Luận văn Phân tích chuỗi giá trị thanh long Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Thanh long được tiêu thụ trên thị trường ở dạng trái tươi và tiêu thụ dưới 2

hình thức: tiêu thụ nội địa (khoảng 15 - 20% sản lượng) và xuất khẩu (khoảng 80 -

85% sản lượng). Trái thanh long đã được xuất khẩu chính ngạch đến 14 quốc gia,

vùng lãnh thổ trên thế giới; bao gồm Châu Á (Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc,

Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,.), Châu Âu (Hà Lan, Anh, Pháp, Đức),

Trường Đại học Kinh tế Huế50

Châu Mỹ (Canada, Hoa Kỳ). Thị trường tiêu thụ chủ yếu vẫn là các nước Châu Á

(đặc biệt là Trung Quốc); việc mở rộng thị trường tại khu vực Châu Âu, Châu Mỹ

vẫn gặp nhiều khó khăn do vận chuyển xa, bảo quản lâu dài khó khăn, công tác xúc

tiến, quảng bá chưa mạnh, do rào cản kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm. Bên

cạnh đó, tại thị trường Châu Mỹ thì Việt Nam cũng phải chịu sự cạnh tranh của một

số nước khác như Colombia, Mexico, Nicaragua.

Hiện nay ở Tiền Giang (và vùng Long An lân cận) cũng có một vài công ty

xuất khẩu thanh long trực tiếp như Long Việt, Hoàng Huy, VinaGreen. Bên cạnh

những công ty xuất khẩu của tỉnh thì hiện nay phần lớn lượng thanh long của tỉnh

được các doanh nghiệp trên thành phố Hồ Chí Minh thu mua qua chủ vựa, thương

lái để xuất khẩu là chủ yếu. Những doanh nghiệp xuất khẩu này không chỉ xuất

khẩu thanh long mà họ còn tham gia xuất khẩu một số trái cây khác như xoài, chôm

chôm, nhãn, bưởi,

Sự phát triển thị trường phụ thuộc rất lớn vào các công ty xuất khẩu. Gần

đây các công ty xuất khẩu đã đẩy mạnh việc xuất khẩu sang các thị trường lớn hay

những thị trường yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc.

Tuy nhiên do những yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao và hơn nữa do chi phí vận

chuyển khá lớn nên thị phần xuất khẩu sang những nước này vẫn còn rất khiêm tốn.

Cũng đã có những hiện tượng thanh long của Việt Nam xuất sang những thị trường

này đã bị loại bỏ do không đáp ứng được các tiêu chuẩn của họ nhất là những tiêu

chuẩn liên quan đến dư lượng thuốc trừ sâu, có thành phần thuốc cấm (chủ yếu do

dùng chất kích thích tăng trưởng), và do có chứa nấm gây hại cho sức khỏe. Chính vì

vậy, việc truy xuất nguồn gốc thanh long trở nên rất quan trọng

pdf97 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 501 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phân tích chuỗi giá trị thanh long Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ũng khá lâu tuy nhiên mới phát triển mạnh trong khoảng 6-7 năm trở lại đây. Theo khảo sát, tỷ lệ hộ bắt đầu chuyển sang trồng thanh long khá nhiều vào giai đoạn 2005-2009. Phần lớn các hộ chuyển từ trồng lúa và cải tạo vườn tạp sang trồng thanh long. Theo khảo sát tại xã Mỹ Tịnh An thì có tới 80% hộ cải tạo chuyển từ trồng lúa sang, còn lại là từ vườn tạp hoặc cây trồng khác. Nhìn chung, cũng giống như những người nông dân khác, phần lớn người trồng thanh long chủ yếu là học xong cấp I và cấp II, một số hoàn thành cấp III và số ít có trình độ trung cấp trở lên. Mặc dù vậy với những kinh nghiệm sản xuất canh tác nông nghiệp lâu năm nên việc chuyển đổi sang thanh long không có khó khăn đối với hộ nông dân. Tuy nhiên, việc phát triển theo những tiêu chuẩn quốc tế (GlobalGAP) hay quốc gia (VietGAP) có thể sẽ đòi hỏi những yêu cầu cao hơn về trình độ tiếp thu cũng như việc áp dụng, ghi chép theo dõi. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 42 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Chung Hộ không Việt Gap Hộ Việt Gap Trung cấp/Cao đẳng trở lên Cấp 3 Cấp 2 Cấp 1 Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.8: Trình độ chủ hộ trồng thanh long Nhìn chung hộ trồng thanh long khá chuyên canh, hầu hết đất sử dụng để sản xuất thanh long. Một số hộ trước đây còn giữ lại vườn tạp hay lúa, nay hầu như đã chuyển hết sang sản xuất thanh long. Tuy nhiên diện tích bình quân của hộ sản xuất thanh long cũng không lớn. Theo khảo sát tại xã Mỹ Tịnh An và xã Quơn Long, diện tích thanh long bình quân của các hộ điều tra là khoảng 7.200m2, trong đó diện tích trồng mới chiếm khoảng 5-6%. So sánh giữa hộ áp dụng quy trình VietGAP (gọi tắt là hộ VietGAP) và hộ chưa áp dụng VietGAP (hộ chưa VietGAP) cho thấy có sự chênh lệch về quy mô. Hộ áp dụng VietGAP có diện tích trung bình cao hơn so với hộ chưa áp dụng VietGAP (9.800m2 so với 6.500m2). Hiện nay, ở Tiền Giang có một tổ sản xuất thanh long Chợ Gạo có chứng nhận VietGAP. Ngày 09/3/2012, Công ty cổ phần Giám định và khử trùng FCC đã trao giấy chứng nhận VietGAP (thực hành nông nghiệp tốt) cho Tổ hợp tác sản xuất thanh long Chợ Gạo, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo. Tổ hợp tác sản xuất thanh long Chợ Gạo đã tham gia mô hình sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, dưới sự hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, thu hút được 21 hộ nông dân trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, với diện tích 19,74 ha, sản lượng hàng năm 582,7 tấn; đã được Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu (Cục Bảo vệ thực vật) cấp mã số xuất khẩu thanh long sang thị trường Mỹ. Với Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 43 chứng nhận VietGAP, các hộ sản xuất hy vọng có thị trường ổn định hơn, bán được giá cao hơn. Tuy nhiên, thực tế không như những hộ sản xuất kỳ vọng. Phần phân tích về lợi ích - hiệu quả sản xuất thanh long sẽ trình bày rõ hơn vấn đề này. Việc quy định diện tích thanh long không phải là quy định khi tham gia VietGAP. Đến nay, có khá nhiều hộ ở Mỹ Tịnh An và một số xã khác cũng đang cố gắng tham gia vào quá trình xây dựng VietGAP và họ hy vọng sẽ được cấp giấy chứng nhận VietGAP trong thời gian tới. 0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 Tổng diện tích trồng thanh long Thanh long mới trồng Thanh long đang cho trái Chung Hộ không Việt Gap Hộ Việt Gap Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.9: Diện tích thanh long bình quân/hộ (m2) Nhằm tăng năng suất cho trái thanh long, nhất là giai đoạn trái vụ, hầu hết các hộ nông dân đều xông đèn trái vụ. Và một điều thú vị là do chăm sóc khá tốt nên chất lượng trái thanh long, kích cỡ trái thanh long trái vụ thường cao hơn so với vụ thuận. Tất nhiên thanh long trái vụ cũng sẽ có giá cao hơn so với thuận vụ. Phần chi phí lợi nhuận sẽ được đề cập chi tiết sau. Trước đây, các hộ thường chỉ xông đèn một vụ, nhưng những năm gần đây càng nhiều hộ triển khai xông đèn hai vụ. Theo khảo sát thì trung bình có khoảng 54% hộ xông đèn 1 vụ và khoảng 46% hộ xông đèn 2 vụ. Đặc biệt, những hộ áp dụng VietGAP áp dụng xông đèn 2 vụ nhiều hơn. Mặc dù khai thác khá nhiều năng suất của cây thanh long nhưng các hộ này cũng chăm bón cây tốt hơn, sử dụng nhiều phân chuồng để bón và bồi bổ cho cây hơn. Trư ờng Đạ i họ c K in tế H uế 44 Liên quan đến việc áp dụng VietGAP, ý kiến của những hộ về nguyên nhân tham gia VietGAP cho thấy lý do các hộ áp dụng VietGAP là do: - Theo khuyến cáo của các cơ quan chức năng. - Có ý thức trong sản xuất và cung cấp sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. - Kỳ vọng giá bán cao hơn sản xuất truyền thống. - Sản xuất đi vào nề nếp, môi trường sản xuất an toàn, tốt cho sức khỏe cộng đồng. - Tiết kiệm chi phí phân bón, thuốc trừ sâu do thực hiện đúng qui trình, không gây lãng phí phân hóa học, thuốc. - Hy vọng có công ty đến ký hợp đồng để ổn định đầu ra. Như đề cập ở trên thì hiện nay ở Chợ Gạo mới chỉ có một tổ hợp tác với 21 hộ đang áp dụng VietGAP, còn hầu hết các hộ hiện nay vẫn chưa áp dụng VietGAP. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa được vận động, chưa hiểu kỹ về tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, có nhiều hộ đã được tập huấn, đã biết về VietGAP nhưng áp dụng thấy khá phức tạp vì phải ghi chép sổ sách khá cẩn thận và bắt buộc một số điều kiện khắt khe hơn. Các nguyên nhân chính mà nông dân Tiền Giang chưa áp dụng VietGAP là: Bảng 2.6: Nguyên nhân chưa áp dụng VietGAP Nguyên nhân Tỷ lệ (%) Do chưa biết, chưa hiểu về tiêu chuẩn 44,2 Biết nhưng thấy áp dụng khó 32,6 Biết nhưng không thích 4,7 Không có ai hướng dẫn để áp dụng 2,3 Chi phí để áp dụng đòi hỏi cao 9,3 Khác 7,0 Chung 100,0 Nguồn: Kết quả từ điều tra Trư ờng Đạ i họ c K nh t ế H uế 45 Bên cạnh những nguyên nhân trên thì còn một nguyên nhân khác là mặc dù áp dụng theo những tiêu chuẩn của VietGAP nhằm đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm của trái thanh long, nhưng phần lớn các hộ sản xuất theo VietGAP cho biết giá bán thanh long của họ không cao hơn so với các hộ sản xuất bình thường. Việc phân tích chi phí lợi nhuận sẽ được thực hiện chi tiết ở phần sau, tuy nhiên đây cũng chính là vấn đề mà làm các hộ VietGAP thấy không hài lòng, còn các hộ chưa áp dụng VietGAP thì thấy chưa có động lực để tham gia. Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.10: Giá thanh long VietGAP có cao hơn không? 2.2.1.2 Thương lái Thương lái phần lớn là những người địa phương trong xã, huyện là chính. Cũng có một số thương lái và chủ vựa từ Long An sang mua sản phẩm tại Tiền Giang. Theo khảo sát, một xã thường có khoảng 20-30 thương lái thu mua. Thương lái cũng có khá nhiều loại, loại trung bình thì lượng thu mua thanh long một năm khoảng khoảng 100-150 tấn. Đây là loại chiếm chủ yếu. Tuy nhiên có một số thương lái lớn thì lượng thu mua cao hơn trên 200 tấn/năm và có thể đạt 400-500 tấn/năm. Thương lái thì chủ yếu mua hàng từ người trồng thanh long và bán cho chủ vựa hoặc công ty xuất khẩu. Còn chủ vựa thì bán chủ yếu cho công ty xuất khẩu ở tại tỉnh hoặc là các công ty xuất khẩu trên Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với kênh xuất khẩu thì thương lái và chủ vựa cũng cung cấp cho thị trường trong nước qua các thương lái tại các chợ đầu mối, chợ bán lẻ tại địa phương và tại các tỉnh. Trư ờng Đạ i ọ c K inh tế H uế 46 0 20 0 40 0 60 0 80 0 0 10 20 30 Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.11: Lượng thu mua trong năm 2012 của các thương lái (tấn) Cùng với sự phát triển của nhà vườn thì các thương lái cũng phát triển theo. Theo khảo sát thì có một số thương lái đã làm từ rất lâu (15 năm trở lên). Tuy nhiên, sự phát triển mạnh của thương lái là trong 6-7 năm trở lại đây (chiếm khoảng 50% số thương lái). Bảng 2.7: Số năm kinh doanh của các thương lái Số năm kinh doanh Số thương lái Tỷ lệ (%) 2 1 3,33 3 4 13,33 5 3 10 6 1 3,33 7 5 16,67 8 1 3,33 10 3 10 12 2 6,67 Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 47 13 3 10 14 1 3,33 15 4 13,33 18 1 3,33 20 1 3,33 Nguồn: Kết quả từ điều tra Phần lớn các thương lái vào tận nhà vườn để mua thanh long và họ thường đặt cọc trước đó khoảng 5-7 ngày. Số tiền đặt cọc có thể là 10%, 20% và 30%. Nhìn chung, việc ký kết hợp đồng bằng giấy tờ là không có, thương lái và các nhà vườn chủ yếu cam kết với nhau bằng miệng. Bên cạnh đó, các thương lái nhiều khi cũng nợ lại nhà vườn tiền thu mua thanh long. Việc đặt cọc hay cho trả chậm chủ yếu dựa trên “uy tín” làm việc lâu năm và hơn nữa rất nhiều thương lái là những người trong xã nên cả thương lái và nhà vườn đều không sợ bị “quỵt”. Tuy nhiên, với rủi ro trong kinh doanh thì việc bùng nợ hay trả quá chậm là không thể tránh khỏi. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới kinh doanh sản xuất của hộ nông dân. Phần lớn các thương lái nhận hàng tại nhà vườn (chiếm gần 90%), tuy nhiên có một số trường hợp nhà vườn sử dụng xe máy vận chuyển đến cở sở thương lái. Phương tiện chủ yếu vẫn là xe máy, ô tô. Hiện nay một số cơ sở vẫn sử dụng xe ba gác để vận chuyển thanh long. 88.5 11.5 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 Giao tại vườn Giao tại cơ sở Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ giao thanh long theo địa điểm Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H ế 48 Bảng 2.8: Phương tiện vận chuyển thanh long đến cơ sở của thương lái Phương tiện Tỷ lệ (%) Xe máy 47,66 Xe ba gác 8,33 Ô tô 23,66 Khác 20,33 Tổng 100,00 Nguồn: Kết quả từ điều tra Hiện nay nhờ kinh doanh thanh long đem lại lợi ích cho các thương lái nên sự đầu tư cơ sở vật chất ngày càng tốt hơn. Có tới trên 50% thương lái có xe tải thường. Tuy nhiên chưa có thương lái nào có xe tải lạnh. Bên cạnh đó, sự tiếp cận hệ thống thông tin còn rất yếu, chỉ có 3,3% thương lái là có tiếp cận internet. Bảng 2.9: Các loại phương tiện của thương lái Loại phương tiện Có (%) 1. Xe tải thường 53,33 2. Xe tải lạnh 0,00 3. Xe máy 93,33 4. Thuyền, ghe 0,00 5. Internet 3,33 6. Trang web 0,00 7. Kho lạnh 0,00 Nguồn: Kết quả từ điều tra 2.2.1.3 Chủ vựa Chủ vựa thật ra là những thương lái lớn hơn về quy mô và có phạm vi hoạt động rộng lớn hơn và khách hàng chính là những công ty xuất khẩu và thương lái khác, chợ đầu mối trong nước. Trư ờng Đạ i họ c K nh t ế H uế 49 Số lượng chủ vựa với quy mô 600 tấn/năm trở lên thì khu vực Chợ Gạo không nhiều, chỉ có 5-6 người. Với lượng vốn đòi hỏi quá lớn để mua hàng, vì vậy việc trở thành các chủ vựa là không phải dễ dàng với nhiều thương lái. Tuy vậy, ở Tiền Giang cũng đã có một số vựa rất lớn với quy mô thu mua 2.500 tấn/năm. Hoạt động của các chủ vựa cũng đa dạng hơn thương lái. Các chủ vựa không chỉ kinh doanh thanh long mà họ còn buôn bán các sản phẩm khác như xoài, me, chuối, đu đủViệc đa dạng kinh doanh sẽ giúp họ có những bạn hàng rộng hơn và có thêm những nguồn thu nhập khác nhau. Bảng 2.10: Một số chỉ tiêu so sánh chủ vựa - thương lái Chỉ tiêu Chủ vựa Thương lái Lượng thu mua thanh long 500-1000 tấn/năm 100-200 tấn/năm Lao động thường xuyên 10 4-5 Lao động thời vụ 20-30 10-15 Yêu cầu vốn Rất lớn Trung bình Nhà cung cấp chủ yếu Thương lái Nhà vườn Người mua chủ yếu Công ty xuất khẩu Chủ vựa Hoạt động kinh doanh Thanh long + hoa quả, sản phẩm khác Khá tập trung vào thanh long Phạm vi hoạt động Quốc gia Trong tỉnh Nguồn: Kết quả từ điều tra 2.2.1.4 Công ty xuất khẩu Thanh long được tiêu thụ trên thị trường ở dạng trái tươi và tiêu thụ dưới 2 hình thức: tiêu thụ nội địa (khoảng 15 - 20% sản lượng) và xuất khẩu (khoảng 80 - 85% sản lượng). Trái thanh long đã được xuất khẩu chính ngạch đến 14 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới; bao gồm Châu Á (Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan,..), Châu Âu (Hà Lan, Anh, Pháp, Đức), Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 50 Châu Mỹ (Canada, Hoa Kỳ). Thị trường tiêu thụ chủ yếu vẫn là các nước Châu Á (đặc biệt là Trung Quốc); việc mở rộng thị trường tại khu vực Châu Âu, Châu Mỹ vẫn gặp nhiều khó khăn do vận chuyển xa, bảo quản lâu dài khó khăn, công tác xúc tiến, quảng bá chưa mạnh, do rào cản kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, tại thị trường Châu Mỹ thì Việt Nam cũng phải chịu sự cạnh tranh của một số nước khác như Colombia, Mexico, Nicaragua. Hiện nay ở Tiền Giang (và vùng Long An lân cận) cũng có một vài công ty xuất khẩu thanh long trực tiếp như Long Việt, Hoàng Huy, VinaGreen. Bên cạnh những công ty xuất khẩu của tỉnh thì hiện nay phần lớn lượng thanh long của tỉnh được các doanh nghiệp trên thành phố Hồ Chí Minh thu mua qua chủ vựa, thương lái để xuất khẩu là chủ yếu. Những doanh nghiệp xuất khẩu này không chỉ xuất khẩu thanh long mà họ còn tham gia xuất khẩu một số trái cây khác như xoài, chôm chôm, nhãn, bưởi, Sự phát triển thị trường phụ thuộc rất lớn vào các công ty xuất khẩu. Gần đây các công ty xuất khẩu đã đẩy mạnh việc xuất khẩu sang các thị trường lớn hay những thị trường yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc. Tuy nhiên do những yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao và hơn nữa do chi phí vận chuyển khá lớn nên thị phần xuất khẩu sang những nước này vẫn còn rất khiêm tốn. Cũng đã có những hiện tượng thanh long của Việt Nam xuất sang những thị trường này đã bị loại bỏ do không đáp ứng được các tiêu chuẩn của họ nhất là những tiêu chuẩn liên quan đến dư lượng thuốc trừ sâu, có thành phần thuốc cấm (chủ yếu do dùng chất kích thích tăng trưởng), và do có chứa nấm gây hại cho sức khỏe. Chính vì vậy, việc truy xuất nguồn gốc thanh long trở nên rất quan trọng. 2.2.1.5 Các công ty chiếu xạ, gia nhiệt Hiện nay theo các nhà xuất khẩu thanh long thì chi phí chiếu xạ và gia nhiệt của Việt Nam quá đắt so với các nước khác. Chi phí chiếu xạ của một số nước khác rất rẻ, cụ thể như phí tại Thái Lan chỉ khoảng 24 cent/kg trong khi chi phí tại Việt Nam là 1 đô la Mỹ/kg. Trong khi chi phí xử lý nhiệt cũng còn khá cao khoảng 2 USD/1 kg (trước đây còn lên tới 3 USD/kg). Chi phí xử lý chiếu xạ và nhiệt cao Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 51 làm ảnh hưởng khả năng xâm nhập thanh long của Việt Nam vào các thị trường này. 2.2.1.6 Nhà cung cấp đầu vào: phân bón, thuốc trừ sâu Hàng năm, giá trị sản xuất nông nghiệp ở huyện Chợ Gạo tăng bình quân 6%. Nông nghiệp phát triển theo hướng phát huy lợi thế của các vùng sinh thái; trong đó duy trì ổn định vùng sản xuất nếp; phát triển vùng sản xuất chuyên canh cây thanh long, mở rộng diện tích xen canh ca cao trong vườn dừa; đồng thời phát huy hiệu quả một số diện tích chuyên canh màu và lúa thơm. Đối với các hộ trồng thanh long thì họ thường mua phân bón thuốc trừ sâu tại các đại lý trong xã/huyện. Đây là những đại lý mà hộ nông dân đã mua quen. Cũng có rất nhiều đại lý bán cho các hộ nông dân trả chậm. Tất nhiên nếu các hộ trả quá chậm thì các đại lý kinh doanh đầu vào sẽ phải yêu cầu hộ trồng thanh long trả lãi suất, tương đương với lãi suất ngân hàng. Phần lớn các nhà cung cấp đầu vào là các đại lý cấp 3 cho các công ty chuyên kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng. Một điều khá hạn chế là hầu hết các hộ kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu lại không có chuyên môn sâu về các lĩnh vực này. Hiện nay trong một xã cũng có vài đại lý cung cấp đầu vào và họ cũng là những người dân trong phạm vi xã, huyện. 2.2.1.7 Tổ hợp tác và Hợp tác xã Hiện nay, ở Tiền Giang có một tổ sản xuất thanh long Chợ Gạo có chứng nhận VietGAP. Ngày 09/3/2012, Công ty cổ phần Giám định và khử trùng FCC đã trao giấy chứng nhận VietGAP (thực hành nông nghiệp tốt) cho Tổ hợp tác sản xuất thanh long Chợ Gạo, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo. Tổ hợp tác sản xuất thanh long Chợ Gạo đã tham gia mô hình sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, dưới sự hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, thu hút được 21 hộ nông dân trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP, với diện tích 19,74 ha, sản lượng hàng năm 582,7 tấn; đã được Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu (Cục Bảo vệ thực vật) cấp mã số xuất khẩu thanh long sang thị trường Mỹ. Với chứng nhận VietGAP, các hộ sản xuất hy vọng có thị trường ổn định hơn, bán được Tr ờn Đạ i họ c K inh tế H uế 52 giá cao hơn. Tuy nhiên, thực tế không như những hộ sản xuất kỳ vọng. Phần phân tích về lợi ích - hiệu quả sản xuất thanh long sẽ trình bày rõ hơn vấn đề này. Hiện nay đã có một số ít hộ tham gia vào hai Hợp tác xã (ở xã Mỹ Tịnh An và xã Qươn Long) tuy nhiên hoạt động của hai Hợp tác xã này chưa hiệu quả. Theo khảo sát, thì có tới 75% số xã viên cho biết hầu như Hợp tác xã là không có tác dụng gì. Tín hiệu khả quan hơn đối với nhóm sản xuất theo VietGAP vì có tới 85% số hộ tham gia cho biết là có tác động tốt vì họ cho rằng khi tham gia họ được tập huấn, được hỗ trợ kỹ thuật. Đến thời điểm khảo sát thì hiện nay cả hai Hợp tác xã (ở xã Mỹ Tịnh An và xã Qươn Long) hầu như không hoạt động gì. 2.2.2 Sơ đồ chuỗi giá trị thanh long Chợ Gạo Hiện nay có hai kênh chủ yếu trong chuỗi giá trị: kênh xuất khẩu và kênh tiêu thụ trong nước. Nghiên cứu này tập trung sâu hơn vào nghiên cứu chuỗi giá trị phục vụ xuất khẩu (chiếm khoảng 80% lượng thanh long) hơn là tiêu thụ trong nước. Nghiên cứu hệ thống cung cấp thanh long xuất khẩu ở Chợ Gạo cho thấy kênh tiêu thụ chủ yếu là từ nhà vườn, đến thương lái, sau đó là chủ vựa và đến công ty xuất khẩu ở tỉnh và công ty xuất khẩu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn chung, theo kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 90% lượng thanh long từ nhà vườn được cung cấp trực tiếp cho các thương lái. Tuy nhiên cũng có tỷ lệ nhỏ cung cấp trực tiếp cho những chủ vựa (7%) và công ty xuất khẩu (2,5%). Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 53 Nhà vườn Thương lái Vựa trái cây Công ty thương mại, xuất khẩu Xuất khẩu Tiêu dùng nội địa 22.9% 0.5% 90% 5.4% 36% 40.6% 48.6% 7% 2.5% 15% 2% 77.1% Đại lý cung cấp phân bón, thuốc BVTV Công ty chiếu xạ, gia nhiệt cho thanh long XK Hợp tác xã, Tổ Hợp tác Nguồn: Kết quả từ điều tra Sơ đồ 2.3: Chuỗi giá trị thanh long Chợ Gạo Từ thương lái thì có sự phân phối đều hơn tới công ty xuất khẩu và vựa trái cây. Một số thương lái thì cung cấp cho các chủ vựa (chiếm gần 50% sản lượng thanh long) nhưng cũng có khoảng 36% lượng thanh long được sản xuất ra bán cho các công ty xuất khẩu tại Tiền Giang, Long An và công ty trên thành phố Hồ Chí Minh. Dù có sự phát triển mạnh về sản xuất trong những năm gần đây nhưng sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi chưa mạnh. Nhìn chung sự gắn kết giữa công ty xuất khẩu và người sản xuất còn rất yếu. Các công ty xuất khẩu chưa xây dựng những vùng nguyên liệu cho mình mà chủ yếu thu mua thông qua trung gian. Liên kết giữa thương lái và người sản xuất chặt chẽ hơn do quan hệ làm ăn lâu năm và rất nhiều thương lái là những người trong xã. Theo kết quả khảo sát, thì có 55% số nhà vườn có ký hợp đồng với thương lái và chủ vựa. Tuy nhiên chủ yếu Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 54 là hợp đồng miệng và có thời gian hiệu lực trong thời gian ngắn. Trước khi thanh long thu hoạch khoảng 5-7 ngày, thương lái đi qua và đàm phán giá cả sau đó đặt cọc tiền mua. Do tính pháp lý không chặt chẽ nên có nhiều khi nhà vườn tự phá vỡ hợp đồng và có nhiều khi người mua tự phá vỡ hợp đồng và không có bên nào đứng ra giải quyết. Tuy nhiên, phần lớn các hộ đều bán cho một vài thương lái nhất định. Gần đây với sự phát triển thanh long ở Chợ Gạo thì cũng có khá nhiều thương lái hơn, kể cả những thương lái ngoài tỉnh. Sự phát triển này cũng có tác động tích cực với nhà vườn vì họ có thể có nhiều lựa chọn hơn. Tuy nhiên, việc làm ăn với những thương lái mới có thể cũng sẽ mang lại những rủi ro hơn. Không ít hộ đã bị những thương lái nợ kéo dài, hay bùng nợ. Bảng 2.11: Ký hợp đồng với người mua thanh long của nhà vườn Tần suất (trên tổng 80 hộ) Tỷ lệ (%) Hộ Có ký hợp đồng 44 55,0 Hộ Tự phá vỡ hợp đồng 8 18,2 Khách hàng phá vỡ hợp đồng 13 29,5 Nguồn: Kết quả từ điều tra Tuy nhiên theo khảo sát, thì có một số chủ vựa cũng có những hỗ trợ tích cực trong việc cho nhà vườn vay tiền để mở rộng sản xuất thanh long hay để mua phân bón đầu vào hoặc tạm ứng trước cho những mục đích khác. Một thương lái thường mua từ 20-30 nhà vườn. Chủ vựa thì có thể mua nhiều hơn, có thể hàng trăm hộ và hàng chục thương lái khác nhau. Tương tự liên kết giữa hộ và thương lái thì liên kết giữa chủ vựa và các công ty xuất khẩu trên cũng dựa trên từng lô hàng, hợp đồng phần nhiều cũng chủ yếu là hợp đồng miệng, thỏa thuận trên điện thoại. Sau khi đã thống nhất về lượng và giá thì các công ty sẽ chuyển tiền ứng trước cho chủ vựa và thương lái sau đó họ sẽ chuyển hàng lên và thanh toán sau. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 55 Trong liên kết theo chiều dọc thì liên kết giữa các công ty xuất khẩu và nhà nhập khẩu là có những rằng buộc khá chặt chẽ nhất về mặt giấy tờ. Điều này cũng dễ hiểu vì các nhà nhập khẩu từ các nước khác đến và sự rủi ro sẽ là rất cao nếu không cẩn thận. Một số công ty của Việt Nam đã bị doanh nghiệp nước ngoài bùng nợ không trả tiền sau khi đã lấy hàng. Việc này xảy ra khá thường xuyên và nó đã làm nhiều chủ vựa phá sản trong thời gian vừa qua. Nhìn chung hiện nay sự liên kết trong chuỗi là không chặt chẽ và nhất là giữa nhà xuất khẩu với người sản xuất. Do đó, việc kiểm soát chất lượng của nhà xuất khẩu đối với thanh long là bị hạn chế. Hiện nay do yêu cầu của một số thị trường như Mỹ, Nhật hay EU thì các nhà xuất khẩu bắt buộc phải gia nhiệt hay chiếu xạ. Tuy nhiên những chi phí này còn rất lớn và dịch vụ này chưa phát triển mạnh, tập trung chủ yếu ở một vài công ty trên thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay cũng bắt đầu có một vài công ty muốn tự phát triển theo mô hình khép kín từ khâu sản xuất đến xuất khẩu để có thể kiểm soát chất lượng sản phẩm của công ty xuất khẩu (Good Life, Hoàng Hậu, Rồng đỏ). Nhìn chung, những liên kết dọc trong chuỗi thanh long còn chưa chặt chẽ. Liên kết ngang (giữa những nhà vườn, thương lái, hay những nhà xuất khẩu) cũng không có gì hơn. Hiện nay đã có một số ít hộ tham gia vào hai Hợp tác xã (ở xã Mỹ Tịnh An và xã Qươn Long), tuy nhiên hoạt động của hai Hợp tác xã này chưa hiệu quả. Theo khảo sát, thì có tới 75% số xã viên cho biết hầu như Hợp tác xã là không có tác dụng gì. Tín hiệu khả quan hơn đối với nhóm sản xuất theo VietGAP vì có tới 85% số hộ tham gia cho biết là có tác động tốt vì họ cho rằng khi tham gia họ được tập huấn, được hỗ trợ kỹ thuật. Tuy nhiên cũng có 15% số hộ cho biết là không hiệu quả vì họ đã phải thay đổi áp dụng nhiều kỹ thuật (sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu), chấp hành tiêu chuẩn VietGAP (không được chăn nuôi thả trên khu vực canh tác thanh long) nhưng giá bán thanh long theo chuẩn VietGAP và thanh long khác vẫn không cao hơn. Thậm chí có đôi khi còn thấp hơn do trái thanh long theo VietGAP không bóng, và không to bằng thanh long thường do sử dụng chất kích thích tăng trưởng ít hơn. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 56 Bảng 2.12: Tham gia của các tổ chức của nhà vườn Các tổ chức Có tham gia Đánh giá (%) Có tác động tốt Bình thườngKhông hiệu quả Hiệp hội trái cây VN 3,6 60,0 40,0 Nhóm sản xuất theo VietGAP 40,7 85,0 15,0 Tổ hợp tác/HTX 53,6 25,9 29,6 44,4 Hội làm vườn 7,6 25,0 31,3 43,8 Hội nông dân 22,4 55,6 14,8 29,6 Nguồn: Kết quả từ điều tra Mặc dù không có sự hỗ trợ nhiều từ thương lái hay công ty xuất khẩu, nhưng các nhà vườn cũng có những sự hỗ trợ từ các nhà cung cấp đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu. Theo khảo sát, thì có tới gần 85% nhà vườn được mua phân bón (là chủ yếu) và 30% thuốc trừ sâu trả chậm. Tỷ lệ mua thuốc trừ sâu trả chậm ít hơn so với phân bón do lượng chi phí cũng không nhiều. Có nhiều hình thức trả chậm khác nhau nhưng nhìn chung thì các nhà vườn sẽ không phải chịu lãi trong khoảng 1-2 tuần đầu và sau đó sẽ tính lãi suất ngang với lãi suất ngân hàng. Thời gian vay có thể 1 tháng, 2 tháng hay 3 tháng. 84.8 30.2 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 Tỷ lệ mua phân bón trả chậm Tỷ lệ mua thuốc BVTV, tăng trưởng trả chậm Nguồn: Kết quả từ điều tra Biểu đồ 2.13: Tỷ lệ hộ mua phân bón, thuốc trả chậm Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế 57 Do phát triển sau nên các hoạt động gắn kết giữa các tác nhân trong chuỗi kể cả liên kết dọc và ngang ở Tiền Giang vẫn còn rất yếu. Hơn nữa việc xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu cũng chưa được đẩy mạnh. Thương hiệu phải là đi sâu vào đối với khách hàng chứ không chỉ là đặt ra và đăng ký một cái tên như thanh long Chợ Gạo, thì chưa phải là thương hiệu. Việc liên kết ngang giữa các nhà sản xuất là rất quan trọng giúp đẩy mạnh liên kết dọc. Một trong những nguyên nhân mà công ty không ký hợp đồng trực tiếp với các nhà vườn là quy mô của họ khá nhỏ, manh mún, khó quản lý và không có tư cách pháp nhân. Với việc liên kết tốt các hộ sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ là tiền đề rất tốt cho việc thúc đẩy các liên kết giữa những tác nhân trong chuỗi. 2.2.3 Chi phí và lợi nhuận Giá trong năm biến động rất lớn, giai đoạn chính vụ giá thanh long thấp hơn hẳn và thường có xu hướng đạt mức cao nhất vào giai đoạn cuối năm. Việc biến động này có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định chăm bón và đầu tư

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphan_tich_chuoi_gia_tri_thanh_long_cho_gao_tinh_tien_giang_932_1912272.pdf
Tài liệu liên quan