Luận văn Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak pơ, tỉnh Gia Lai

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục chữ viết tắt

MỞ ĐẦU . 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI . 8

1.1.Một số khái niệm liên quan .8

1.2.Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới .20

1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.31

1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế

giới, một số địa phương trong nước và bài học rút ra cho huyện Đak Pơ, tỉnh gia lai.36

Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI. 43

2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Đak Pơ tác động

đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới .43

2.2. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.58

2.3. Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai .70

2.4. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đak Pơ,

tỉnh Gia Lai.71

2.5. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak Pơ,

tỉnh Gia Lai.80

Chương 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI. 86

3.1. Mục tiêu, phương hướng xây dựng nông thôn mới của huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai

đoạn 2018 -2020.86

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở

huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.96

3.3.Một số kiến nghị.107

KẾT LUẬN . 109

PHỤ LỤC SỐ LIỆU. 115

pdf133 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 422 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak pơ, tỉnh Gia Lai, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệu đồng; giảm Thuế thu nhập doanh nghiệp 121.210 triệu đồng; thực hiện cắt giảm 02 công trình thuộc nguồn vốn ngân sách huyện, với tổng số vốn 670 triệu đồng; các đơn vị dự toán cấp huyện, UBND các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc việc tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên, cắt giảm chi, thu hồi kinh phí chi thường xuyên để bổ sung kinh phí dự phòng theo quy định. + Tình hình huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển: 52 Trong 5 năm, tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn đạt 1.604,441 tỷ đồng (trong đó, vốn ngân sách nhà nước 204,263 tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ 12,666 tỷ đồng, vốn tín dụng Nhà nước 3,471 tỷ đồng, vốn của nhân dân và doanh nghiệp tư nhân 1.384,041 tỷ đồng); Từ các nguồn Trung ương, tỉnh, cùng với nguồn ngân sách phân cấp cho huyện đầu tư cho các chương trình, dự án đầu tư đều được triển khai thực hiện có hiệu quả, tiêu biểu như Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134), Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (chương trình 135)..., qua đó đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cải thiện đời sống vật chất của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo giữa các vùng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng được ổn định. - Lĩnh vực văn hóa - xã hội: + Giáo dục và đào tạo: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng được quan tâm, trong 5 năm, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, huyện đã đầu tư nâng cấp và xây thêm mới nhiều phòng học, phòng chức năng, nhà hiệu bộ và các hạng mục phụ của các trường; đầu tư hàng tỷ đồng để mua sắm trang thiết bị dạy học; từng bước đưa tin học và ngoại ngữ vào dạy ở các trường tiểu học; chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện học tập cho mọi học sinh để phổ cập giáo dục bậc tiểu học đúng độ tuổi, trung học cơ sở, trung học phổ thông, từ năm 2012 đến 2017, kết quả kỳ thi trung học phổ thông trong các năm học bình quân đạt tỷ lệ 88,7%, hệ bổ túc trung học phổ thông đạt 41,2%; các phong trào thi đua của ngành được triển khai sâu rộng, hiệu quả, được sự hưởng ứng tích cực của cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh. Năm 2017, toàn huyện 53 có 25 trường học với 8.698 học sinh; duy trì kết quả phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; có 99,8% trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo; phấn đấu có 13 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 52% tăng 12 trường so với năm 2012. + Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao: Các thiết chế văn hóa được đầu tư theo hướng xã hội hóa; hoạt động thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên, rộng khắp; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, năm 2017, toàn huyện có 77,83% gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”; 72,6% thôn, làng được công nhận “Thôn (làng) văn hóa”, tăng 32,87% so với năm 2012. Phương tiện nghe, nhìn trong dân ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân trên địa bàn. + Công tác an sinh xã hội, chăm sóc người có công, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm: Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định các chế độ đối với đối tượng chính sách, người có công, bảo trợ xã hội trên địa bàn; cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các đối tượng đã nỗ lực vươn lên bằng sức lao động của mình để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống gia đình. Công tác giảm nghèo được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện với nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020) toàn huyện giảm còn 9,8%, mức giảm bình quân hàng năm là 3,96%. Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, bình quân hàng năm giải quyết việc làm mới cho 1.254 đối tượng, tỉ lệ lao động qua đào tạo năm 2017 đạt 34,54%, tăng 5,83 % so với năm 2012. Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, trong giai đoạn 2012-2017, huyện đã tổ chức dạy nghề cho 1.345 54 lao động nông thôn là hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. + Công tác Y tế Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường đầu tư. Đến cuối năm 2017, Trung tâm y tế huyện có quy mô 50 giường bệnh, 08 Trạm y tế xã, thị trấn có 40 giường bệnh và 73 y tế thôn, làng hoạt động; chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao. Song song với khám, chữa bệnh là phòng chống dịch bệnh trên địa bàn huyện được triển khai thường xuyên theo định kỳ. Năm 2017, huyện có 4,77 bác sỹ/vạn dân, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 72,04%; tỷ lệ trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ từ 37,5% năm 2012 tăng lên 50% năm 2017; có 98% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ liều; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15,12%; 6/8 Trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí mới đạt 75%. Từ khi có Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị và Quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm thường xuyên đến công tác BHXH, BHYT; đã đưa chỉ tiêu phát triển BHXH, BHYT vào Nghị quyết của cấp ủy và kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội hằng năm của địa phương, tiêu chí các xã xây dựng nông thôn mới, gắn việc phân loại thi đua hoàn thành các chỉ tiêu thực hiện BHXH, BHYT đối với các đơn vị trong ngành Giáo dục. + Công tác dân tộc, tôn giáo: Trên địa bàn huyện Đak Pơ có 16 dân tộc anh em sinh sống với tổng dân số huyện 41.953, đồng bào dân tộc thiếu số chiếm 23,45%; là huyện thuần nông, trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, tỷ lệ người dân sống ở khu vực nông thôn chiếm trên 80%. Trong giai đoạn 2012 - 2017, từ các chương trình, dự án như Chương 55 trình 134, Chương trình 135, Chương trình 167, Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, chính sách trợ cước, trợ giá, cấp không các mặt hàng chính sách đã giúp cho người dân trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận với các nguồn vốn để ổn định chỗ ở, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Chính sách định canh – định cư theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg, Quyết định số 1776/QĐ-TTg: đã hỗ trợ cho 86 hộ gia đình với 1.586 triệu đồng giúp đồng bào DTTS ổn định chỗ ở, cải thiện cuộc sống. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 04 tôn giáo đang hoạt động là Công giáo, Phật giáo, Cao Đài và Tin lành, 06 cơ sở thờ tự và 01 điểm nhóm Tin lành. Tổng số tín đồ các tôn giáo là 5.293 người (chiếm 13% dân số toàn huyện). Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo được thực hiện đúng quy định của pháp luật; các chức sắc và tín đồ tôn giáo luôn tin tưởng và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng bào các tôn giáo sống gắn bó, đoàn kết, tham gia tích cực vào các phong trào do chính quyền và các tổ chức đoàn thể nhân dân phát động, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội tại địa phương. + Công tác ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất: Giai đoạn 2012- 2017, hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) trên địa bàn đã đạt những kết quả nhất định, nhiều đề án khoa học công nghệ được triển khai thực hiện, nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, đã từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Từ năm 2012 đến năm 2017 trên địa bàn huyện đã thực hiện 07 dự án ứng dụng tiến bộ KHCN vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng kinh phí là 56 1.376,792 triệu đồng (trong đó vốn dân đóng góp là 920,092 triệu đồng, nguồn ngân sách tỉnh là 456,7 triệu đồng). - Công tác tài nguyên, môi trường: Công tác quản lý, sử dụng đất đai ngày một chuyển biến tích cực và đi vào nề nếp. Tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân đạt tỷ lệ 82,35% diện tích đủ điều kiện cấp giấy; hệ thống bản đồ, hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai từng bước được cập nhật, hoàn thiện; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cấp huyện và cấp xã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đã phân bố hợp lý quỹ đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện; việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã, cấp huyện cơ bản hoàn thiện. [27] 2.1.2.2. Những hạn chế, tồn tại của tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đak Pơ - Những hạn chế, tồn tại: Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, tuy nhiên sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, tự phát và chịu tác động nhiều bởi các yếu tố khách quan như: chi phí đầu tư tăng, giá bán các sản phẩm từ nông nghiệp không ổn định, biến đổi thời tiết, khí hậu đã làm ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sản xuất chưa gắn với chế biến, tiêu thụ, phần lớn các sản phẩm nông nghiệp chỉ bán thô, chưa qua sơ chế, chưa được bao tiêu. Các công trình thủy lợi chủ yếu nhỏ lẻ, chưa chủ động được nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp; công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm; tình trạng phát rừng làm rẫy còn diễn ra. Một số tiêu chí thuộc CTMTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 57 huyện còn chậm hoàn thành một số tiêu chí: xây dựng kết cấu hạ tầng; thu nhập bình quân đầu người. Sản xuất công nghiệp còn nhỏ lẻ, rải rác; tuy huyện đã có quy hoạch cụm công nghiệp nhưng kết cấu hạ tầng chưa hoàn thiện nên chưa có doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh; khả năng đóng góp của ngành công nghiệp cho thu ngân sách trên địa bàn thấp. Trong những năm qua, mặc dù huyện đã quan tâm đầu tư nhiều cho ngành Giáo dục để hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, tuy nhiên cơ sở trường lớp, trang thiết bị của ngành chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển; chất lượng giáo dục giữa các vùng chưa đồng đều; tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao. Các thiết chế về văn hoá chưa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân; công tác thông tin, tuyên truyền có lúc, có nơi chưa sinh động, phù hợp. Thu nhập và đời sống của nhân dân tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn khó khăn; số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hộ nghèo trên địa bàn huyện và nguy cơ tái nghèo lớn. Trang thiết bị y tế tuy được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ; tỷ lệ bác sỹ/vạn dân còn thấp; dân cư nằm rải rác và nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế nên công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh còn gặp khó khăn; công tác quản lý nhà nước về y tế còn nhiều bất cập. Công tác cải cách thủ tục hành chính tuy được chỉ đạo triển khai quyết liệt nhưng có lúc, có nơi cán bộ, công chức thực hiện chưa nghiêm, còn gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định; tình hình vi phạm pháp luật trong lứa tuổi thanh thiếu niên có 58 chiều hướng gia tăng; tai nạn giao thông và vi phạm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn huyện còn diễn biến phức tạp. - Nguyên nhân: Do ảnh hưởng tình hình suy giảm kinh tế, sự thay đổi các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô, sự biến động của giá cả hàng hóa, thị trường, hậu quả thiên tai, dịch bệnh... Là một huyện nghèo, trình độ dân trí của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, nguồn thu nhập chính chủ yếu từ nông nghiệp. Một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại chính sách trợ giúp của nhà nước không tự vươn lên thoát nghèo. Công tác huy động nguồn lực xã hội hóa rất hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách bổ sung từ cấp trên nên ảnh hưởng đến các chính sách chỉ đạo, điều hành của huyện. Thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của UBND huyện về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; công tác tham mưu, giúp việc còn chậm, chưa phù hợp tình hình chung. Việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại cơ sở chưa được thực hiện tốt, còn né tránh, đẩy lên cấp trên. Một số cán bộ, công chức chưa phát huy tinh thần trách nhiệm, còn hạn chế về năng lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân công. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong triển khai thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực đôi lúc thiếu chặt chẽ, đồng bộ. 2.2. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai 2.2.1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: tiêu chí số 1 - Quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới cấp xã được phê duyệt và công khai đúng thời hạn: Đã có 07/7 xã hoàn thành và được phê duyệt, 59 hiện đang thực hiện rà soát, bổ sung dự kiến hoàn thành trong năm 2017. - Ban hành quy định quản lý quy hoạch chung xây dựng xã và tổ chức thực hiện theo quy hoạch: đã có 07/7 xã thực hiện. - Chưa thực hiện được việc cắm mốc chỉ giới theo quy hoạch. - 07/7 xã đã đạt được 02/3 nội dung so với tiêu chí 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM, tỷ lệ 66,7%. 2.2.2. Về Hạ tầng kinh tế - xã hội: gồm 8 tiêu chí, từ Tiêu chí số 2 đến Tiêu chí số 9. 2.2.2.1. Tiêu chí số 2 - Giao thông - Hiện trạng và thống kê chiều dài các tuyến giao thông trên địa bàn các xã của huyện, bao gồm: + Tổng số Km đường trục xã; đường trục thôn, xóm; đường ngõ, xóm và đường trục chính nội đồng: 465,248 km. + Tổng số cầu, cống, ngầm, tràn trên đường trục xã, trục thôn, xóm; đường ngõ, xóm và đường trục chính nội đồng: Cầu 4/164 cái/md; Ngầm, tràn 4/80 cái/md. - Số km đường đã đạt chuẩn theo chuẩn nông thôn mới cho từng loại đường theo nội dung sau đây: + Đường trục xã, liên xã: Tổng số 74,87 km, số km nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn: 71,87 km; đạt 95,99 % so với tổng số; + Đường trục thôn, xóm: Tổng số 64,91 km, số km cứng hóa đạt chuẩn: 64,91 km; đạt 100 % so với tổng số; + Đường ngõ, xóm: Tổng số 68,92 km, số km sạch, không lầy lội vào mùa mưa: 68,92 km, đạt 100 % so với tổng số, số km cứng hóa: 59,86 km, đạt 86,85% so với tổng số; + Đường trục chính nội đồng: Tổng số 256,548km; số km được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện: 185,64km, đạt 72,36% so với tổng số. 60 - Thực trạng công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng hệ thống đường giao thông nông thôn và sự tham gia của cộng đồng dân cư: Thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, đảm bảo “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi”, trong xây dựng nông thôn mới chính quyền các cấp thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực cùng tham gia làm đường giao thông nông thôn, đóng góp công sức vào việc quản lý, bảo vệ đường giao thông nông thôn, tham gia tu sửa các đoạn đường thường xuyên hư hỏng Tuy nhiên, kinh tế của huyện còn chưa phát triển, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đời sống kinh tế nhiều khó khăn; do vậy việc đóng góp vào thực hiện duy tu bảo dưỡng các công trình giao thông còn hạn chế, chủ yếu bằng ngày công lao động. - Đánh giá mức độ đạt của tiêu chí: + Đối với cấp huyện: Cơ bản đạt so với Tiêu chí. + Đánh giá đến hiện tại, toàn huyện có 06/7 xã đạt tiêu chí giao thông (xã Tân An chưa đạt nội dung đường nội đồng), dự kiến sẽ đạt tiêu chí giao thông vào năm 2018. 2.2.2.2. Tiêu chí số 3 - Thủy lợi Trên địa bàn 7 xã có 19 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, bao gồm 05 hồ, 06 đập, 06 bàu chứa lớn, 02 trạm bơm điện với hệ thống kênh mương 24,7 km. Diện tích tưới theo thiết kế là 425,5 ha; diện tích thực tưới là 413,8 ha, đạt 97% năng lực thiết kế. - Tổng số km kênh mương do xã quản lý: 28,64km, đã kiên cố hóa 17,51 km, đạt tỷ lệ 61,13%. - Thực trạng công tác quản lý các công trình thủy lợi, có sự tham gia của người dân: + Công tác vận hành, điều tiết nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn: Toàn huyện có 01 hợp tác xã, 02 tổ hợp tác hoạt động trong công 61 tác thủy lợi, có kế hoạch tưới cụ thể theo từng vụ, đảm bảo nhu cầu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp. + Công tác duy tu, bảo dưỡng và vận hành công trình, quản lý môi trường nguồn nước: Hàng năm, từ nguồn kinh phí sự nghiệp nông nghiệp huyện, phân bổ kinh phí cho các xã để thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng, đảm bảo công trình vận hành ổn định, hiệu quả. - Đánh giá mức độ đạt được so với Tiêu chí: + Cấp xã: 04/7 xã đạt tiêu chí thủy lợi, các xã chưa đạt bao gồm An Thành, Yang Bắc và Tân An (chưa đạt nội dung 3.1. Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt từ 80% trở lên). + Cấp huyện: chưa đạt. 2.2.2.3. Tiêu chí số 4 - Điện - Hệ thống cung cấp điện trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân. Tuy nhiên, vẫn tồn tại tình trạng một số hộ dân đang sử dụng đường dây điện tự thiết kế, gây thất thoát điện và mất an toàn kỹ thuật. - Số hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn và tỷ lệ hộ được dùng điện thường xuyên, an toàn: 8.490 hộ, đạt 99,24%. - Đánh giá mức độ đạt được so với Tiêu chí: + 100% các xã đạt tiêu chí số 4. + Cấp huyện: Đạt so với nội dung tiêu chí. - Mục tiêu: Đến năm 2020, tỷ lệ hộ được dùng điện thường xuyên, an toàn đạt 100%. 2.2.2.4. Tiêu chí số 5 - Trường học - Tổng số phòng học theo từng bậc học: + Mầm non: Tổng số 79 phòng, trong đó: 62 phòng học kiên cố, 8 phòng học bán kiên cố; 9 phòng chức năng. 62 + Tiểu học: Tổng số 145 phòng, trong đó: 96 phòng học kiên cố, 45 phòng học bán kiên cố; 4 phòng chức năng. + Trung học cơ sở: Tổng số 91 phòng, trong đó: 72 phòng học kiên cố, 16 phòng học bán kiên cố; 3 phòng chức năng. - Tổng số trường học có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo các cấp: 04 trường mẫu giáo, tỷ lệ 57,14%; 04 trường tiểu học, tỷ lệ 80%; 04 trường THCS, tỷ lệ 80%. - Đánh giá mức độ đạt được so với Tiêu chí: + Có 04/7 xã đạt tiêu chí trường học. Còn 03 xã (An Thành, Yang Bắc, Ya Hội) chưa đạt. + Cấp huyện: có 12/20 trường đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 60%. + Dự kiến có thể đạt được Tiêu chí này trong năm 2019. 2.2.2.5. Tiêu chí số 6 - Cơ sở vật chất văn hoá - Thực trạng Nhà văn hóa và khu thể thao các xã trên địa bàn huyện, cụ thể: + Tổng số xã đã có nhà văn hóa xã: 07; tổng số xã có nhà văn hóa xã đã đạt chuẩn NTM: 06 (Tân An, Cư An, Hà Tam, Phú An, Yang Bắc, An Thành); tổng số xã có nhà văn hóa xã nhưng chưa đạt chuẩn: 01 (Ya Hội). + Tổng số xã đã có khu thể thao xã: 06/7 xã (xã Yang Bắc chưa có); Tổng số xã có khu thể thao xã đã đạt chuẩn NTM: 4; Tổng số xã có khu thể thao xã nhưng chưa đạt chuẩn: 2 (An Thành, Ya Hội); Tổng số xã thiếu khu thể thao xã: 01. + Hiện trạng nhà văn hóa và khu thể thao xã: Sử dụng chung hội trường của xã để tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ; có sân cỏ đơn giản có thể tổ chức các hoạt động thể thao đơn giản; chưa đảm bảo các điều kiện theo quy định. + So sánh mức độ đạt được so với Bộ tiêu chí: Có 04/7 xã cơ bản đạt 63 nội dung nhà văn hóa và khu thể thao xã. Từ nay đến năm 2020, phấn đấu đạt chuẩn tại 03 xã còn lại (An Thành, Yang Bắc, Ya Hội). - Thực trạng điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định: + Có 02/7 xã có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định. + Dự kiến đến 2018, toàn huyện đạt nội dung này. - Thực trạng Nhà văn hóa và khu thể thao thôn trên địa bàn các xã: +Tổng số thôn đã có nhà văn hóa: 65; Tổng số thôn có nhà văn hóa đã đạt chuẩn NTM: 57; Tổng số thôn có nhà văn hóa nhưng chưa đạt chuẩn: 8. + Tổng số thôn đã có khu thể thao: 65; Tổng số thôn có khu thể thao đã đạt chuẩn NTM: 57; Tổng số thôn có khu thể thao xã nhưng chưa đạt chuẩn: 8. + So sánh mức độ đạt được so với Bộ tiêu chí: 06/7 xã đạt nội dung nhà văn hóa và khu thể thao thôn. Xã Yang Bắc dự kiến đạt trong năm 2018. 2.2.2.6. Tiêu chí số 7 – Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn - Hiện trạng cơ sở hạ tầng và hoạt động các chợ trên địa bàn huyện: Tổng số xã đã có chợ: 2; Tổng số xã có chợ đạt chuẩn: 2; Tổng số xã chưa có chợ: 5 xã, nhưng có điểm mua bán trao đổi hàng hóa và không có nhu cầu về chợ trong giai đoạn 2016-2020. - So sánh mức độ đạt được so với Tiêu chí: Đạt. 2.3.2.7. Tiêu chí số 8 – Thông tin và truyền thông - Hiện trạng các điểm phục vụ bưu chính viễn thông trên địa bàn huyện: + Tổng số xã có bưu điện: 7; Tổng số xã có bưu điện đạt chuẩn: 7. + Tổng số thôn có điểm truy cập internet công cộng: 09, đạt tỷ lệ 64 13,84%. Tuy nhiên, 65/65 thôn, làng đều được phủ sóng 3G, phần lớn người dân đều có thể truy cập được Internet trên thiết bị di động. - Hiện trạng đài truyền thanh và tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành: + 03/7 xã có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn. Còn lại 04 xã dự kiến sẽ được đầu tư trạm truyền thanh hoàn chỉnh vào năm 2019. + 07/7 xã đáp ứng được yêu cầu sử dụng máy tính và sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ để giải quyết công việc; có trang thông tin điện tử thành phần trên thông tin điện tử của huyện. - So sánh mức độ đạt được so với Tiêu chí: 03/7 xã đạt Tiêu chí số 8. 2.2.2.8. Tiêu chí số 9 - Nhà ở dân cư - Hiện trạng về nhà ở dân cư nông thôn trên địa bàn huyện: + Tổng số hộ có nhà đạt chuẩn: 7.039; tỷ lệ 82,28%. + Tổng số hộ còn nhà tạm, dột nát: 242; tỷ lệ 2,82%. - So sánh mức độ đạt được so với Tiêu chí: + Toàn huyện có 82,28% số nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng; 4 xã đã xóa nhà tạm, dột nát; 03 xã vẫn còn nhà tạm, dột nát. - Dự kiến hoàn thành việc xóa bỏ nhà tạm, dột nát vào năm 2020. 2.2.3. Kinh tế và tổ chức sản xuất 2.2.3.1. Tiêu chí số 10 - Thu nhập - Tình hình sản xuất trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 trên các lĩnh vực: Trồng trọt tập trung vào cây mía, cây mỳ, rau các loại và phát triển theo hướng liên kết sản xuất hàng hóa, cánh đồng lớn gắn với bao tiêu sản phẩm đầu ra; từng bước sản xuất theo quy trình VietGAP, xây dựng nhãn hiệu nông sản. Đầu tư chăn nuôi thâm canh, phát triển theo hướng gia trại, trang trại, liên kết bao tiêu sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái. 65 - Tổng số xã đạt chuẩn tiêu chí: 04 xã. - 03 xã (Yang Bắc, An Thành, Ya Hội) có thu nhập bình quân dưới mức yêu cầu của tiêu chí. - Đây là một tiêu chí khó đối với các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Ở các xã chưa đạt tiêu chí này, cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, giao thông không thuận tiện, dân trí thấp, do đó kinh tế và đời sống nhân dân còn rất khó khăn. Trong những năm qua, UBND huyện đã đẩy mạnh công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần đạt tiêu chí thu nhập vào năm 2020. 2.2.3.2. Tiêu chí số 11 - Hộ nghèo - Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn nông thôn huyện theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020, thời điểm cuối năm 2017 như Bảng 2.2. Bảng 2.2: Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn nông thôn huyện cuối năm 2017 STT Đơn vị Số hộ nghèo Tỷ lệ 1 Xã Hà Tam 68 6,92 2 Xã An Thành 207 30,2 3 Xã Tân An 127 4,65 4 Xã Cư An 97 6,02 5 Xã Phú An 79 6,95 6 Xã Yang Bắc 296 28,93 7 Xã Ya Hội 266 46,58 (Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện) - Tổng số xã đạt chuẩn tiêu chí: 04 xã (Hà Tam, Tân An, Cư An, Phú 66 An). - 03 xã chưa đạt tiêu chí (An Thành, Yang Bắc, Ya Hội). - Hiện tại, công tác an sinh xã hội, đặc biệt là với các đối tượng thuộc hộ nghèo đang là một trong những vấn đề được chú trọng nhất hiện nay. Cùng với việc lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác, dự kiến đến năm 2020, 07 xã sẽ đạt được tiêu chí. 2.2.3.3. Tiêu chí số 12 – Lao động có việc làm - Tổng số dân trong độ tuổi lao động trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới năm 2017 là 22.609 người; tổng số lao động có việc làm thường xuyên là 21.304 lao động, đạt tỷ lệ 94,23%. - Tổng số xã đạt tiêu chí: 7/7 xã. Bảng 2.3: Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm STT Đơn vị Tỷ lệ 1 Xã Hà Tam 95,91 2 Xã An Thành 90,7 3 Xã Tân An 96 4 Xã Cư An 96 5 Xã Phú An 93,64 6 Xã Yang Bắc 95 7 Xã Ya Hội 90,14 (Nguồn:Phòng lao động thương binh xã hội huyện) 2.2.3.4. Tiêu chí số 13 - Tổ chức sản xuất - Các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 tuy có hoạt động thường xuyên nhưng hiệu quả không cao, không ổn định, chưa phát huy được vai trò liên kết. - Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Hợp tác xã năm 2012: 02/7 xã. 67 - Tổng số xã có liên kết trong sả

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_xay_dung_nong_thon_moi_o_huyen.pdf
Tài liệu liên quan