trợ giúp như: Chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh kế tạo việc làm, giải trí - TDTT và truyền thông nâng cao nhận thức về chính sách. Trên cơ sở những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế trong mô hình và vai trò bán chuyên nghiệp đội ngũ nhân viên xã hội trong mô hình, nghiên cứu đề xuất hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong mô hình với vai trò của nhân viên CTXH trong mô hình, nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại, hạn chế và đưa mô hình hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị mang tính thực tiễn, góp phần tăng cường vai trò của mô hình, vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động chăm sóc - trợ giúp NCT tại địa phương. 6 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đến nay, nghiên cứu mô hình và hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT là đề tài nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và Việt Nam. Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu... hầu hết các công trình nghiên cứu đó đều nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng, những ảnh hưởng và tác động của các loại mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đến đời sống của NCT; những hiệu quả của nó mang lại cho xã hội, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh như hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, khi vấn đề già hóa được đề cập từ cuối năm 2011 sau kết quả thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ được công bố, tỷ lệ NCT chạm ngưỡng 9 triệu người, chiếm hơn 1/10 tổng dân số cả nước. 2.1. Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và mô hình trợ giúp người cao tuổi trên thế giới Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980 trở lại đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh tế, xã hội của sự già hóa dân cư” [27], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. ; hay nghiên cứu về “Sự phát triển chính sách địa phương đối phó với sự già hóa dân cư” [14] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm 1994 tại 6 nước, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già hóa dân số. Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who Prerceives Them” [54] (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận thức về chúng” của Anntte L.Fitzpatrick, Neil R. Powe, Lawton S. Cooper, Diane G. Ives và John A. Robbins (Đại học Washington, Đại học John Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California - Davis và Đại học Wake Forest). Nghiên cứu này 7 được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm 5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận Sacramento, quận Washington và quận Alleghny. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các rào cản chủ yếu như sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, không có bảo hiểm, các rào cản về tâm lý và thể chất khác Nghiên cứu này không chỉ khái quát thực trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác động đến việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nước Mỹ. Chúng ta cũng có thể nhận thấy những rào cản này ngay trong xã hội Việt Nam. Những rào cản này sẽ được đề tài quan tâm, chỉ ra hướng khắc phục. Theo tác giả M.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian Population Conference - Pacific Fifth [58], Bangkok - Thái Lan (11-14/12/2002), báo cáo đã đề cập tới vấn đề già hóa dân số và đề xuất những giải pháp cho tình hình già hóa dân số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề quá độ nhân khẩu học đưa đến già hóa dân số, một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện mức tử vong là già hoá dân số; những tác động về mặt kinh tế - xã hội của già hóa dân số; các chính sách và chương trình, các mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đã có và sự tham gia của cộng đồng trong việc ứng phó với vấn đề già hóa. Báo cáo cũng nhấn mạnh vấn đề hỗ trợ của gia đình và vai trò cùng chung sống, bởi tại hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc NCT là trách nhiệm đặc biệt của gia đình, gia đình giữ vai trò nền tảng này, nghiên cứu còn nhấn mạnh chức năng cả gia đình tròn chăm sóc NCT. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với NCT đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Để giải quyết xu hướng đang thay đổi này trong cấu trúc gia đình, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã xây dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho NCT. 8 Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa [22] được tổ chức tại Madrid, Tây Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, Hội nghị tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra tuyên bố chính trị bao gồm 19 điều, trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm quan trọng của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ NCT; giúp NCT được tiếp cận các quyền bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần; Hội nghị cũng nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có các chính sách và bổ sung chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ giúp NCT về mọi mặt. Hội nghị đã đưa ra những chiến lược hành động cụ thể, thiết thực mang tính toàn cầu trong việc can thiệp, trợ giúp và chăm sóc NCT nói chung, nó sẽ được vận dụng phù hợp vào từng điều kiện cụ thể ở từng quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào tình hình NCT của quốc gia đó. Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Sociology (2004) [57], tại Chương Lão hóa và người lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nước thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia, nghiên cứu đã chỉ ra tình hình NCT ở phía nam EU thì thích sống với những người thân trong gia đình. Các nước phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có xu hướng ngày càng tăng. Cụ thể nghiên cứu đã chỉ ra ở Hà Lan, chỉ có 8% số NCT trên 75 tuổi đã ly hôn, góa bụa, hoặc độc thân sống chung với các thành viên khác trong gia đình, số còn lại sống trong cơ sở xã hội. Cộng hòa Séc và Bồ Đào Nha có đến 50% NCT sống chung với người thân. Đức và Hà Lan rất nhiều người sống một mình trong nhà của họ vì các dịch vụ tạo điều kiện chăm sóc tại nhà tương đối phát triển. Sự khác biệt trong cách chọn nhà của NCT ở nước EU là do chuẩn mực về văn hóa, lý do về kinh tế, chính sách xã hội của từng quốc gia là khác nhau; từ kết quả nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75 tuổi sống trong các cơ sở xã hội. Trong nghiên cứu của United Nations World Population Prospects (2007): The 2006 Revision Highlights [60] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra những 9 phân tích cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2050 trên quy mô toàn cầu, số người già sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh, các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ NCT theo dự báo sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050. Trong nghiên cứu“Evaluating a community - based participatory research project for elderly mental health care in rural America” [56] (Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần NCT ở nông thôn Mỹ) của Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern. Nghiên cứu này nhằm khám phá bản chất hợp tác của các đối tác trong chương trình CSSK tâm thần cho NCT ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu được công bố vào năm 2008. Đây cũng chính là mô hình CSSK cho NCT mà đề tài quan tâm. Nghiên cứu “Developing Model of Health Care management for the Elderly by Community Participation in Isan” [55] (Xây dựng mô hình quản lý CSSK cho NCT có sự tham gia của cộng đồng tại Isan) của Chanitta Soommaht, Songkoon Chantachon và Paiboon Boonchai. Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2008 tại 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan là Mahasarakham, Roiet, Sakon Nakhon, Nakhon Ratchasima, Bruriram, Surin và Khon kaen bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra các vấn đề trong quản lý CSSK người cao tuổi tại các cộng đồng ở Isan cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời các tác giả cũng tiến hành phân tích sự phát triển của việc CSSK cho NCT là do các tổ chức cộng đồng Isan đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản lý các tổ chức cộng đồng trong việc CSSK người cao tuổi là phương pháp hiệu quả nhất. Tất cả công dân cao tuổi trong cộng đồng đều đồng ý rằng, việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn, đây cũn là một trong những phát hiện lớn của nghiên cứu này. 10 Trong cuốn sách “Aging and health: Asian and Pacific Islander American Elders” [59] (Người già và sức khỏe: NCT Mỹ đến từ châu Á và Thái Bình Dương) của các tác giả Melen R. Mcbride, Nancy Morioka. Douglas và Gwen Veo, tái bản lần thứ 2. Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã nghiên cứu sự đa dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến việc CSSK của những NCT đến từ các nước khác nhau thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện tại đang sống ở Mỹ. Từ đó, các tác giả đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lơi, rào cản trong việc CSSK, tạo điều kiện để NCT này thể hiện được mong muốn, nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất. Các nghiên cứu thời kỳ này phần lớn đi từ việc tìm hiểu thực trạng đời sống của NCT, những vấn đề họ đang gặp phải trong cuộc sống, những rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ, các mô hình chăm sóc cũng như việc xây dựng những Chương trình trợ giúp cho NCT phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Điều này thể hiện được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia đối với NCT. Nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc - UNFPA and HelpAge (2012), Ageing in the Twenty-First Century: A Celebration and A Challenge [61], đưa ra nhận định, dự báo và phân tích, đó là năm 1950 toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Báo cáo phân tích thực trạng của NCT và rà soát tiến độ thực hiện các chính sách hành động của chính phủ và các cơ quan liên quan kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT diễn ra, nhằm thực hiện Chương trình Hành động Quốc tế Madrid về NCT, đáp ứng những cơ hội và thách thức của một thế giới đang già hóa. Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh họa sinh động về các chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công vấn đề già hóa và các mối quan tâm của NCT. Báo cáo cũng đưa ra những khuyến nghị về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội bao gồm cả NCT và giới trẻ có cơ hội góp phần xây dựng xã hội, cũng như cùng được hưởng các phúc lợi xã hội đó. Trong phiên họp toàn thể ngày 18/12/2014, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết GA/RES/69/146 về công tác người cao tuổi [23], trong đó Nghị quyết đã đưa ra 52 điều cần thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá cao hiệu quả của nhóm công tác mở của Liên Hợp Quốc về NCT (OEWG) được thành lập từ 2010, trong 11 đó có dự thảo Công ước về Quyền của NCT để đệ trình tại phiên họp lần thứ 70 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; nội dung Nghị quyết cũng kêu gọi các quốc gia thành viên đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp cụ thể trong việc đề xuất chiến lược chăm sóc, trợ giúp NCT; vấn đề đáng chú ý là Nghị quyết đã đồng ý tổ chức các phiên họp định kỳ để lấy ý kiến của các quốc gia thành viên và của các tổ chức phi chính phủ vào ngày 14 đến 16/07/2015 tại trụ sở của Liên hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ về hoạt động chăm sóc, trợ giúp NCT. Như vậy, có thể thấy chủ đề NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề về NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT cũng rất phong phú: từ góc độ gia đình, xã hội; từ góc độ văn hóa, y tế cho đến góc độ dân số, kinh tế, quản lý Điều này cho thấy vai trò, vị thế của NCT tại các nước trên thế giới rất được quan tâm, đề cao. 2.2. Tổng quan nghiên cứu về người cao tuổi và mô hình trợ giúp người cao tuổi tại Việt Nam Tại Việt Nam các nghiên cứu về NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT đã được quan tâm nghiên cứu rất nhiều, từ các giai đoạn trước đó. Tuy nhiên, các nghiên cứu về NCT và các vấn đề liên quan đến NCT phát triển nhất từ khi thành lập Hội Người cao tuổi (1995); có Pháp lệnh Người cao tuổi (2000), có Luật Người cao tuổi (2009); Chương trình Hành động Quốc gia về người cao tuổi (2012-2020) được ban hành và xu thế già hóa dân số bắt đầu từ cuối năm 2011, thì có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành, các đề tài nghiên cứu xoay quanh các vấn đề: Chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất - tinh thần; các mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT; An sinh xã hội cho NCT; tạo việc làm cho NCT; những nghiên cứu mang tính can thiệp về các vấn đề tâm sinh lý, bệnh tật ở NCT... Những nghiên cứu về NCT và các vấn đề liên quan đến NCT ở Việt Nam được tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay, NCT và các vấn đề về NCT là đối tượng được tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, tâm sinh lý... 12 Nghiên cứu về “Người cao tuổi và những vấn đề đặt ra đối với chính sách xã hội” [2], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Kết quả của đề tài đã đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước sớm b

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf02050004668_9886_2003224.pdf
Tài liệu liên quan