Luận văn Nghiên cứu sự tham gia của một số tổ chức xã hội dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam

ỤC LỤ

LỜI CAM ĐOAN .

LỜI CẢM ƠN.

MỞ ĐẦU .

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.2

3. Mục tiêu của đề tài.5

4. Ý nghĩa của đề tài .5

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .6

1.1. Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự .6

1.1.1. Khái niệm về xã hội dân sự.6

1.1.2. Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự .8

1.1.3. Đặc trưng của các tổ chức xã hội dân sự.9

1.1.4. Các loại hình tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay.11

1.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh

vực BVMT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.14

1.2.1. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh

vực BVMT ở Việt Nam.14

1.2.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh

vực BVMT ở một số nước trên thế giới.19

- Tại Trung Quốc .19

- Tại Mỹ .20

1.3. Rà soát quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong văn bản

quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam .21

1.3.1. Cơ sở pháp lý cho các tổ chức XHDS.21

1.3.2. Quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT.22

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

.28

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .28

2.2. Nội dung nghiên cứu.28

pdf94 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 23/09/2020 | Lượt xem: 332 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nghiên cứu sự tham gia của một số tổ chức xã hội dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (CPSE) và Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV). Trong đó: - VUSTA là tổ chức bảo trợ của 140 hội thành viên, và 119 tổ chức khoa học – công nghệ ngoài Nhà nước. VUSTA tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; điều hoà, phối hợp hoạt động của các hội thành viên trong nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động BVMT. - CPSE là một tổ chức phi chính phủ (NGO) chuyên thực hiện những dự án nghiên cứu, phát triển bền vững và BVMT cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo vùng trung du, miền núi phía Bắc. - ENV là tổ chức xã hội hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ các loài động vật hoang dã. Mặc dù VUSTA, CPSE, ENV có mục tiêu, phương thức hoạt động khác nhau, tuy nhiên những tổ chức này đã thể hiện vai trò, chức năng chính của các tổ chức XHDS khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT đó là: (1) Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT, (2) Phản biện xã hội về môi trường, (3) Tư vấn, vận động chính sách về môi trường, (4) Kiểm tra, giám sát môi trường, (5) Giáo dục, phổ biến, tuyên truyền về BVMT. 2.2. Nội dung nghiên cứu - Sự tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam, cụ thể là 3 tổ chức VUSTA, CPSE và ENV. - Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức VUSTA, CPSE, ENV khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam. 29 - Đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức VUSTA, CPSE và ENV trong lĩnh vực BVMT. 2.3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập tài liệu Thu thập, tổng quan tài liệu, kế thừa kết quả liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu dựa trên những báo cáo khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu, ấn phẩm, báo cáo dự án về BVMT do VUSTA, CPSE, ENV cung cấp. - Phương pháp phỏng vấn sâu Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ của các tổ chức CPSE, ENV, VUSTA để thu thập thêm thông tin. Các câu hỏi phỏng vấn bao gồm những nội dung được liệt kê trong Phụ lục 3. Bảng 2.1. Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn STT Họ và tên Chức danh Tổ chức Thời gian phỏng vấn 1 Đặng Nghĩa Phấn Giám đốc CPSE Tháng 4/2015 2 Đặng Minh Ngọc Điều phối viên dự án CPSE Tháng 4/2015 3 Nguyễn Thị Thúy Kế toán CPSE Tháng 4/2015 4 Vũ Thị Quyên Giám đốc ENV Tháng 5/2015 5 Bùi Thị Hà Phó giám đốc ENV Tháng 5/2015 6 Ninh Phương Thảo Điều phối viên mạng lưới tình nguyện viên ENV Tháng 5/2015 7 Phạm Văn Tân Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VUSTA Tháng 5/2015 - Phương pháp phân tích tổng hợp Dựa trên những thông tin thu được và tham vấn ý kiến của một số chuyên gia, tác giả tiến hành phân tích sự tham gia của các tổ chức VUSTA, CPSE, ENV trong lĩnh vực BVMT thông qua 5 hoạt động chính: (1) Phát hiện, tố giác, (2) Phản 30 biện xã hội về môi trường, (3) Tư vấn, vận động chính sách, (4) Kiểm tra, giám sát, (5) Giáo dục, phổ biến, tuyên truyền. Qua đó tìm ra những thuận lợi và khó khăn, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của những tổ chức này trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam thời gian tới. Thao tác tính toán và xử lý số liệu, vẽ biểu đồ được thực hiện bằng phần mềm Microsoft Excel 2007. 31 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Đánh giá thực trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay 3.1.1. Giới thiệu về các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA 3.1.1.1. Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (Education for Nature - ENV) là tổ chức xã hội được thành lập từ năm 2002 với 30 nhân viên, và có trụ sở tại phòng 1701, Tòa 17T5, Đường Hoàng Đạo Thúy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Mục tiêu của ENV là bảo vệ đa dạng sinh học thông qua việc hỗ trợ các cơ quan chức năng tăng cường thể chế, chính sách và thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), giáo dục nâng cao nhận thức, khuyến khích cộng đồng cùng tham gia bảo vệ ĐVHD. Cơ cấu tổ chức của ENV theo mô hình có phòng ban, bao gồm Ban giám đốc, dưới là các phòng hành chính kế toán, phòng quản lý chương trình dự án và 3 phòng chức năng (phòng giáo dục môi trường, phòng bảo vệ ĐVHD, phòng tư vấn và vận động chính sách). Mỗi phòng, ban, bộ phận được bố trí sắp xếp từ 2-10 cán bộ tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận được giao. Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của ENV Ban giám đốc Phòng hành chính kế toán Phòng giáo dục môi trường Phòng quản lý chương trình dự án Phòng Bảo vệ ĐVHD Phòng tư vấn, vận động chính sách 32 3.1.1.2. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (CPSE) Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (tên tiếng Anh: Research and Development Center for Population, Social and Environmental Affairs, tên viết tắt: CPSE) là một NGO được thành lập theo Quyết định số 1112/TC-LHH ngày 16/11/2000 của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Giấy phép hoạt động số A - 472 ngày 12/01/2006 do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp. Trụ sở của CPSE tại số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.  Cơ cấu tổ chức Khác với ENV, mô hình hoạt động của CPSE chưa phân hóa rõ rệt thành các phòng ban khác nhau và phân định thành nhiều chức năng riêng rẽ. Cơ cấu tổ chức bao gồm: Ban giám đốc (giám đốc và phó giám đốc), bên dưới là các cán bộ chuyên môn theo dõi phụ trách từng lĩnh vực. Với mô hình này một cán bộ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau. Hình 3.2. Cơ cấu tổ chức của CPSE  Nguồn nhân lực của CPSE CPSE có 12 thành viên làm việc chính thức với trình độ đại học và sau đại học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có 3 chuyên viên về Lâm nghiệp (2 tiến sĩ, 1 thạc sĩ), 2 chuyên viên về dân tộc học (1 nghiên cứu sinh, 1 thạc sĩ), 1 cử nhân xã hội học, 2 thạc sĩ làm chuyên viên về môi trường, 2 chuyên viên về nông nghiệp (1 Ban giám đốc Cán bộ hành chính, kế toán Cán bộ nghiên cứu Cán bộ truyền thông và đào tạo Cán bộ chương trình, dự án 33 thạc sĩ chăn nuôi, 1 kỹ sư trồng trọt), 2 chuyên viên về y tế cộng đồng. CPSE có 15 cộng tác viên của nhiều cơ quan có trình độ đại học và sau đại học làm chuyên gia cho các lĩnh vực có liên quan của dự án. Bảng 3.1. Trình độ chuyên môn của cán bộ trung tâm CPSE Tổng số Trình độ chuyên môn 12 Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Cao đẳng/trung cấp 2 (16,67%) 6 (50%) 2 (16,67%) 2 (16,67%)  Lĩnh vực hoạt động Lĩnh vực hoạt động của CPSE khá đa dạng, bao gồm dân số (nghiên cứu về dân số, lực lượng lao động, sức khỏe), xã hội (Luật, giới tính, bình đẳng giới), môi trường (nghiên cứu, triển khai công nghệ xử lý môi trường và phát triển bền vững). Trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam, hình thức hoạt động chủ yếu của CPSE là tư vấn, thực hiện các chương trình, dự án xây dựng mô hình kết hợp BVMT với xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ rừng, canh tác nông nghiệp bền vững, tạo sinh kế ổn định cho người dân. Đối tượng hưởng lợi chủ yếu từ dự án BVMT của CPSE là đồng bào dân tộc thiểu số (người Mông, Dao, Tày) và người nghèo ở trung du, miền núi phía Bắc. Thu nhập chính của người dân ở vùng dự án chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng và trồng ngô, cấy lúa một vụ trên ruộng bậc thang, sườn núi dốc. Trồng trọt dựa vào nguồn nước trời, tập quán canh tác lạc hậu nên thu nhập bấp bệnh. Nhiều năm gặp thời tiết xấu, ảnh hưởng của biến đối khí hậu, gieo trồng chậm thời vụ nên năng suất thấp, hay bị mất mùa. Bên cạnh đó, cộng đồng chưa có ý thức BVMT, bảo vệ đa dạng sinh học và do khai thác tài nguyên quá mức nên rừng cũng như đất canh tác ngày càng nghèo kiệt. Vai trò của CPSE trong dự án là cầu nối giữa các nhà tài trợ và cộng đồng địa phương. Bảng 3.2 là một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay. 34 Bảng 3.2. Một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT Thời gian Tên dự án Cơ quan tài trợ 2000-2005 Nghiên cứu mối quan hệ giữa du canh, du cư và môi trường, kiến nghị các biện pháp phát triển bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi VUSTA 2001-2003 Hỗ trợ các nhóm nông dân nòng cốt trong làng của người H’Mông, xã Mường Mùn, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu phát triển bền vững ICCO-Hà Lan 2006-2007 Nâng cao nhận thức về thực hiện bảo vệ môi trường của cộng đồng dân tộc Dao ở vùng sâu xa huyện Sơn Động, Bắc Giang VUSTA 2006-2008 Pháp luật và sinh kế cho người H’Mông ở Lào Cai VUSTA 2007-2008 Bảo vệ nguồn nước ngầm có sự tham gia của cộng đồng thôn Tạ Xá, xã Đại Thắng, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây Quỹ Môi trường Sida (SEF) 2008-2009 Hỗ trợ người H’Mông định canh định cư, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại thôn Suối Đồng, xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang VUSTA 2010-2011 Hỗ trợ dân tộc bản địa xây dựng mô hình bảo vệ môi trường vùng thung lũng và vùng đồi núi trọc phía trên các ngòi, khe và các suối lớn ở các tỉnh phía Bắc. VUSTA 2013-2015 Điều tra các tác động môi trường và kinh tế xã hội của chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế lâm nghiệp ở khu vực miền núi phía Bắc (Tuyên Quang, Bắc Kạn, Sơn La, Điện Biên) VUSTA 35 2015-2017 Hỗ trợ Kỹ thuật cho dự án “Khuyến khích người dân tham gia cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo Việt nam (PFG)” tại huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Cạn ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AAV) 3.1.1.3. Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) được thành lập theo Quyết định số 121/HĐBT ngày 29/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Có thể xem VUSTA là tổ chức bảo trợ lớn nhất hoạt động trong lĩnh vực khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay. VUSTA tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ ở trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài, đại diện; bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các hội thành viên trong cả nước; phản ánh nguyện vọng và ý kiến đóng góp của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Khi thành lập VUSTA chỉ có 15 hội thành viên. Đến nay, con số đó đã lên đến 140 hội thành viên, trong đó có 63 liên hiệp hội tỉnh, thành phố và 77 hội ngành toàn quốc. Ngoài ra, trong hệ thống của Liên hiệp Hội Việt Nam còn có hơn 500 đơn vị nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo; 192 tờ báo, tạp chí, bản tin, đặc san, trang tin, báo điện tử. Các hội thành viên hoạt động theo điều lệ hoặc quy chế của hội mình, có quyền tự chủ, tự quản rộng rãi trong mọi hoạt động, nhưng phải tôn trọng điều lệ của VUSTA và chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của Hội đồng Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam. 36 Hình 3.3. Cơ cấu tổ chức của VUSTA VUSTA thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây: (1) Củng cố, phát triển tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của các hội thành viên, (2) Tham gia thực hiện xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân Đại hội đại biểu toàn quốc Hội đồng Trung ương Đoàn chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Hội ngành toàn quốc Cơ quan Liên hiệp hội Việt Nam Liên hiệp hội tỉnh, thành phố Tạp chí khoa học & tổ quốc Báo đất việt Báo khoa học đời sống Nhà xuất bản tri thức Quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam Các tổ chức khoa học, công nghệ trực thuộc Văn phòng Ban tổ chức - cán bộ Ban thông tin và phổ biến kiến thức Ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Ban kế hoạch – tài chính Ban hợp tác quốc tế Ban tư vấn, phản biện và giám định xã hội Văn phòng đại diện phía nam 37 dân, phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, (3) Phát triển công tác vận động trí thức khoa học và công nghệ, (4) Tăng cường hợp tác với các hội, các tổ chức phi chính phủ của các nước, tham gia các tổ chức khoa học và công nghệ của khu vực và quốc tế. Trong lĩnh vực BVMT, VUSTA đã triển khai 85 dự án BVMT từ năm 2004 đến 2014. Trung bình mỗi năm có 8,5 dự án với kinh phí 3,4 tỷ đồng/năm. Các dự án tập trung vào việc hỗ trợ xây dựng các mô hình vệ sinh, BVMT tại cộng đồng (27 dự án); điều tra đánh giá tác động môi trường (33 dự án); tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT (16 dự án); hoạt động nghiên cứu khác, tư vấn phản biện và giám định xã hội (9 dự án) [23]. Các dự án đã tập hợp đông đảo các nhà khoa học có chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực, giải quyết nhiều vấn đề môi trường trong đó nổi bật nhất là việc chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ môi trường vào thực tiễn, thể hiện qua hàng loạt các mô hình BVMT hiệu quả tại cộng đồng. Các hoạt động điều tra cơ bản môi trường và tư vấn phản biện đã cung cấp các cơ sở khoa học có giá trị cho việc hoạch định chính sách, pháp luật về môi trường. 3.1.2. Sự tham gia của ENV, CPSE, VUSTA trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay BVMT không chỉ là trách nhiệm của các cấp chính quyền mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và toàn xã hội, trong đó có các tổ chức XHDS. Các tổ chức XHDS Việt Nam hiện nay tuy có nhiều loại hình tổ chức và tham gia vào lĩnh vực BVMT dưới nhiều hình thức khác nhau, bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng đều hoạt động trong 5 nội dung chính như sau: (1) Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT, (2) Phản biện xã hội về môi trường, (3) Tư vấn, vận động chính sách về môi trường, (4) Kiểm tra, giám sát môi trường, (5) Đào tạo, phổ biến, tuyên truyền về BVMT. Bảng 3.3. Các hoạt động chính của tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT 38 STT Các hoạt động Nội dung 1 Phát hiện, tố giác - Với tư cách là những cộng đồng tự quản ở địa phương mà thành viên đều là lực lượng nhân dân, các tổ chức XHDS đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện, tố giác những sai phạm trong việc thực thi pháp luật về BVMT. - Các tổ chức XHDS cũng hoàn toàn có quyền tố giác những vi phạm về BVMT do những tổ chức sản xuất, kinh doanh gây ra. Cùng với vai trò tố giác của các tổ chức XHDS là vai trò hành động tập thể để cải thiện tình hình, chẳng hạn việc đệ đơn kiện tập thể, thay mặt cho một nhóm xã hội (chẳng hạn như phụ nữ, trẻ em, người già) hay một cộng đồng, dân cư lên chính quyền địa phương hoặc tòa án về những vi phạm nghiêm trọng đối với môi trường. 2 Kiểm tra, giám sát - Trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay có hai loại giám sát là giám sát mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và giám sát xã hội mang tính quyền lực nhân dân (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, phương tiện thông tin đại chúng và các cá nhân, cộng đồng). - Dựa trên khía cạnh giám sát xã hội của cộng đồng, có thể hiểu giám sát xã hội về BVMT là việc xem xét, đánh giá hiệu quả và năng lực thực hiện công tác BVMT của chính quyền các cấp cũng như của tổ chức XHDS, cá nhân tại địa phương trong cả nước, từ đó có những khuyến nghị và triển khai biện pháp can thiệp kịp thời để tăng cường hiệu quả BVMT. 39 3 Phản biện xã hội về môi trường - Phản biện xã hội về môi trường có thể được xem là một dạng của hoạt động phản biện xã hội với đối tượng tập trung vào các vấn đề liên quan đến môi trường của một chính sách, dự án, chương trình, kế hoạch, đề án (gọi chung là đề án về môi trường). Trong bối cảnh ngày càng gia tăng các xung đột về môi trường thì vai trò của phản biện chính sách môi trường càng quan trọng và cần được thúc đẩy. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về loại hình phản biện này. - Hoạt động phản biện xã hội có một đặc trưng cơ bản, đó là một hoạt động khoa học thực sự. Vì vậy, đòi hỏi tổ chức phản biện phải có các hội viên với trình độ chuyên môn, nghề nghiệp nhất định thì mới có thể nghiên cứu, xem xét, đánh giá, tổng hợp và đề xuất, kiến nghị những nội dung cần thiết. Các tổ chức XHDS có quyền thực hiện hoạt động phản biện xã hội, nhưng kết quả và mức độ đóng góp cho xã hội lại khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của các hội viên tập hợp trong tổ chức. 4 Tư vấn, vận động chính sách - Vai trò tư vấn, khuyến nghị của các tổ chức XHDS được xác lập trong các quy định tại Mục d, Điều 150 của Luật BVMT 2014. Theo đó các tổ chức, cá nhân đều được khuyến khích thúc đẩy phát triển dịch vụ BVMT với chức năng bao gồm tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường. - Thông qua các tổ chức XHDS, người dân có thể bày tỏ trực tiếp sự đóng góp ý kiến của mình vào việc đưa ra những quyết định chính trị, chính sách và chương trình, kế hoạch về BVMT ở địa phương và cấp quốc gia. 40 5 Đào tạo, phổ biến, tuyên truyền - Luật BVMT 2014 quy định Nhà nước phải ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực BVMT. Phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT phải được thực hiện thường xuyên và rộng rãi. Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục về môi trường. - Vai trò và nhiệm vụ giáo dục, phổ biến của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT còn được tái khẳng định trong những điều lệ về hội của những tổ chức này. Rất nhiều tổ chức XHDS đã thực thi tốt sứ mệnh phổ biến, tuyên truyền về hoạt động BVMT giúp nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi BVMT của cộng đồng. Đây chính là bài học kinh nghiệm mà các tổ chức XHDS mới thành lập có thể học hỏi. Tùy thuộc vào loại hình tổ chức, mục tiêu và lĩnh vực BVMT mà mỗi tổ chức XHDS có thế mạnh ở một hoặc nhiều hoạt động đã đề cập ở trên. Cụ thể đối với 3 tổ chức tiến hành nghiên cứu bao gồm ENV, CPSE, VUSTA thì hoạt động chính của các tổ chức này như sau: Bảng 3.4. Hoạt động chính của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA STT Hoạt động ENV CPSE VUSTA 1 Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT  2 Kiểm tra, giám sát môi trường    3 Phản biện xã hội về môi trường  4 Tư vấn, vận động chính sách về môi trường    5 Đào tạo, phổ biến, tuyên truyền về BVMT    41 3.1.2.1. Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT Trong 3 tổ chức ENV, CPSE, VUSTA thì chỉ có tổ chức ENV tham gia các hoạt động phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT. Năm 2005, ENV thành lập Phòng Bảo vệ Động vật hoang dã (WCU) nhằm tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào việc ngăn chặn tình trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép, đồng thời hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc thực thi pháp luật bảo vệ ĐVHD đang bị đe dọa. ENV thực hiện vai trò phát hiện, tố giác vi phạm về bảo vệ ĐVHD thông qua mạng lưới các tình nguyện viên. Tính đến tháng 5/2015, WCU quản lý mạng lưới tình nguyện viên bảo vệ ĐVHD lên tới hơn 5.200 thành viên tại 33 tỉnh thành trên cả nước, với sự có mặt của 13 câu lạc bộ ở 13 tỉnh, thành phố lớn: Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh. Các tình nguyện viên đăng ký tham gia mạng lưới bảo vệ ĐVHD sẽ được: (1) Tập huấn kiến thức và kỹ năng bảo vệ ĐVHD, (2) Tập huấn kỹ năng truyền thông và quan hệ công chúng, (3) Rèn luyện khả năng lãnh đạo và làm việc nhóm, (4) Tham gia triển lãm bảo vệ ĐVHD, (5) Được hướng dẫn về phương pháp khảo sát các vi phạm về ĐVHD. Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên về bảo vệ ĐVHD có thể được diễn tả qua sơ đồ sau (Hình 3.4). 42 Hình 3.4. Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên ENV WCU khuyến khích các tình nguyện viên thông báo những vi phạm mới do tình cờ quan sát được hoặc phát hiện từ các đợt khảo sát. Một số hành vi thường gặp có thể là: quảng cáo ĐVHD trái phép trên mạng, báo chí, biển hiệu, thực đơn; nuôi nhốt, tàng trữ và trưng bày trái phép ĐVHD và các sản phẩm có nguồn gốc từ ĐVHD; buôn bán ĐVHD và các sản phẩm làm từ ĐVHD. - Khuyến khích mọi người cùng tham gia Các tình nguyện viên có thể giới thiệu, khuyến khích bạn bè, người thân của mình thông báo cho WCU nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ ĐVHD qua đường dây nóng miễn phí của ENV là 1800-1522, hoặc sử dụng ứng dụng điện thoại di động “ENV – SOS Động vật hoang dã”, giúp người dân tố cáo hành vi buôn bán ĐVHD một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác.  Những kết quả thu được Cơ quan chức năng (Xử lý vi phạm) ( Trung tâm ENV Mạng lưới tình nguyện viên Hồ sơ lưu trữ các vụ vi phạm Cơ sở kinh doanh từng vi phạm pháp luật bảo vệ ĐVHD Các vụ vi phạm mới Người dân 43 Tính đến hết Quý I/2015, hơn 8.400 vụ việc vi phạm đã được lưu trữ trong hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia các vi phạm về bảo vệ ĐVHD, kể từ khi Phòng Bảo vệ ĐVHD của ENV được thành lập vào năm 2005. Số lượng gấu nuôi nhốt trong các trang trại đã giảm từ 4.300 cá thể năm 2005 còn 1.245 cá thể vào đầu năm 2015 (Số liệu do WCU cung cấp). Thống kê số vụ vi phạm săn bắt, vận chuyển và buôn bán ĐVHD trái phép trên cả nước qua các năm 2006, 2007, 2008, 2010 cụ thể như sau (Bảng 3.5). Bảng 3.5. Số vụ vi phạm về bảo vệ ĐVHD qua một số năm do ENV tiếp nhận và lưu trữ hồ sơ (Nguồn: WCU cung cấp) Năm Số vụ buôn bán, vận chuyển trái phép Số vụ bày bán trái phép Số vụ quảng cáo Số vụ trưng bày, nuôi nhốt trái phép Các vụ khác Tổng 2006 70 77 10 53 25 235 2007 128 269 35 123 15 570 2008 129 255 23 143 9 559 2010 147 412 53 300 28 940 Trong Quý I/2015, Phòng Bảo vệ ĐVHD của ENV đã tiếp nhận tổng cộng 145 trường hợp vi phạm mới (trung bình khoảng 02 vụ/ngày), 07 vụ việc đã được thông báo qua ứng dụng trên điện thoại thông minh về tội phạm ĐVHD, 69 vụ việc được tiếp nhận qua thư điện tử và 69 vụ việc được thông báo qua đường dây nóng. 3.1.2.2. Kiểm tra, giám sát môi trường Vấn đề kiểm tra giám sát việc thực thi pháp luật về môi trường không chỉ là trách nhiệm của các cấp chính quyền, mà còn là quyền và nghĩa vụ của công dân và toàn xã hội. Hoạt động kiểm tra, giám sát BVMT có thể được cụ thể hóa dưới nhiều hình thức và bằng nhiều con đường khác nhau, với sự tham gia của nhiều bên liên 44 quan, trong đó tổ chức XHDS đóng vai trò vô cùng quan trọng, cần được khuyến khích và thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Khó khăn hiện nay là Luật Tiếp cận thông tin vẫn chưa được ban hành để làm cơ sở cho việc công khai và minh bạch hoạt động theo dõi, giám sát những sai phạm về pháp luật BVMT. Điều 5 trong Luật BVMT 2014 quy định: “Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động BVMT theo quy định của pháp luật”. Tại điều 144, 145, 146 Luật BVMT 2014 nhấn mạnh đến nguyên tắc thực hiện cơ chế dân chủ trong BVMT, giúp người dân và các tổ chức cộng đồng địa phương thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát công tác BVMT. Đây là hình thức giám sát mang tính quyền lực nhân dân, có tính sâu rộng, cùng với giám sát mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) tham gia tích cực trong công tác BVMT ở Việt Nam trong thời gian tới. Đáng chú ý, Điều 83 của Luật BVMT 2014 đã xác định quyền lập hội trong hoạt động giám sát BVMT của người dân, các hội này chính là tổ chức tự quản dựa vào cộng đồng (CBO), hay nói cách khác là tổ chức XHDS ở địa phương trong quá trình kiểm tra, giám sát BVMT. Đây là nhóm người có chung mục tiêu BVMT, tự tập hợp nhau lại thành tổ chức dựa trên nguyên tắc tự nguyện và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, cộng đồng dân cư và tổ chức tự quản về môi trường ở địa phương cũng được tạo điều kiện để tham gia kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai, vận hành dự án; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn. Đối với các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA, hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường được thể hiện như sau (Bảng 3.6). 45 Bảng 3.6. Hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường của ENV, CPSE, VUSTA STT Tên tổ chức Các hoạt động kiểm tra, giám sát 1 ENV - Giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan chức năng: sau khi tiếp nhận thông tin vi phạm về bảo vệ ĐVHD do cộng tác viên hoặc người dân cung cấp, ENV sẽ chuyển thông tin tới các cơ quan chức năng và theo sát vụ việc nhằm đảm bảo các cơ quan chức năng kiểm tra và xử lý dứt điểm. Sau khi có kết quả, ENV sẽ thông báo lại cho người đã báo tin (Hình 3.4). Quy trình này nhằm nâng cao tính hiệu quả và minh bạch của công tác thực thi pháp luật bảo vệ ĐVHD, đồng thời khuyến khích người dân có phản ánh kịp thời và hành động nhanh chóng khi phát hiện các vi phạm về ĐVHD. - Kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh trước đây đã từng vi phạm: Phòng Bảo vệ Động vật hoang dã (WCU) của ENV cung cấp cho tình nguyện viên tên và địa chỉ của các cơ sở kinh doanh vi phạm pháp luật nằm trên địa bàn tình nguyện viên phụ trách. WCU cung cấp thông tin chi tiết về các hành vi vi phạm trước đó của các cơ sở này như: quảng cáo thịt thú rừng trong thực đơn, biển hiệu, trưng bày mẫu vật, bày bán các bình rượ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluanvanthacsi_chuaphanloai_224_2666_1870127.pdf
Tài liệu liên quan