Luận văn Quản lý tổ trưởng chuyên môn tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

MỤC LỤC

Lời cảm ơn .3

Danh mục từ viết tắt.4

Danh mục các bảng .8

Danh mục các sơ đồ .10

MỞ ĐẦU .1

CHưƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔ TRưỞNG CHUYÊN

MÔN TẠI TRưỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ .5

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề .5

1.2. Các khái niệm cơ bản.7

1.2.1. Quản lý .7

1.2.2 .Quản lý giáo dục .9

1.2.3. Quản lý nhà trường .11

1.2.4. Quản lý nhà trường THCS .13

1.2.5. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn và quản lý tổ trưởng chuyên môn .15

1.3. Tổ chuyên môn và TTCM trường Trung học cơ sở.16

1.3.1. Tổ chuyên môn trường THCS trong bối cảnh hiện nay .16

1.3.2. Tổ chuyên môn trường THCS và vấn đề đổi mới sinh hoạt tổ

chuyên môn đáp ứng với yêu cầu hiện nay.18

1.3.3. Tổ trưởng chuyên môn trường THCS.19

1.4. Hiệu trưởng trường THCS và quản lý tổ trưởng chuyên môn.24

1.4.1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trường THCS .24

1.4.2. Những yêu cầu đặt ra cho việc Hiệu trưởng trường THCS quản lý tổ

trưởng chuyên môn trong giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay .26

1.5. Nội dung quản lý tổ trưởng chuyên môn .27

1.5.1. Quy hoạch và tuyển chọn đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn.28

1.5.2. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổ trưởng chuyên môn theo năm học .28

1.5.3. Đánh giá và tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực

quản lý cho Tổ trưởng chuyên môn.30

1.5.4. Tạo môi trường phát triển đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn .30

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tổ trưởng chuyên môn

của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở .31

1.6.1. Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý.31

1.6.2. Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lý .32

1.6.3. Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý .33

Kết luận chương 1 .34CHưƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TỔ TRưỞNG CHUYÊN MÔN

TẠI CÁC TRưỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG .35

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, dân cư của huyện Lục

Nam, tỉnh Bắc Giang.35

2.1.1. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Lục

Nam, tỉnh Bắc Giang .35

2.1.2. Khái quát về tình hình phát triển giáo dục huyện Lục Nam, tỉnh

Bắc Giang.36

2.2. Thực trạng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn của các trường trung học

cơ sở trên địa bàn huyện Lục Nam.41

2.2.1. Thực trạng về số lượng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn .41

2.2.2. Thực trạng về cơ cấu đội ngũ tổ trưởng chuyên môn .42

2.2.3. Thực trạng về chất lượng đội ngũ TTCM, tổ phó, nhóm trưởng

chuyên môn trên địa bàn huyện Lục Nam .43

2.2.4. Nghiên cứu trường hợp điển hình 3 trường đại diện cho các vùng

đặc trưng trên địa bàn huyện Lục Nam.51

2.3. Thực trạng quản lý tổ trưởng chuyên môn tại các trường trung học

cơ sở trên địa bàn huyện Lục Nam.54

2.3.1. Thực trạng về đánh giá và tuyển chọn đội ngũ tổ trưởng chuyên

môn tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam.55

2.3.2. Thực trạng về bổ nhiệm, miễn nhiệm tổ trưởng chuyên môn theo

năm học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam .57

2.3.3. Thực trạng đánh giá và tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn,

năng lực quản lý cho TTCM tại các trường THCS trên địa bàn huyện

Lục Nam.59

2.3.4. Thực trạng tạo môi trường phát triển đội ngũ tổ trưởng chuyên

môn tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam.63

2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý tổ trưởng chuyên môn

các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang .66

2.4.1. Nhóm các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý .66

2.4.2. Nhóm các yếu tố thuộc về khách thể quản lý .67

2.4.3. Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường quản lý.68

2.5. Đánh giá thực trạng quản lý tổ trưởng chuyên môn tại các trường

THCS trên địa bàn huyện Lục Nam.69

2.5.1. Mặt mạnh.692.5.2. Hạn chế, tồn tại .70

Kết luận chương 2 .72

CHưƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TỔ TRưỞNG CHUYÊN MÔN

TẠI CÁC TRưỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG .73

3.1. Định hướng đề xuất các biện pháp quản lý .73

3.1.1. Định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển Giáo dục & Đào tạo.73

3.1.2. Chiến lược phát triển giáo dục của huyện Lục Nam đến năm 2016

và định hướng đến năm 2020 .73

3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp.74

3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học .74

3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa.75

3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống.75

3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.75

3.2.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi.75

3.3. Các biện pháp quản lý TTCM tại các trường THCS trên địa bàn

huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.76

3.3.1. Kế hoạch hóa việc tuyển chọn, bổ nhiệm, phát triển đội ngũ TTCM.76

3.3.2. Tăng cường phát hiện, tạo nguồn để bổ nhiệm TTCM .79

3.3.3. Đổi mới quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao

năng lực quản lý cho đội ngũ TTCM.83

3.3.4. Xây dựng cơ chế đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ TTCM .90

3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất .92

3.5. Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và khả thi của các biện

pháp đề xuất.93

3.5.1. Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết.93

3.5.2. Khảo nghiệm nhận thức về tính khả thi.94

3.5.3. Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi.95

Kết luận chương 3 .99

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.104

pdf47 trang | Chia sẻ: phuongchi2019 | Lượt xem: 671 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý tổ trưởng chuyên môn tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ai chức năng kia. (4) Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hoạt động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ như sau: + Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động; + Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra; + Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; + Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. 1.2.2. Quản lý giáo dục Trong Việt ngữ, quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức 10 năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa. Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu và được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của các nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [15, tr. 9]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [32, tr. 35]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [30, tr. 135]. Các nhà quản lý giáo dục thực tiễn còn quan niệm rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [30, tr.16]. Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằmđẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội" [5, tr.10]. Tác giả Trần Kiểm khẳng định QLGD được phân chia thành hai cấp: quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Đối với cấp vĩ mô: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục". Đối với cấp vi mô: "Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập 11 thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường" [27, tr. 47]. Cũng như quản lý nói chung, QLGD là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Nhưng QLGD không đơn thuần là những tác động theo một hướng. QLGD là quản lý hoạt động dạy và hoạt động học, do đó những tác động của nó lên hệ thống phải là những tác động kép. Tác động lên hoạt động dạy, đồng thời chuyển hoá hoạt động dạy thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục, và chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phải điều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến hoạt động giáo dục và đào tạo. Các quan điểm trên tuy có sự diễn đạt khác nhau, nhưng đều toát lên bản chất của QLGD đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hệ quả mục tiêu giáo dục đề ra. Trong đó: - Chủ thể quản lý: Bộ máy QLGD các cấp - Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân với yếu tố cơ bản là hệ thống các trường học. - Các thành tố: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; lực lượng giáo dục (người dạy); đối tượng giáo dục (người học); phương tiện giáo dục (điều kiện). Các quá trình giáo dục thường được diễn ra trong thời gian dài, những phẩm chất nhân cách của HS mà giáo dục đang đào tạo ngày nay phải đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại và tương lai khi người học đã rời ghế nhà trường. Các hiện tượng giáo dục bao giờ cũng là các hiện tượng đặc biệt phức tạp, chính vì vậy QLGD đòi hỏi vừa phải có tính cụ thể, vừa phải có tính toàn vẹn sâu sắc. 1.2.3. Quản lý nhà trường Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính chất nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trường học 12 là tế bào cơ sở của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Vì vậy, trường học nói chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp Quản lý, lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Với đặc điểm đó, việc Quản lý trường học vừa mang tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và xã hội cùng phối hợp chăm lo xây dựng và Quản lý nhà trường. Ưu tiên đặc biệt cho giáo dục; Quản lý nhà nước các cấp phải nắm mục đích tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các cán bộ khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [32; 42]. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [28; 10]. Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục, cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD&ĐT trong nhà trường” [42; 52]. Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở. Quản lý trường học là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống QLGD nói chung. Theo Phạm Minh Hạc, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận 13 hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh. Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh. Theo Trần Kiểm: Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội. Quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh). Do đó, có thể hiểu quản lý trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn. Xét về bản chất, quản lý con người trong nhà trường và tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người. 1.2.4. Quản lý nhà trường THCS Trường THCS thuộc cấp học đầu tiên trong bậc phổ thông. Nó là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong cộng đồng vì thế ta nói trường THCS là một tổ chức sư phạm - xã hội. Với tư cách là một tổ chức xã hội, trường THCS tham gia hoạt động trong một hệ thống nhất ở cấp xã, cấp quận, huyện, tham gia thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương. Trường THCS là đơn vị văn hóa đại diện trong cộng đồng, trường học như một trung tâm tái sản xuất văn hóa liên tục ở nơi nó hoạt động. Với tư cách là một tổ chức sư phạm, quản lý trường THCS phân biệt hẳn với mọi loại hình quản lý xã hội khác. Đó là bản chất sư phạm của quá trình giáo dục, trong đó, giáo viên học sinh, vừa là khách thể quản lý nhưng lại đồng thời là chủ thể 14 tự quản lý, bởi họ là những con người đang tham gia một hoạt động rất đặc thù là lấy nhân cách đào tạo nhân cách. Sản phẩm của hoạt động là nhân cách được tạo ra bao hàm cả tự đào tạo. Chính vì vậy, các mối quan hệ quản lý trong trường học mang bản chất dân chủ sâu sắc. Trường THCS đựơc coi như một hệ tự quản lý tiêu biểu, tính đặc thù của hoạt động quản lý trường THCS thể hiện tập trung ở hoạt động dạy và hoạt động học. Luật giáo dục năm 2005 Điều 28 có ghi: 1. Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học. Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật. Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp. Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh. 2. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Theo một số tác giả tính đặc thù của quản lý trường THCS phụ thuộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là: - Lao động của giáo viên được chuyên môn hoá cao. 15 - Đối tượng chủ yếu của lao động sự phạm là học sinh phần lớn từ 11 đến 15 tuổi. - Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần - là nhân cách người thầy. - Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn toàn tách bạch. - Mặt kinh tế là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực hiện mục tiêu đào tạo. Chính vì lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao cho nên quản lý chuyên môn trong trường THCS phải tổ chức theo các tổ chuyên môn, quản lý tổ chuyên môn là hoạt động quản lý đặc thù trong trường THCS. Tóm lại, quản lý trường học nói chung và quản lý trường THCS nói riêng là tổ chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho dạy học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo. Xét về bản chất, quản lý nhà trường là các cấp quản lý cần tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc giáo dục, đào tạo con người. 1.2.5. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn và quản lý tổ trưởng chuyên môn TCM là cấp quản lý đầu tiên hay quản lý cấp cơ sở trong nhà trường. TCM thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và thực hiện kế hoạt động chung của tổ, hướng dẫn và quản lý kế hoạch cá nhân của các tổ viên theo kế hoạch chung của nhà trường để đảm bảo chất lượng GD theo các mục tiêu đã đề ra. Ở đây cũng chính là nơi tiến hành các hoạt động đổi mới để nâng cao chất lượng DH của GV và chất lượng học tập của học sinh. Hoạt động TCM tốt giúp cho nhà trường nâng cao chất lượng dạy và học và ngược lại nếu hoạt động TCM kém hiệu quả chất lượng giảng dạy trong nhà trường sẽ gặp phải khó khăn. Quản lý hoạt động TCM trong nhà trường là một quá trình tác động từ khâu quy hoạch, kế hoạch phát triển các TCM trên cơ sở đó hình thành một hệ thống tổ “đội” công tác phù hợp, tiếp sau đó là việc quyết định bổ nhiệm các tổ trường TCM. Đội ngũ tổ trường TCM sẽ là lực lượng tham mưu, giúp Hiệu trưởng quản lý thành công các nhiệm vụ của tổ công tác. Các tổ trưởng TCM tiếp nhận và thực hiện các nhiệm vụ chỉ đạo của nhà trường theo tinh thần thực hiện nghiêm túc kế hoạch hoạt 16 động chung của nhà trường với trách nhiệm đảm bảo kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu đã đề ra. Quản lý hoạt động TCM trên cơ sở quản lý được các hoạt động sinh hoạt của TCM để trên cơ sở đó thực hiện các hoạt động triển khai các hoạt động CM, bồi dưỡng CM và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định chuẩn mực và các quy định khác hiện hành. Nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của nhà trường là tổ chức giảng dạy và học tập. Trong nhà trường hiệu trưởng quản lý việc giảng dạy thông qua hoạt động của TCM; quản lý việc học tập của học sinh thông qua công tác giảng dạy của GV. Hoạt động của TCM có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả công tác tác giảng dạy trong nhà trường. Để quản lý có hiệu quả hoạt động TCM trong nhà trường, HT cần thực hiện công tác quản lý của mình thông qua TCM để thúc đẩy hoạt động TCM. Để hoạt động của TCM có chất lượng thì HT cần tiến hành thực hiện công tác quy hoạch TCM, quản lý hoạt động DH, hoạt động sinh hoạt của TCM, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ tổ trưởng CM, đội ngũ tổ viên trong TCM. Có thể hiểu: Quản lý hoạt động TCM là quá trình tác động của hiệu trưởng một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức và có ảnh hưởng tích cực từ vai trò lãnh đạo của thủ trưởng và các tổ chức khác tới TCM và sau đó là quá trình tự quản lý, điều hành, điều chỉnh, tự kiểm tra. đánh giá của chính TCM tới các thành viên nhằm đạt thành tích với kết quả tốt nhất. Quản lý TTCM là tác động làm cho đối tượng được quản lý biến đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, từng bước nâng cao chất lượng, đồng thời chủ thể quản lý thiết kế được một môi trường làm việc thuận lợi cho sự phát triển, nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khai thác ở mức độ cao nhất năng lực, tiềm năng của TTCM để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. 1.3. Tổ chuyên môn và TTCM trƣờng Trung học cơ sở 1.3.1. Tổ chuyên môn trường THCS trong bối cảnh hiện nay 1.3.1.1. Vị trí vai trò của tổ chuyên môn trường THCS Tổ chuyên môn được xem là một bộ phận cấu thành trong trong bộ máy tổ chức, quản lý của nhà trường. Trong đó, các tổ nhóm chuyên môn có mối quan hệ 17 hợp tác với nhau, phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ, các tổ chức đoàn thể nhằm thực hiện chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục khác, hướng tới mục tiêu phát triển chung của nhà trường. Tổ chuyên môn là nơi triển khai các mặt hoạt động của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học; là đầu mối quản lý mà Hiệu trưởng nhất thiết phải tập trung dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động giáo dục dạy học; Là nơi tập hợp, đoàn kết, tìm hiểu tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của giáo viên, giúp đỡ GV hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tổ chuyên môn là một tổ chức không thể thiếu được trong nhà trường phổ thông để thực hiện mục tiêu giáo dục. Điều 14, chương II, Điều lệ trường trung học ghi rõ: “Giáo viên trường trung học được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học hoặc nhóm môn học; mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng và một hoặc hai tổ phó do Hiệu trưởng chỉ định và giao nhiệm vụ”. 1.3.1.2. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn Chức năng, nhiệm vụ của tổ chuyên môn được quy định tại Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) - Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường; - Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác hiện hành; - Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó; - Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên. Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu [7]. 1.3.1.3. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động TCM - Có kế hoạch công tác và hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định tại Điều lệ trường trung học (được đánh giá qua các minh chứng: Có KH chung của tổ theo 18 năm, kỳ, tháng, tuần nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động khác; Kế hoạch cụ thể dạy chuyên đề, tự chọn, ôn thi tuyển sinh, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém; kế hoạch cụ thể về sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học đúng, đủ theo PPCT; văn bản của lãnh đạo nhà trường về việc nhận xét thực hiện các nhiệm vụ năm học của TCM). - Sinh hoạt ít nhất 2 tuần một lần về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và các hoạt động giáo dục khác (minh chứng: BB sinh hoạt TCM, nhóm CM, Sổ nhật kí hoặc BB đánh giá chất lượng về hiệu quả giáo dục của các thành viên trong tổ, BB đánh giá xếp loại GV, Chú ý đánh giá chất lượng các buổi SH chuyên môn) - Hàng tháng rà soát, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công (minh chứng: các BB rà soát, đánh giá để cải tiến các biện pháp thực hiện nhiệm vụ được giao của TCM, BB chỉnh sửa, bổ sung các nội dung mới, các biện pháp mới vào kế hoạch. Chú ý đánh giá các hoạt động cải tiến, điều chỉnh, tăng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của tổ) 1.3.2. Tổ chuyên môn trường THCS và vấn đề đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn đáp ứng với yêu cầu hiện nay Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ sáu khóa XI đã nêu: “Quản lý giáo dục, đào tạo còn nặng về hành chính, chưa phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục và đào tạo, chưa tạo được động lực đổi mới từ bên trong của ngành giáo dục” [3]. Trong Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam 2011 - 2020 đã nêu 2 giai đoạn: * Giai đoạn 1 (2013 - 2015) - Về đổi mới quản lý giáo dục: “Tăng quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ quan quản lý giáo dục địa phương, gắn trách nhiệm với quyền hạn sử dụng nhân sự và tài chính, đặc biệt trong quản lý nhà nước về giáo dục mầm non, phổ thông” * Giai đoạn 2 (2016-2020) Chương trình hành động nêu: “Triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục nghề nghiệp, đại học và một số nhiệm vụ của giai đoạn 1 với các điều chỉnh bổ sung; tập trung củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục” [4]. Từ những yêu cầu trên đặt ra cho ngành giáo dục những vấn đề đổi mới. Ngành 19 giáo dục cần thực hiện đổi mới mạnh mẽ từ mục tiêu, nội dung, chương trình đến việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của tất cả các cấp học, ngành học. Đối với giáo dục phổ thông đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ hơn nữa đặc biệt là cấp THCS. Để thực hiện việc đổi mới có hiệu quả thì cần thực hiện đổi mới về tư duy quản lý và xây dựng được lộ trình đổi mới phù hợp và có tính khả thi. 1.3.3. Tổ trưởng chuyên môn trường THCS 1.3.3.1. Lý luận về phân cấp quản lý trong tổ chức Trong một bộ máy quản lý có nhiều loại người quản lý với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm khác nhau. Việc phân loại người quản lý thường được tiến hành theo hai tiêu chí, theo cấp quản lý và theo phạm vi của hoạt động quản lý. Trước tiên, có thể hiểu Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác nhau, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích [30; 241]. Với cách hiểu như vậy, một nhà quản lý được xác định bởi ba yếu tố cơ bản. Thứ nhất, có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định quản lý. Thứ hai, có chức năng thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhất định trong quản lý tổ chức. Thứ ba, có nghiệp vụ để đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc. Người quản lý được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó cách phân loại dựa vào “cấp quản lý” là phổ biến hơn cả. Có thể mô hình hóa các cấp nhà quản lý như sơ đồ 1.3. Sơ đồ 1.3: Các cấp quản lý trong tổ chức Cấp chiến lƣợc Cấp kỹ thuật Cấp tác nghiệp 20 - Người quản lý cấp cao (top manager) là những người chịu trách nhiệm định hướng, chỉ đạo và vận hành toàn diện của cả một tổ chức và đại diện cho tổ chức trong mối quan hệ với môi trường bên ngoài tổ chức. Họ phải xây dựng, xác định mục tiêu, chính sách, chiến lược cho toàn bộ tổ chức. Người quản lý cấp cao thường xuyên phải đại diện cho tổ chức trong các hoạt động có tính cộng đồng, giao dịch, đàm phán thương thuyết. Họ dành nhiều thời gian để trao đổi, tranh luận với người quản lý cao cấp khác trong tổ chức hay với những người có liên quan ở những tổ chức, đơn vị khác. Vì vậy, quản lý cấp cao còn gọi là quản lý cấp chiến lược, họ chịu trách nhiệm trả lời câu hỏi: mục đích của tổ chức là gì? Chiến lược nào để đạt được mục đích đó? [34; 14]. Quản lý cấp cao có quyền: (1) Quyết định chiến lược hoặc có ảnh hưởng lớn đến các quyết định chiến lược (2) Quyết định các chính sách (3) Chỉ đạo các mối quan hệ của tổ chức với môi trường bên ngoài [36; 242] Chức vụ điển hình họ thường đảm nhận là chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch, phó chủ tịch điều hành, phó chủ tịch thứ nhất, vụ trưởng, giám đốc điều hành, hiệu trưởng - Người quản lý cấp trung gian (middle manager): là những người chịu trách nhiệm quản lý những bộ phận và phân hệ của tổ chức. Đó là những người tiếp thu những chủ trương, chiến lược, chính sách có tầm quan trọng lớn và toàn diện từ người quản lý cấp cao và rồi chuyển tải chúng thành những mục tiêu và kế hoạch chuyên biệt hơn, riêng lẻ hơn, cụ thể hơn cho những người quản lý cấp thấp để họ thực hiện. Họ là người giữ vị trí liên hệ giữa nhà quản lý cấp cao và nhà quản lý cơ sở. Trách nhiệm mang tính nguyên tắc của các nhà quản lý cấp trung là chỉ đạo quá trình triển khai các chính sách của tổ chức và thiết lập mối quan hệ cân bằng giữa đòi hỏi của những nhà quản lý với năng lực của các nhân viên [36; 14]. Sản phẩm của cấp quản lý kỹ thuật là tiếp nhận các chiến lược từ quản lý cấp cao, chuyển thành các kế hoạch cụ thể nhằm vào mục tiêu cụ thể cho mỗi bộ phận hay nhóm bộ phận do họ quản lý. Những người quản lý cấp trung gian điển hình thường giữ những chức vụ 21 như phó giám đốc, trưởng phòng ban, phó hiệu trưởngHọ c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf05050002890_1379_2002921.pdf
Tài liệu liên quan