Luận văn Văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu

MỤC LỤC

MỤC LỤC .3

DẪN NHẬP .6

1 - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.6

2-GIỚI HẠN ĐỀ TÀI .7

3-LỊCH SỬ VẤN ĐỀ. .8

3.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN NGẮN.8

3.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KÝ CỦA XUÂN DIỆU. .13

3.4. Nhận định chung về những công trình nghiên cứu, phê bình. .16

4 -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.17

5- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN .18

6- CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN .18

CHƯƠNG 1: VĂN XUÔI CỦA MỘT NHÀ THƠ .20

1.1.XUÂN DIỆU - NHÀ THƠ VIẾT VĂN XUÔI. .20

1.1.1.Xuân Diệu viết văn xuôi khi nào ? .20

1.1.2.Nguyên nhân nào khiến Xuân Diệu viết văn xuôi ?.24

1.1.2.1.Sáng tác để kiếm sống ?.24

1.1.2.2.Sáng tác do chịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp - văn hoá thời

Phục Hưng: .25

1.2.VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA XUÂN DIỆU MANG TÂM HỒN LÃNG MẠN CỦA

NHÀ THƠ: .32

1.2.1.Cách nhìn cuộc sống:.34

1.2.2.Cách nhìn con người:.36

1.2.3.Cách sống: .39

pdf130 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 19/09/2020 | Lượt xem: 334 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
y sự bộc lộ trực tiếp cảm xúc, thái độ của nhà văn vào đối tượng phản ánh. Bởi lẽ nhà văn đã dùng ngay thái độ, tâm trạng của nhân vật để bộc lộ thái độ tư tưởng của mình. Trong Hai đứa trẻ Thạch Lam viết "Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng rộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối... Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bống tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thìa vào tâm hồn ngây thơ của cô. Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn"(101, tr.154 ). Hai cách nói trên biểu hiện một nỗi buồn nhân thế, cô đơn, ảm đạm của con người trước Cách mạng Tháng Tám, trong cảm hứng lãng mạn chung. Hoặc ý tưởng về tình yêu và sự sống luôn xuất hiện và tồn tại song song với nhau, cả trong thơ và trong truyện ngắn của Xuân Diệu cũng là biểu hiện của cảm hứng lãng mạn trữ tình. Xuân Diệu cũng như nhiều nhà lãng mạn tích cực khác, dù có buồn nhưng lúc nào cũng lấy sự sống, tình yêu làm chuẩn để hành đạo. Trong truyện ngắn của Xuân Diệu, tình yêu và sự sống luôn nâng đỡ nhau, làm điểm tựa cho nhau. Nếu thất vọng trong tình yêu thì lại gặp cuộc sống nâng đỡ; nếu cuộc sống khó khăn thì tình yêu thêm sức lực, củng cố niềm tin. Chàng họa sĩ trong Phấn thông vàng, sau bao lần thất bại trong tình yêu, tưởng chừng như không còn thiết tha với cuộc sống, tưởng là mất tất cả. Thế nhưng cuộc sống còn lớn hơn rất nhiều cuộc sống của chàng. Vì thế mà cuộc sống của lũ Chó mèo hoang, của Cái giường, dù có bi đát đến đâu, xin hãy tin rằng trên đời này còn có những tấm lòng, sự cảm thông. Dù chẳng làm biến đổi được gì, nhưng vẫn còn ánh sáng của hy vọng, niềm tin, "mang đùm những nỗi khổ của đời đương lên hơi trong bóng tối”(25, T2, tr.23). Cảm hứng lãng mạn trữ tình là cảm hứng chủ đạo của truyện ngắn Xuân Diệu, nhưng trong đó vẫn chứa đựng yếu tố hiện thực. Yếu tố này được nẩy sinh từ hệ thống đề tài của tác 56 phẩm. Qua cái nhìn, cách cảm của Xuân Diệu (dù viết theo kiểu tự truyện, kiểu kể về người, kiểu kể về vật), Xuân Diệu đều lấy con người làm đối tượng chính yếu của sự phản ánh hiện thực trong văn chương. Điều này cũng không có gì là mới mẻ trong sáng tạo nghệ thuật nói chung, nhưng có điểm khác là Xuân Diệu không miêu tả, kể chuyện để làm hiện hình sự vật. Với trực cảm của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã nắm bắt được những điều bí mật của tâm hồn, những ước muốn bản ngã: được sông, được cống hiến, được vĩnh cửu của vạn vật. Với "Cái giường ! Vật bằng gỗ nhưng xứ bằng mơ, chia nửa đời người với con người, nhận biết bao nhiêu sự sống.”(25, T2, tr.l32). Riêng anh Tư trong Người học trò tốt "Anh Tư không sung sướng bao giờ. Chính anh ấy nói ...không ai ...khổ bằng tôi; tôi chưa thấy ai khổ sở bằng tôi" và "khi chàng thành công là lúc chàng thất bại hẳn"(15, T2, tr.36) còn lũ Chó mèo hoang "Bọn nó đì hoang, chúng bơ vơ, cực khổ, chúng đói khát, chứng thất nghiệp."(25, T2, tr. 84 ). Không những thế, Xuân Diệu phải đón nhận hiện thực phũ phàng, cho dù có muốn quên đi, thì hiện thực vẫn là hiện thực. Đó là những kiếp nghèo của Đứa ăn mày, "Thằng Miêng cũng chỉ là một con chó hoang hay một con mèo hoang ...Tồi tàn, gớm ghiếc, hôi hám. Một đứa ăn mày ...hai tròng mắt ngày thường đã ngơ ngác, bây giờ lại càng thảm hại như mắt một con vật bị săn riết cùng đường."(25, T2, tr.l03). Đó là cuộc sống, sống mà như chết của anh Tư trong Người học trò tốt; của Quỳnh Giao trong Tỏa nhị kiều "Bởi vì hai cô ngồi trong một buổi chiều rất đỗi ngẩn ngơ, một buổi chiều trong nhà và trong tâm lý. Lạ qúa ! Tôi cảm thấy rõ rệt sự mờ nhạt của cuộc đời ,khi trông thấy hai cô."(25, T2, tr.110). Nhưng có lẽ, Xuân Diệu không viết ra để mà viết. Xuân Diệu cũng như bao nhiêu nhà nhân văn chủ nghĩa xem văn chương- cái đẹp như một sự cứu rỗi, một giải pháp xã hội. Xuân Diệu mong muốn cuộc đời sẽ bớt khổ đau, con người nhân ái hơn và hãy đến với nhau bằng tấm lòng yêu thương, thông cảm. 2.1.2.Đề tài và chủ đề: Gắn liền với cảm hứng đó, đề tài trong truyện ngắn của Xuân Diệu chỉ là cái cớ để ông giãi bày tình cảm, là một phương diện khách quan của nội dung tác phẩm. Vì vậy mà một hiện tượng nào đó của hiện thực khách quan tác động đến Xuân Diệu, nó trở thành cảm xúc trước rồi mới thành đề tài. ở điểm này, Xuân Diệu khác với một số nhà văn cùng thời. Những nhà 57 văn ấy, họ coi đề tài là đối tượng nhận thức, đối tượng thể hiện( biểu hiện ở các mặt như nhận thức về đề tài, Ở hệ thống đề tài chủ chốt xuyên suốt trong qúa trình sáng tác). Chẳng hạn như Nam Cao, nhà văn hiện thực đã xây dựng cho mình những hệ thống đề tài về người nông dân nghèo, người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Còn Xuân Diệu, ta khó có thể tìm thấy một loai đề tài nào như vậy trong sáng tác văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng của ông. Và truyện ngắn là "mảnh đất màu mỡ" để người nghệ sĩ ấy gieo trồng đủ loại cây. Mỗi cây, vài cây là một loại đề tài. Mỗi loại đề tài lại mang một sắc mầu riêng cùng tồn tại trong một thời khắc lịch sử. Đọc truyện ngắn của Xuân Diệu, chúng tôi phân ra làm 4 loại đề tài sau: - Đề tài về cái nghèo trong Thương vay, Cái hỏa lò. - Đề tài về số phận trong Đứa ăn mày, Chó mèo hoang, Cái giường. - Đề tài về cuộc sống hiện tại và tương lai trong Tỏa nhị kiều, Người học trò tốt, Một cuộc hành hình. - Đề tài về cái đẹp trong tình yêu như Cái giây, Cái giây không đứt, Thư tình mùa thu; Trong thiên nhiên như Bà chúa vinh quang, Suối cả vàng, Suối tóc đẹp; Trong con người như Thân thể, Người lệ ngọc. Thông qua các kiểu đề tài, chúng tôi thấy cách khai thác và thể hiện đề tài của Xuân Diệu rất khác người. Nếu các nhà văn xuôi khác chú trọng khai thác, làm giàu cho đề tài bằng yếu tố tự sự như cốt truyện, nhân vật, bằng cảm nhận khách quan... để từ đó bày tỏ quan điểm chủ quan của mình, thì ngược lại, Xuân Diệu thể hiện đề tài qua tâm trạng trữ tình. Nhà nghệ sĩ của chúng ta lấy quan điểm chủ quan của mình để thể hiện cảm nhận khách quan. Ở đây, tình cảm, cảm xúc là yếu tố đầu tiên để nuôi dưỡng đề tài. Dĩ nhiên mỗi nhà văn đều chọn cho mình một cách đi riêng để đến với nghệ thuật. Xuân Diệu thì lại thích lội ngược dòng nước để thỏa nguyện ý thích của mình; để "tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác"(88, tr.10). Đề tài trong truyện ngắn của Xuân Diệu tuy không mới nhưng lại có một ý nghĩa xã hội nhất định, đặc biệt là đề tài nói về cái nghèo; về một số phận; về cuộc sống hiện tại và tương lai. Ở đây, Xuân Diệu không nhân danh một quan điểm đạo đức nào, để thuyết giảng một bài học luân lý, mà chính ánh sáng của tâm hồn, tấm lòng nhà văn như hiện ra ngày một rõ qua 58 từng trang văn. Đó là những tác phẩm lời ít mà ý nhiều, rất đời thường mà nghĩa cử cao đẹp. Xuân Diệu đã phát hiện ra cái bất bình thường trong sự việc rất đỗi đời thường. Một cuộc đời của Quỳnh và Giao, sinh ra trong một "gia đình họ đông đúc thế, và cũng là khá đủ tiền bạc" thế mà chẳng hiểu sao, Xuân Diệu lại "Cảm thấy rõ rệt sự mờ nhạt của cuộc đời, khi trông thấy hai cô". Bởi lẽ "hai cô không sầu tư, không có một nỗi chán nản ghê gớm ...hai cô là hai cô gái, chỉ biết buồn mờ, buồn lặng, nhưng buồn lâu, Hai cô là hai cánh đồng" (25, T2, tr.110 ). Hay trong truyện Một cuộc hành hình, nào có tù tội chém giết gì nhau; nào có pháp trường, án chém gì đâu mà cũng có đao phủ "Tên nô lệ, mắt quắc như cầm dao giết người; có ả Phiến "Ả đã cho hắn ăn bùa mê, hắn chỉ sống vì ả." và "Từ địa vị một người tự do, họ tự bó tay chân làm tù tội... thôi lo cúi đầu ở dưới xích, chẳng dám quật quấy gì nữa, chỉ mong có một chút sỉ nhục mà ngậm cho mau để con quỉ đen nó khỏi hành hình.”(26, tr. 127). Câu chuyện đơn giản, nhưng lại là những hồi chuông cảnh tỉnh những ai đàm mê thứ của chết người ấy "Trên giường, một cái khay đặt đó, chứa những đồ đạc giải phẫu, cái móc để móc ruột già, cái kéo để cắt hơi thở, cái nạo để cào dạ dầy ; cái nồi để nấu thời gian, cái tẩu để hút sinh khí...Máu huyết của vợ con hay cha mẹ đựng trong một cái ngao con; đồng tiền liền khúc ruột của gia đình chạy vào nằm trong cái ao tẻo teo mà ghê gớm ấy" (26. tr.127). Hoặc số phận của một đồ vật: Cái giường, câu chuyện tưởng như không có gì để nói. Thế mà bằng kiểu"tự truyện", Xuân Diệu đã hóa thân mình vào đồ vật, để nói lên những điều thầm kín nhất, tựa như những câu chuyện kể về đồ vật đầy dụng ý giáo dục, khuyên bảo. Vấn đề đặt ra là, phải chăng Xuân Diệu qua đề tài của mình muốn thoát li hiện thực? để trốn vào thế giới thần tiên, của quá khứ, của lạc thú tình yêu? để thỏa mãn cái "tôi" cá nhân chủ nghĩa? Trong khi những nhà thơ, nhà văn cách mạng như Tố Hữu...cùng thời với Xuân Diệu lại hướng đến những vấn đề trọng yếu của xã hội lúc bấy giờ như cuộc đấu tranh giai cấp ...? Không phải ! Xuân Diệu tuy là nhà nghệ sĩ theo trường phái lãng mạn, nhưng trong văn xuôi, Xuân Diệu không thoát ly hiện thực. Việc nhà văn chọn đề tài này chứ không phải là đề tài khác chính là thể hiện tính khuynh hướng trong tư tưởng của mình. Những đề tài trong truyện ngắn của Xuân Diệu mang dấu ấn của đời sống khách quan, dấu ấn chủ quan của nhà văn. Xuân Diệu thích những cái mà bản thân quan tâm và cảm xúc. Những Nam Cao, Ngô Tất Tố... đã trở thành những bậc thầy của sáng tạo nghệ thuật. Họ đã xây dựng được những nhân vật 59 điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Truyện ngắn của Xuân Diệu chưa làm được điều này, nhưng không vì thế mà nói rằng Xuân Diệu thoát ly hiện thực. Ta biết rằng, cống hiến làm đẹp cho đời có nhiều cách khác nhau. Xuân Diệu đi theo con đường của riêng mình, âu cũng là một sự đóng góp thiết thực cho cuộc sống xã hội. Vì những lẽ trên, chúng tôi thấy đề tài trong truyện ngắn của Xuân Diệu không phải là cả một hệ thống các hiện tượng đời sống liên quan với nhau, mà là một kiểu đề tài tâm trạng; ít chú ý đến nhân vật, sự phát triển tính cách, những mâu thuẫn nội tại, nhưng lại chú trọng cảm xúc, lấy cảm xúc làm yếu tố dựng truyện. Nên truyện ngắn của Xuân Diệu như một bài ký hơn là một tác phẩm truyện ngắn. Những đề tài mà Xuân Diệu quan tâm là những đề tài gắn bó với sinh hoạt của tầng lớp trí thức tiểu tư sản như Xuân Diệu. Ở đó xuất hiện hàng loạt nhân vật nam thanh nữ tú: chàng họa sĩ, hai người ngọc Quỳnh và Giao, cặp uyên ương Chi và Tịnh. Hay nhà văn có nói tới cuộc sống nghèo của Sơn, Siêu, nhưng cuộc sống đó không đến nỗi cơ cực như ta vẫn thường gặp trong các sáng tác hiện thực cùng thời và nhiều khi là một quan điểm thẩm mỹ về tình yêu, về cái đẹp như thân thể, suối, núi, cánh rừng... Đặc biệt là khó có thể tìm thấy một hình ảnh, một chi tiết nào thật cụ thể về những con người lam lũ, bần hàn như trong những tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán. Có chăng chỉ là thằng Miêng tong Đứa ăn mày, Bà lão trong Thương vay...Nhưng những con người ấy chưa đủ để làm một giai cấp, một lớp người khác với Xuân Diệu. Truyện ngắn của Xuân Diệu hướng đến các đề tài thường gặp trong văn học, chưa phải là những vấn đề xã hội đang quan tâm. Tuy chỉ là một khía cạnh nhỏ của cuộc sống, nhưng đề tài trong truyện ngắn Xuân Diệu cũng đủ để lắng đọng tâm hồn. Chung quanh ta có biết bao điều cần nói, cần quan tâm. Mỗi một phát hiện nhỏ vẫn có giá trị làm đẹp cho đời. Đề tài trong truyện ngắn của Xuân Diệu không đi ra ngoài mục đích ấy. Truyện ngắn của Xuân Diệu không nhiều, không đồ sộ như của một số truyện của các nhà văn cùng thời. Và thậm chí, truyện ngắn của Xuân Diệu cũng chưa xây dựng được hệ thống nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình như trong truyện ngắn của Nam Cao, của Thạch Lam... Mặc dù truyện ngắn của Xuân Diệu đề cập đến nhiều loại nhân vật, thuộc đủ loại thành phần xã hội: thanh niên, học sinh, sinh viên, dân nghèo. Nhưng những nhân vật ấy mới chỉ 60 dừng lại ở những biểu hiện của cảm xúc trữ tình chứ chưa phải là những nhân vật của sự, của việc. Nhưng dù sao, truyện ngắn của Xuân Diệu cũng thể hiện được hệ thống chủ đề tác phẩm, qua hàng loạt những hình tượng nghệ thuật như: -Hình tượng nghệ thuật về thiên nhiên: Phấn thông vàng, Suối cá vàng, Suối tóc đẹp, -Hình tượng nghệ thuật về con người: Đứa ăn mày, Tỏa nhị kiều, Thân Thể, Thương vay, Người học trò tốt, Một cuộc hành hình. -Hình tượng nghệ thuật về đồ vật: Cái giường, Cái giây, Cái hỏa lò, Thư tình mùa thu. Có thể thấy, mỗi tác phẩm truyện ngắn của Xuân Diệu, dù thuộc kiểu hình tượng nghệ thuật nào, đều tập trung phản ánh một hệ thống chủ đề chính là: tình yêu cuộc sống, niềm tin, lòng nhân ái. Bởi lẽ các tác phẩm đều hướng về con người, lấy con người làm trung tâm và phục vụ con người. Từ hệ thống chủ đề của các tác phẩm truyện ngắn, ta hiểu thêm về người thi sĩ Xuân Diệu- Một con người yêu đời, say với đời, sống toàn tâm cho cuộc sống, cho con người với một tấm lòng, một trái tim nhân bản tiến bộ. Cái giường trong Truyện cái giường chỉ là một vật vô tri, một đồ vật như bao đồ vật khác quanh ta, thế mà Xuân Diệu chỉ trọn cái giường để miêu tả, bởi lẽ "Cái bàn nào, cái tủ nào bì được Cái giường ! Cái bàn thì khô khan, cái tủ thì trưởng giả, cái bàn học giữ vẻ lạnh lùng cửa những chồng sách nặng; cái bàn ăn mang vẻ thô bỉ của cá thịt; cái tử thì cao ngông nghênh và có thói tư bản, khư khư giữ chặt quần áo, bạc vàng. Cái hòm, cái rương cũng đồng mang những khối bụng to tướng tham lam ...Chứ cái giường, Ô chao ! còn gì thân mật, ấm cúng, ái ân hơn"(25, T2, tr.130). Điều đó cho thấy, bằng trí tưởng tượng, hóa thân mình vào sự vật, Xuân Diệu đã thổi vào đó sự sống, niềm tin, niềm khát khao được sông, được cống hiến, được giao cảm với đời "Trời ơi, chịu sao nổi cảnh hiu quạnh dường này!Dầu gãy, dầu hư, tôi vẫn mong được loài người đụng chạm. Tôi, xưa kia đã từng nâng da, đỡ thịt, tôi đã nhận sự sống của loài người lây qua mình tôi. Mà bây giờ không có sự gần gụi của người. Thực là cô đơn vắng vẻ”(25, T2, tr.l25). Trong truyện ngắn của Xuân Diệu, chủ đề được thể hiện qua hai con đường sau: 61 Chủ đề bộc lộ trực tiếp qua nhan đề tác phẩm: Với kiểu bộc lộ này, người đọc sẽ hiểu ngay nội dung tác phẩm và ý đồ nghệ thuật của tác giả ngay từ đầu truyện. Đó là những truyện như Thương vay; Tỏa nhị kiều; Chó mèo hoang; Đứa ăn mày. Ở những truyện này, Xuân Diệu không giống Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh... Họ là những nhà văn thường giấu tình cảm của mình qua cách nhìn, cách nghĩ của nhân vật'hay trực tiếp phát ngôn qua nhân vật. Chẳng hạn trong Hai đứa trẻ, cái "tôi" của Thạch lam được giãi bày qua khung thời gian, không gian; qua nhận thức của các nhân vật Liên, An "Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đì lại tìm tòi...Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó”(101, tr.155). Riêng Xuân Diệu lại muốn bộc lộ ngay, trực tiếp dòng cảm xúc, dưới cái nhìn, tâm trạng của nhân vật"tôi". Trong phần phụ lục Ì (thống kê một số từ dùng để chỉ nhân vật), chúng tôi nhận thấy: Truyện Thương vay chỉ có 8 trang, nhưng có tới 76 từ "tôi". Truyện Cái giường có 10 trang, và có 75 từ "tôi". Truyện Tỏa nhị kiều có 8 trang, đã có 86 từ "tôi" được nhắc đến. Dù sao thì kiểu bộc lộ chủ đề này cũng giúp ta hiểu thêm về tình cảm của tác giả, hiểu phần nào những vấn đề của cuộc sống xã hội lúc bấy giờ. Tuy chưa đi sâu vào những chi tiết, chưa tỉ mỉ kể lể, nhưng Xuân Diệu đã bắt nhịp được vào cuộc sống xã hội- cuộc sống u uất, bế tắc tràn ngập cả không gian, thời gian. Cuộc sống ấy tích tụ lại không phải để sáng lên mà để chìm vào trong ảo não thê lương. Ngòi bút của Xuân Diệu đã bắt nhịp với nhịp đập của trái tim, đã hướng đến một chủ nghĩa nhân văn cao cả lìíc bấy giờ cùng với Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Nam Cao... Chủ đề bộc lộ qua lời phát biểu trực tiếp của tác giả: Kiểu chủ đề này được thể hiện qua những chuyện ca ngợi về thiên nhiên, về tình yêu cuộc sông và con người như: Phấn thông vàng, Suối cá vàng, Suôi tóc đẹp, Bà chúa vinh quang... Ở đây Xuân Diệu không bày tỏ trực tiếp tình cảm của mình dưới cái "tôi", mà bày tỏ gián tiếp qua nhân vật chính của truyện (chàng họa sĩ, suối, nàng, công nương, anh Hứa, em Thu, anh Tư...). Chủ đề ở đây được thể hiện qua việc giải quyết số phận nhân vật. Trong truyện Người học trò tốt, ý chí, nghị lực của anh Tư chính là "Học để mà hành. Làm, làm một việc gì trong xã hội.", thế rồi cuối cùng nhận thấy 62 "chàng đã theo danh hay theo lợi? Theo tiếng gọi mãnh liệt của sách vở, hay tiếng kêu gấp rút cửa...cửa cái gì đây? Chàng khống biết vui sướng hay sao? Bí mật ! Người ta kinh hãi trước sự khó hiểu. Sao Tư chẳng sống đi, tiêu tiền đi, chơi bời đi ! Người ta không tin rằng cổ thể có lỉnh hồn vô lý ấy."(25, T2, tr.38). Hoặc một đoạn khác trong Một cuộc hành hình cũng vậy "Từ địa vị một người tự do, họ tự bó tay bó chân làm tên tù tội. Đang hừ thở không khí hồn nhiên sung sướng, đang qua lại thênh thang, chằng trói buộc một cái gì, họ đã vì sự vô minh mà đùa với ma quỉ" (26, tr.129). Trong kiểu bộc lộ chủ đề này, mặc dù Xuân Diệu đã khá khách quan để dựng chuyện, nhưng vẫn không tránh khỏi những suy nghĩ chủ quan của cái "tôi" trữ tình, qua lời phát biểu trực tiếp của tác giả. Đây cũng là một hạn chế của Xuân Diệu trong những sáng tác văn xuôi - truyện ngắn trước Cách mạng Tháng Tám. 2.2.Cốt truyện, nhân vật và kết cấu: Văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu là thứ văn xuôi giàu chất thơ, mang tâm hồn lãng mạn của nhà thơ và cũng mang luôn vào đó bút pháp làm thơ trữ tình. ở các sáng tác văn xuôi (truyện ngắn ) của Xuân Diệu, yếu tố truyện, sự kiện, hành động... rất ít. Trong khi đó, yếu tố không khí tâm trạng lại rất nhiều. Chính nhà thơ quan niệm "Truyện chỉ là cái cớ để cởi mở tấm lòng... ở đây chỉ có ít đời và rất nhiều tâm hồn, hợp lại thành bao nhiêu nghĩ ngợi bâng khuâng”(25, T2, tr.7). Vì vậy đi tìm cốt truyện trong truyện ngắn của Xuân Diệu quả là rất khó. Trong truyện ngắn Phấn thông vàng, mặc dù Xuân Diệu gọi là "truyện ý tưởng", thì nó vẫn là truyện, truyện của tâm hồn. Ở đó có nhân vật, có chuyện đời của khá nhiều số phận. Từ chàng họa sĩ thất tình, chán đời trong Phấn thông vàng, từ cuộc đời phấn đấu học tập của anh Tư trong Người học trò tốt; từ đời người phụ nữ làm mẹ, làm vợ của má Siêu trong Cái hỏa lò; hay cuộc sống đi hoang của Đứa ăn mày, Chó mèo hoang; đến cuộc sống buồn tẻ vô vị của hai nàng kiều trong Tỏa nhị kiều; cho tới những cuộc tình đẹp mà buồn như trong truyện cổ tích Thư tình mùa thu...Bấy nhiêu sự đời cũng đủ để Xuân Diệu viết nhiều thiên tiểu thuyết dài, để xây dựng các sự kiện, biến cố, tình tiết và hành động trong tác phẩm, nếu như tác giả dùng phép "hư cấu". Nhưng ở đây, truyện ngắn của Xuân Diệu không hội đủ các yếu tố để thành cốt truyện. Nó ít hành động, nhân vật ít, ít sự kiện và hầu như không có các biến cố, tình tiết để hình thành tính cách nhân vật. Bởi "Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, biến cố, tình tiết và 63 hành động trong tác phẩm, thể hiện mối quan hệ, sự phát triển và tác động qua lại của các tính cách"(94, tr.56). Và theo K.Phêđin “Trong việc xây dựng cốt truyện, nên xuất phát từ tính cách nhân vật. Các nhân vật tạo ra cốt truyện chứ không phục tùng cốt truyện”. Vậy có hay không có cốt truyện trong truyện ngắn của Xuân Diệu ? Đặc điểm cốt truyện trong truyện ngắn của Xuân Diệu là gì ? cốt truyện ấy có giống kiểu cốt truyện của tác giả nào không ? Chúng tôi nhận thấy, cốt truyện trong tác phẩm văn xuôi- truyện ngắn của Xuân Diệu không phải kiểu cốt truyện của sự kiện, mà là cốt truyện của cảm xúc, của tình, của những yếu tố bên trong- hay còn gọi là cốt truyện tâm lí. Nếu như cốt truyện của sự kiện được hình thành từ hệ thống những xung đột (bên trong và bên ngoài), thì cốt truyện của tình (cốt truyện tâm lý) lại được hình thành từ chính dòng chảy cảm xúc của tác giả trước một vấn đề nào đó. Chúng tôi thấy, truyện của Xuân Diệu có hai kiểu cốt truyện tâm lý sau: - Cốt truyện buồn, cô đơn trong các tác phẩm: Phấn thông vàng, Thương vay, Chó mèo hoang, Đứa ăn mày, Tỏa nhị kiều, Cái giường, Cái hỏa lò. - Cốt truyện buồn vui, tiếc nuối, ân hận trong các tác phẩm: Cái giây không đứt, Người học trò tốt, Thân thể, Sợ, Một cuộc hành hình, Người lệ ngọc, Suối cá vàng, Suối tóc đẹp, Bà chúa vinh quang, Thư tình mùa thu. Đặc điểm chung cho hai kiểu cốt truyện này là: không có những xung đột gay gắt giữa các nhân vật (ngoại trừ một ít biểu hiện trong truyện Cái hỏa lò), chỉ có những xung đột bên trong tâm hồn nhân vật qua cái "tôi" trữ tình. Nhà văn như tham gia trực tiếp vào từng sự kiện, nhân vật trong đòng cảm xúc của chính mình. Chẳng hạn như trong truyện Tỏa nhị kiều, Quỳnh và Giao là nhân vật chính trong tác phẩm. Họ xuất hiện từ đầu cho đến cuối truyện, như một loại người không có tiếng, có hình, không có bất cứ một hành vi tốt, xấu nào. Họ vô ngôn, sống âm thầm, lặng lẽ. Họ là người hay là bóng cũng thế thôi. Họ sống hay chết cũng chẳng liên hệ gì với ai cả. Xuân Diệu viết truyện về họ, người đọc hiểu, thương họ qua suy nghĩ của tác giả. Họ như vô hồn, vô định mà lại nổi sóng trong tâm trạng nhà văn "Tôi nghĩ đến Quỳnh, cô em hiền lành quá, với đôi mắt yên ổn như không. Cô chỉ hơi hơi xinh...Cô hiền lành đến nỗi tôi thấy xốt thương... Gia đình họ đông đúc thế... nhưng sao nhà ấy lại bao trùm một bầu không khí tẻ nhạt, không ánh nắng, chẳng hương người? Sao lại có hai nàng con gái kia, ngơ ngác 64 như không biết sổng"(25, T2, tr.111). Ở đây, chính cảm xúc của tác giả tạo nên tác phẩm và trở thành cốt truyện của tác phẩm. Trong truyện ngắn của Xuân Diệu, số lượng nhân vật khống nhiều, và những xung đột giữa các nhân vật không đủ để hình thành tính cách dẫn dắt cốt truyện. Anh Tư trong Người học trò tốt là một mẫu người lý tưởng về sự phấn đấu học tập. Cuộc đời cứ thế trôi để đến một ngày kia anh nhận ra cái vô nghĩa thì đã muộn "Thanh xuân đã qua bên cạnh chàng" (25, T2, tr.38). Có thể thấy trong 9 trang truyện, cốt truyện chỉ kể về một nhân vật trong cách cảm, cách nghĩ của tác giả chứ không có giãi bày, những cao trào, phát triển ... Thế nhưng dù không phải là những cốt truyện truyền thống ta thường gặp, thì truyện của Xuân Diệu vẫn toát lên được chủ đề của tác phẩm, vẫn phản ánh được những mặt bản chất và những mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam những năm trước 1945. Đó là không khí ngột ngạt, bứt rứt bao trùm xã hội dưới ách đô hộ của ngoại bang. Đối diện với bầu không khí đó là những người mang tâm trạng của tầng lớp tiểu tư sản. Vì vậy mà họ buồn, chán đời, sống vô vọng, chìm trong lãng quên như Quỳnh, Giao, anh Tư, người lệ ngọc, tên nô lệ... và dù ít nhân vật, những tính cách nhân vật vẫn âm thầm phát triển trong tâm trạng của tác giả. Những tính cách ấy đã góp phần làm nên một kiểu cốt truyện của tình (cốt ữuyện tâm lý). Kiểu cốt truyện trong truyện ngắn của Xuân Diệu với một số truyện ngắn của Thạch Lam như truyện Hai đứa trẻ là loại truyện không có cốt truyện, cốt truyện không có hành động mà thay vào đó là những cảm nghĩ, đời sống nội tâm nhân vật trước hiện thực. Chỉ có khác là trong truyện ngắn của Xuân Diệu đó là nội tâm của nhân vật trữ tình- của chính tác giả, còn trong truyện ngắn của Thạch Lam thì ngược lại. Xuân Diệu cũng như Thạch Lam đã gởi vào đó trái tim đa cảm của mình trước nỗi bất hạnh của con ngươi. Và dù có giận đời rất nhiều, họ cũng không hề lớn tiếng chửi đời, trái lại vẫn yêu đời, vẫn say với đời. Truyện Hai đứa trẻ của thạch Lam "Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh thế giới quanh mình, mờ mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ"(101, tr. 161). 65 Trong truyện Thương vay của Xuân Diệu "Chiều lên dần dần; Chiều không xuống... không còn cái gì rõ nữa. Bóng chập chựng, mọi vật mập mờ, bảng lảng, đương rung rinh. Mây rách từ đâu lê tới những mảng đen thất thểu, thêm vào cảm giác không đều...Không ai đi trên đường này...Không một người gánh gồng...Không một người đàn bà vội vàng...cũng không cả một con chó thẩn thơ."(25, T2, tr.l7). Ở đây cả Xuân Diệu và Thạch Lam không chủ yếu miêu tả hiện thực xã hội và cũng không chú trọng vào phê phán, châm biếm, đả kích ai như các nhà văn hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng...; không khơi sâu các xung đột xã hội. Mặc dù có yếu tố hiện thực trong các tác phẩm, cốt truyện của họ vẫn hướng theo dòng chảy tâm lý nhân vật. Vì vậy, mà đọc truyện ngắn của Xuân Diệu ta thấy bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm là những biến thái nhiều mặt của cảm xúc, của tâm trạng. Đó cũng là lý do cắt nghĩa kiểu cốt truyện cảm xúc trong sáng tác của Xuân Diệu. Xuân Diệu đã viết trong lời tựa tập Phấn thông vàng "Trong nhiều truyện của tôi, vai chính không phải là một người, mà là một nỗi lòng, một tình ý, hay một con vật, một đồ dùng"(25, T2, tr. 9). Tuy không nói cụ thể, nhưng đó là ý đồ xây dựng hệ th

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2013_01_23_0471373030_2087_1869304.pdf
Tài liệu liên quan