Luận văn Tư tưởng về giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.1

Chương 1. BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG NỘI DUNG TƯ TƯỞNG

GIÁO DỤC CHỦ YẾU CỦA NHO GIÁO .9

1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội xuất hiện tư tưởng giáo dục của Nho giáo.9

1.1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại khi Nho giáo xuất hiện .9

1.1.2. Nguồn gốc và quá trình xuất hiện những tư tưởng giáo dục của Nho giáo.13

1.2. Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo.18

1.2.1. Về quan niệm giáo dục.18

1.2.2. Về mục tiêu giáo dục.21

1.2.3. Về nội dung giáo dục .24

1.2.4. Về phương pháp giáo dục.31

1.2.5. Về vai trò và vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục .39

1.3. Một số nhận xét, đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Nho

giáo.41

1.3.1. Những giá trị tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo.42

1.3.2. Những hạn chế, nhược điểm trong tư tưởng của Nho giáo .44

Chương 2. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

VÀ NHỮNG GIÁI PHÁP PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ

MẶT TIÊU CỰC TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO

VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .48

2.1. Quá trình đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam và sự cần thiết phải vận dụng

các giá trị tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới và phát

triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay .48

2.1.1. Khái quát quá trình đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay .48

2.1.2. Sự cần thiết phải vận dụng các giá trị tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong sự

nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay .52

2.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia ở Châu Á và những giải pháp phát huy

mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo vào

sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay .55

2.2.1. Bài học từ các quốc gia ở Châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc kế

thừa các giá trị tư tưởng tích cực về giáo dục của Nho giáo .56

pdf95 trang | Chia sẻ: Thành Đồng | Ngày: 11/09/2024 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tư tưởng về giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hể sửa người ngay thẳng được sao” [40, tr.507]. Cũng theo Khổng Tử, người làm quan làm gương cho dân không chỉ dạy dân, trị dân mà còn làm 44 cho dân tin vào bậc cầm quyền. Đó là một điều quan trọng nhưng cũng rất khó khăn trong việc trị nước. Khi trả lời Tử Cống, trong ba thứ quan trọng của người cầm quyền là lương thực, binh lực, dân tin; điều quan trọng nhất là gì, Khổng Tử đã nói: “Dân không tin nhà cầm quyền thì chính quyền sẽ sụp đổ” [53, tr.184-185]. Nếu nhà cầm quyền biết làm gương cho dân thì chính sự theo đó sẽ trở nên tốt đẹp, việc trị nước từ đó àm trở nên dễ dàng: “Nếu nhà cầm quyền tự giữ mình theo chính đạo, chẳng đợi ra lệnh dân cũng ăn ở trúng phép; còn như tự mình chẳng giữ theo chính đạo, dẫu có ra lệnh buộc dân theo họ cũng không theo” [53, tr.200-201]. Với phương pháp này, Khổng Tử còn cho rằng, những người đi học không chỉ lấy thầy làm gương mà còn nên lấy những người khác làm gương cho mình để học hỏi, trau dồi đạo đức cũng như bổ sung tri thức. Ông nói: “Ba người cùng đi thế nào cũng có kẻ đáng là thầy ta. Chọn chỗ thiện của người ta mà theo, chỗ bất thiện mà sửa đổi đi” [40, tr.359]. Với những điểm ưu việt của nó, phương pháp giáo dục bằng nêu gương đã đánh dấu bước tiến so với những phương pháp áp chế, rập khuôn của các bậc Thiên tử trước đó. Trên đây là những phương pháp học tập cơ bản trong nội dung về phương pháp giáo dục của Nho giáo. Có thể nói, những nhà Nho đã đưa ra những phương pháp rất cụ thể, thiết thực nhằm giúp cho học trò có thể lĩnh hội được tri thức, không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Nó cũng làm cho những nội dung của tư tưởng giáo dục trở nên phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với không chỉ người học và còn với cả người thầy và hoạt động giáo dục nói chung. 1.2.5. Về vai trò và vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục Không chỉ bàn đến mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, chúng tôi nhận thấy Nho giáo còn bàn đến vai trò của người thầy trong giáo dục. Khổng Tử - một người thầy được người đời sau vinh xưng là “vạn thế sư biểu” (người thầy của muôn đời) luôn có ý thức về trách nhiệm, 45 vai trò của người thầy trong hoạt động dạy học. Theo ông, người thầy là người hướng dẫn cho học trò tự học. Khi đó, thầy phải làm những công việc như: chỉ cho học trò biết phương pháp học tập phù hợp, gợi ý để học trò suy nghĩ và giải đáp những thắc mắc, vướng mắc của trò chứ không phải là người nhồi nhét kiến thức cho học trò của mình. Người thầy không phải là người thợ dạy sách, học trò cũng không phải là cái giá đựng sách. Quá trình dạy và học là quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giúp cho học trò có kiến thức, chủ động để có thể ứng phó trong mọi hoàn cảnh. Cũng theo Nho giáo, người thầy không chỉ có kiến thức cao thâm để dạy học trò mà muốn trò giỏi, người thầy cần phải có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp để làm gương cho học trò noi theo. Nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh mẽ với người học, người học sẽ nhìn vào tấm gương là thầy mà tin rằng những điều thầy giảng dạy chính là chân lý, là những điều đúng đắn, tốt đẹp bởi: “Mình muốn dạy người ta điều gì trước hết mình hãy làm điều đó đi, rồi cứ theo đó mà dạy” [53, tr.20-21]. Tư tưởng của Khổng Tử về vai trò, vị trí của người thầy đã được Nho giáo sau này kế thừa và phát triển thêm. Tuân Tử - một nhà Nho ở thời Chiến quốc nổi tiếng với học thuyết tính ác cũng đề cao vai trò to lớn của người thầy trong việc giáo dục con người từ bỏ tính ác để hướng đến những điều thiện. Ông cho rằng, mặc dù tính con người là ác nhưng không thể không cải ác thành thiện được. Nếu có thầy, nếu ra sức tu dưỡng, rèn luyện, học tập có thể cải hoá trở nên thiện được cũng như “cây cong phải đợi uốn, hơ nóng rồi kéo ra, sau mới thẳng được. Đồ kim khí cùn nhụt, ắt phải mài giũa rồi sau mới sắc bén được. Cái tính của con người ta cũng vậy, ắt phải có thầy, có phép dạy bảo rồi sau mới có lễ nghĩa và mới trị” [13, 326]. Bằng sự giáo hoá, tích thiện, bất cứ người nào cũng có thể trở thành quân tử. Như vậy, theo Tuân Tử, người thầy chính là yếu tố quan trọng trong việc cải hoá tính con người từ thiện thành ác: “Người không có thầy, không có pháp mà biết thì ắt đi ăn 46 trộm, dũng mạnh thì tất làm giặc, tài giỏi thì làm loạn, xem xét thì làm những điều quái dị, biện luận thì nói những điều hoang đường. Người có thầy, có pháp thì biết mà mau thông, dũng mãnh thì có uy, tài giỏi thì mau thành đạt, xem xét thì hiểu hết đạo lý, biện luận thì nhanh biết phải trái. Cho nên, không có thầy, có pháp là cái hoạ lớn của người ta, có thầy có pháp là cái tôn quý của người ta vậy” [12, tr.327-328]. Quân tử và tiểu nhân - theo ông, không phải sinh ra đã có mà do việc tuân theo những quy tắc giáo hoá mà thành: “Người đời xưa khởi xướng lên lễ nghĩa và chế định ra pháp độ để kiểu sức cái tính của người ta mà chính lại, để nuôi hoá cái tính tình người ta mà dẫn dắt khiến cho theo với cái trị, hợp với đạo. Người nào mà theo thầy, theo phép mà kiểu sức cho hợp với lễ nghĩa thì thành người quân tử, buông lỏng cái tính mà trái lễ nghĩa là kẻ tiểu nhân” [10, tr.90]. Như vậy, theo quan điểm của Nho giáo, người thầy đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Người thầy không chỉ có vai trò định hướng cho học trò mà còn giúp cho học trò có thể bỏ ác, tích thiện, hướng đến những giá trị tốt đẹp của đạo đức, nhân cách. Do đó, có thể nói, để việc giáo dục thật sự có hiệu quả không thể thiếu vai trò của người thầy. 1.3. Một số nhận xét, đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo Tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng giáo dục của Nho giáo nói riêng đã từng có một ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà cả với rất nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nó đã để lại dấu ấn đậm nét trong đường lối giáo dục của nhiều quốc gia trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài. Sở dĩ có được những dấu ấn đậm nét đó là vì tư tưởng giáo dục của Nho giáo đã chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý, đã trở thành công cụ hữu hiệu của nhiều triều đại lịch sử trong việc giáo hóa dân chúng để giữ gìn trật tự xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng giáo dục của Nho giáo ra 47 đời trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc nên cũng không tránh khỏi những nhược điểm, hạn chế. 1.3.1. Những giá trị tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo Tư tưởng giáo dục của Nho giáo từ quan niệm chung về giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục đều chứa đựng nhiều yếu tố tích cực. Thứ nhất, về quan niệm giáo dục. Nho giáo cho rằng giáo dục là một việc làm cần thiết vì mỗi con người dù thiện hay ác đều cần phải được giáo dục. Vì thế, Nho giáo đã chủ trương “hữu giáo vô loại”. Có thể nói đây là chủ trương bình dân hóa trong giáo dục. Mặc dù chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc không khắc nghiệt như ở Ấn Độ và một số quốc gia khác ở phương Tây nhưng việc các Nho giáo chủ trương xây dựng một nền giáo dục cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn là một quan điểm hoàn toàn mới mẻ. Quan điểm đó đã vượt qua đẳng cấp, danh phận trong xã hội để góp phần đưa sự nghiệp giáo dục con người đến với mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Cũng từ quan điểm này, Nho giáo đã phá vỡ đặc quyền của tầng lớp quan lại, quý tộc, làm cho giáo dục mang tính chất phổ cập bình dân. Chính vì vậy, cũng không quá khi có người cho rằng quan điểm “hữu giáo vô loại” của Nho giáo ở Trung Quốc có ý nghĩa như cuộc cách mạng của Thích ca ở Ấn Độ. Tư tưởng này cũng thể hiện tấm lòng yêu thương con người, không vì tư lợi cá nhân của Nho giáo. Thứ hai, về mục đích giáo dục. Mục đích giáo dục của Nho giáo như đã trình bày ở trên là nhằm truyền bá sâu rộng tư tưởng nhân nghĩa vào trong nhân dân để đào tạo những con người biết sống đúng với danh phận của mình nhằm ổn định trật tự xã hội. Điều đó chứng tỏ Nho giáo đã nhận thấy vai trò quan trọng và quyết định của trong sự phát triển chung của xã hội. Vì thế, mục đích của giáo dục theo quan điểm của Nho giáo là rất đúng đắn, thiết thực. Cũng theo lẽ đó, người hiền tài có thể giúp dân, giúp nước không phải 48 sinh ra đã có mà cần phải được giáo dục. Có thể nói, đây là một quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ so với thời đại bấy giờ. Nó đã đánh vào chế độ chuyên chế quý tộc với phương châm “thế khanh thế lộc” (quan chế và bổng lộc có được là do cha truyền con nối). Nho giáo cũng đã nêu lên đòi hỏi của xã hội là cần người tài giỏi để gánh vác công việc của đất nước mà không chú ý đến thành phần xuất thân. Đây chính là một động lực to lớn tạo ra một xã hội học tập, khiến cho mọi tầng lớp, thành phần trong xã hội có thể hi vọng lấy học tập để thay đổi danh phận, địa vị và cuộc đời của mình. Thứ ba, về nội dung giáo dục. Nội dung chủ yếu của giáo dục theo quan điểm của các Nho giáo là giáo dục đạo làm người. Trong bối cảnh xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc, khi trật tự xã hội bị đảo lộn, đạo đức bị băng hoại, nhân luân bị xáo trộn thì việc Nho giáo đưa ra nội dung giáo dục đạo đức là hết sức cần thiết và hữu ích, góp phần to lớn trong việc thiết lập lại trật tự xã hội. Ngoài ra, cũng rất hợp lý khi trong nội dung giáo dục, các Nho giáo còn hướng đến dạy đạo trị nước cho con người với mục đích quan trọng là đào tạo ra những con người có đức, có tài để bổ sung vào đội ngũ quan lại. Chính điều đó đã làm cho mỗi người học có tinh thần trách nhiệm, có ý chí phấn đấu, luôn coi trọng tinh thần, danh dự, đạo đức, khí tiết. Vì vậy, khí tiết của Nho giáo luôn là điều được cả xã hội nể trọng, khâm phục. Có lẽ không ai không biết đến câu nói nổi tiếng về tiêu chuẩn đạo đức mà Nho giáo đưa ra cho các nho sinh của mình: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất thử chi vị đại trượng phu”, nghĩa là đã là người quân tử, là bậc đại trượng phu, dù ai đem phú quý đến cho mình cũng không được làm điều xấu; dù rơi vào hoàn cảnh bần tiện, khốn khổ cũng không sờn lòng, nản chí; dù có bị đem cường quyền, uy lực hăm dọa cũng không chịu khuất phục” [40, tr.330]. Tư tưởng đó đã ăn sâu, bám rễ trong tâm thức của Nho giáo và trở thành mục tiêu phấn đấu của Nho giáo trên con đường hoàn thiện mình. 49 Đó cũng chính là hướng phấn đấu mà Nho giáo đặt ra cho các học trò của mình trong nội dung giáo dục. Thứ tư, về phương pháp giáo dục. Nhìn chung, trong phương pháp giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều điểm tích cực và tiến bộ. Nho giáo đã đưa ra những phương pháp rất cụ thể như dạy từ xa đến gần, từ dễn đến khó, tùy theo từng đối tượng mà áp dụng những phương pháp dạy học khác nhau, kết hợp giữa học tập và suy nghĩ, học và hành, phát huy ý thức và tính sáng tạo của người học, kết hợp giữa thầy và trò trong giáo dục Những tư tưởng đó đã nói lên tính biện chứng, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố của quá trình dạy học. Vừa khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong việc định hướng học trò trong quá trình học tập, Nho giáo còn khơi dậy tính tích cực, chủ động với người học. Đây chính là ưu điểm nổi bật nhất trong những phương pháp giáo dục của Nho giáo. Đây có thể nói là những điểm tiến bộ, tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo. Chính những ưu điểm đó đã làm cho Nho giáo luôn được xã hội trọng dụng, đề cao, được các học trò luôn kính trọng, nể phục. Tư tưởng giáo dục của Nho giáo cũng vì thế mà góp phần không nhỏ trong việc ổn định trật tự xã hội, gây dựng lên một tầng lớp quan lại, sĩ phu có nhiều đóng góp to lớn cho xã hội. 1.3.2. Những hạn chế, nhược điểm trong tư tưởng của Nho giáo Bên cạnh những điểm tiến bộ, tích cực; tư tưởng giáo dục của Nho giáo cũng không tránh khỏi một số điểm hạn chế, mâu thuẫn. Điều đó được thể hiện trong quan niệm của Nho giáo về giáo dục nói chung, về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. Thứ nhất, về quan niệm giáo dục nói chung. Mặc dù Nho giáo đưa ra tư tưởng “hữu giáo vô loại” nhưng tư tưởng của họ, đặc biệt là Khổng Tử lại chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Dù ông coi giáo dục là bình đẳng với tất cả mọi người nhưng trong giáo dục, Khổng Tử lại phân biệt từng loại người khác 50 nhau. Quan niệm có hạng người sinh ra đã biết trở thành chỗ dựa cho giai cấp thống trị lợi dụng để đưa ra chính sách mị dân. Họ buộc dân chúng phải tin rằng tầng lớp cai trị trong xã hội ngay từ khi sinh ra đã hiểu rõ được đạo lý nên có thể gánh vác trọng trách cai trị đất nước, buộc những người dân phải phục tùng. Đặc biệt hơn nữa, trong quan niệm về giáo dục, Khổng Tử nói riêng và Nho giáo nói chung đều có tư tưởng coi thường phụ nữ, họ cho rằng phụ nữ không phải là đối tượng được giáo dục bởi: “Phụ nữ và tiểu nhân là hai hạng người khó ở cho vừa lòng nhất. Gần thì họ khinh nhờn, xa thì họ oán trách” [53, tr.282-283]. Chính tư tưởng này đã tạo nên tính chất nam quyền, gia trưởng rất khắt khe của xã hội Trung Quốc và nhiều nước khác chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong một thời gian khá dài. Thứ hai, về mục đích giáo dục. Bên cạnh những điểm tích cực, trong tư tưởng về mục đích giáo dục của Nho giáo cũng chứa đựng nhiều điểm hạn chế. Trước hết, đó là tư tưởng coi thường người dân. Nho giáo luôn đánh giá thấp khả năng nhận thức của tầng lớp dưới so với bậc quan lại và quý tộc. Do vậy, mục đích của việc giáo dục họ là để biết phục tùng, biết lắng nghe những người cầm quyền. Đây chính là bệ đỡ về mặt tư tưởng cho tầng lớp thống trị trong xã hội. Hơn nữa, Khổng Tử cũng như một số nhà Nho chưa nhìn thấy được sức mạnh của tầng lớp mới lên trong xã hội, không thừa nhận được địa của các chư hầu, các quan đại phu. Vì vậy, không quá khó hiểu khi Nho giáo tuy rất nổi tiếng, mẫu mực như Khổng Tử, Mạnh Tử đi đến đâu cũng không được trọng dụng đến nỗi họ luôn phải than rằng “đạo của ta chẳng ai dùng”, “chẳng ai biết ta”, “biết ta chăng chỉ có trời”. Những lời than đó đã cho thấy rõ sự buồn chán, tuyệt vọng, bất lực của họ trước thời cuộc. Ngoài ra, Nho giáo không nhận ra rằng sự sụp đổ của nhà Chu là một tất yếu lịch sử nên các ông luôn muốn níu kéo, muốn khôi phục lại chế độ tông pháp của nhà Chu, đề cao “pháp tiên vương”. Đây có thể coi là cách thức kéo lùi lịch sử bằng ý 51 muốn chủ quan. Chính điều đó đã bó buộc con người, đã tạo nên những khuôn phép chật hẹp, hà khắc, không tránh khỏi sự giáo điều, cứng nhắc. Thứ ba, về nội dung giáo dục. Mặc dù đề cao việc giáo dục đạo đức trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ là rất quan trọng và cần thiết nhưng nội dung giáo dục đó chưa đủ, mang tính lý tưởng nhiều hơn hiện thực. Khổng Tử đã từng khẳng định có ba thứ quan trọng đối với một quốc gia như “thứ”, “phú”, “giáo” nhưng trong nội dung giáo dục, Khổng Tử lại tách giáo dục ra khỏi hoạt động chính yếu, có tính chất quyết định sự tồn tại của xã hội là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Nho giáo đều đánh giá thấp hoạt động

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_tu_tuong_ve_giao_duc_cua_nho_giao_va_anh_huong_cua.pdf
Tài liệu liên quan