Tiểu luận - Lợi ích của việc nuôi dế

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

Hiệp Hòa là một huyện trung du, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km. Phía Bắc giáp huyện Tân Yên. Phía Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh). Phía Đông giáp huyện Việt Yên. Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 20.110 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67%; đất lâm nghiệp chiếm 0,9%. Đây là một vùng có đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp. Trên địa bàn huyện có con sông Cầu chảy qua, không chỉ cung cấp nguồn nước tưới mà còn chứa trữ lượng tài nguyên cát, sỏi khá lớn.

Các xã ven sông Cầu có nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa nổi tiếng, điển hình là làng nghề ươm tơ truyền thống tại xã Mai Đình. Gần đây còn nổi lên phong trào nuôi dế xoá đối giảm nghèo và làm giàu Về giao thông đường bộ còn có tuyến Quốc lộ 37 chạy qua dài 14km, nối huyện Hiệp Hòa với tỉnh Thái Nguyên. Về nguồn nhân lực, dân số toàn huyện có khoảng 21 vạn người. Trong đó, độ tuổi lao động chiếm khoảng 45%, chủ yếu là lao động nông nghiệp. Về tiềm năng du lịch, huyện Hiệp Hòa có điểm du lịch văn hóa An toàn khu 2 tại núi Y Sơn (thuộc xã Hòa Sơn), thu hút nhiều khách du lịch tới thăm quan.

Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm gần đây Hiệp Hòa đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong đó, phát huy lợi thế vùng đẩy mạnh sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản; xây dựng các cụm công nghiệp tại thị trấn Thắng và các xã nhằm thu hút đầu tư; chú trọng qui hoạch, đầu tư nâng cấp hệ thống chợ nông thôn tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu hàng hóa, phát triển thương mại – dịch vụ.

Theo hướng đó, huyện đã ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; củng cố đội ngũ cán bộ theo hướng chuẩn hoá, nâng cao năng lực công tác, chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành từ huyện đến cơ sở.

Trong phát triển kinh tế, đảng bộ, chính quyền huyện tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu theo hướng thâm canh, khuyến khích nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật, từng bước làm thay đổi nhận thức, tập quán sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi. Không cổ động làm kinh tế theo phong trào, huyện chủ trương căn cứ vào đặc điểm địa thế, đất đai, dân cư để gợi mở người dân chủ động lựa chọn những cách làm phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Tại xã Danh Thắng, giữa không gian xanh yên bình của những cánh đồng lúa và lạc bạt ngàn, đã xuất hiện những dãy phố làng, không thiếu những ngôi nhà xây kiên cố, kiến trúc hiện đại trị giá bạc tỷ. Phó Chủ tịch UBND xã Tạ Xuân Kiệm dẫn chúng tôi thăm cơ sở nuôi dế của anh Nguyễn Văn Phương tại thôn Trung Phú - chủ nhân của một trong những ngôi nhà như thế. Làm nghề nuôi dế trước đây anh chủ yếu dùng phương pháp thủ công. Sau này, khi ăn nên làm ra, vốn liếng kha khá, anh tính chuyện làm ăn lớn bằng cách đầu tư xây dựng cơ sở lơn mạnh, mở rộng quy mô sản xuất. Mỗi năm tháng anh xuất trại hàng chục kg dế thịt Cùng với anh Phương, xã Danh Thắng còn có gần chục hộ nuôi dế chuyên cung cấp con giống cho người chăn nuôi dế thịt ở huyện Yên Thế và một số nơi như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên. Cũng từ đây, hàng trăm hộ dân trong xã đã có thêm nghề nuôi dế cung cấp cho các trang trại và các nhà hàng, nhiều hộ nuôi đến hàng nghìn thùng. Để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học và có vốn liếng "lấy ngắn nuôi dài", người dân xã Danh Thắng cũng đổ đi các nơi kiếm kế sinh nhai

 

doc15 trang | Chia sẻ: lethao | Lượt xem: 2644 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận - Lợi ích của việc nuôi dế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Nhiều nước, nhất là các nước ở châu Á coi một số loại côn trùng là món ăn ngon. Ở nước ta các loại côn trùng như cào cào, châu chấu, dế, tằm, sâu chit, nhộng tằm, rươi. là những loại côn trùng được dùng làm món ăn, một số nơi được coi là món ăn quý. Với loài dế cũng có nhiều giống như: dế ché, dế cơm to con, thân màu nâu đen, hai chân sau to có màu nâu sẩm. Dế cơm có cùng kích cỡ như dế ché, cánh màu đen đậm, chân nâu nhạt, đây là hai giống to con và lịch lỡm nhất trong họ nhà dế. Ngoài ra còn có các loại dế nhỏ con hơn như dế mọi, dế ta, dế nhủi, dế mèn - cái tên quen thuộc trong tiểu thuyết "Dế mèn phiêu lưu ký" của nhà văn Tô Hoài, nhỏ con nhất và thường sống dưới lớp vỏ cây là dế dủi, không cánh. 1.2. Mục đính nghiên cứu - Dế là một loại côn trùng mà ta có thể nuôi và chế biến ra nhiều món ăn khác nhau ở một số nước như Ấn Độ , Đài Loan, Trung Quốc, thái Lan. Dế còn được coi là món ăn ngon, ở nhiêu nơi dế còn được coi đó như là một đăc sản. Những năm gần đây phong trào ăn dế và nuôi dế ở một số nước ngày càng phổ biến, thì ở VN ta một vài năm trở về đây cũng vậy nhất là ở trong TPHCM dế là một món ngon luôn có ở trên bàn nhậu, nhờ đó mà phong trào nuôi dế bắt đầu hình thành và đã có người giàu lên nhờ nuôi dế. - Vậy để đáp ứng nhu cầu một số nhà hàng và một số hộ chăn nuôi. Chúng tôi nghiên cứu vấn đề này để giúp các hộ nuôi dế, Trang trại dế đả cung cấp dế giông cho các hộ chăn nuôi và hướng dẫn kỹ thuật một cách nhiệt tình giúp người nuôi đạt hiệu quả tốt nhất. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Hiệp Hòa là một huyện trung du, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km. Phía Bắc giáp huyện Tân Yên. Phía Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh). Phía Đông giáp huyện Việt Yên. Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 20.110 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67%; đất lâm nghiệp chiếm 0,9%. Đây là một vùng có đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp. Trên địa bàn huyện có con sông Cầu chảy qua, không chỉ cung cấp nguồn nước tưới mà còn chứa trữ lượng tài nguyên cát, sỏi khá lớn. Các xã ven sông Cầu có nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa nổi tiếng, điển hình là làng nghề ươm tơ truyền thống tại xã Mai Đình. Gần đây còn nổi lên phong trào nuôi dế xoá đối giảm nghèo và làm giàu… Về giao thông đường bộ còn có tuyến Quốc lộ 37 chạy qua dài 14km, nối huyện Hiệp Hòa với tỉnh Thái Nguyên. Về nguồn nhân lực, dân số toàn huyện có khoảng 21 vạn người. Trong đó, độ tuổi lao động chiếm khoảng 45%, chủ yếu là lao động nông nghiệp. Về tiềm năng du lịch, huyện Hiệp Hòa có điểm du lịch văn hóa An toàn khu 2 tại núi Y Sơn (thuộc xã Hòa Sơn), thu hút nhiều khách du lịch tới thăm quan. Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm gần đây Hiệp Hòa đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong đó, phát huy lợi thế vùng đẩy mạnh sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản; xây dựng các cụm công nghiệp tại thị trấn Thắng và các xã nhằm thu hút đầu tư; chú trọng qui hoạch, đầu tư nâng cấp hệ thống chợ nông thôn tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu hàng hóa, phát triển thương mại – dịch vụ. Theo hướng đó, huyện đã ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; củng cố đội ngũ cán bộ theo hướng chuẩn hoá, nâng cao năng lực công tác, chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành từ huyện đến cơ sở. Trong phát triển kinh tế, đảng bộ, chính quyền huyện tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu theo hướng thâm canh, khuyến khích nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật, từng bước làm thay đổi nhận thức, tập quán sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi. Không cổ động làm kinh tế theo phong trào, huyện chủ trương căn cứ vào đặc điểm địa thế, đất đai, dân cư để gợi mở người dân chủ động lựa chọn những cách làm phù hợp với từng điều kiện cụ thể. Tại xã Danh Thắng, giữa không gian xanh yên bình của những cánh đồng lúa và lạc bạt ngàn, đã xuất hiện những dãy phố làng, không thiếu những ngôi nhà xây kiên cố, kiến trúc hiện đại trị giá bạc tỷ. Phó Chủ tịch UBND xã Tạ Xuân Kiệm dẫn chúng tôi thăm cơ sở nuôi dế của anh Nguyễn Văn Phương tại thôn Trung Phú - chủ nhân của một trong những ngôi nhà như thế. Làm nghề nuôi dế trước đây anh chủ yếu dùng phương pháp thủ công. Sau này, khi ăn nên làm ra, vốn liếng kha khá, anh tính chuyện làm ăn lớn bằng cách đầu tư xây dựng cơ sở lơn mạnh, mở rộng quy mô sản xuất. Mỗi năm tháng anh xuất trại hàng chục kg dế thịt Cùng với anh Phương, xã Danh Thắng còn có gần chục hộ nuôi dế chuyên cung cấp con giống cho người chăn nuôi dế thịt ở huyện Yên Thế và một số nơi như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên. Cũng từ đây, hàng trăm hộ dân trong xã đã có thêm nghề nuôi dế cung cấp cho các trang trại và các nhà hàng, nhiều hộ nuôi đến hàng nghìn thùng. Để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học và có vốn liếng "lấy ngắn nuôi dài", người dân xã Danh Thắng cũng đổ đi các nơi kiếm kế sinh nhai. Các thôn như Trung Phú, Đại Đồng có tới 70% số hộ có người đi làm ăn ở Hà Nội, Quảng Ninh... Nhưng điều đáng ghi nhận là không những nông dân không bỏ ruộng mà đồng đất ở đây vẫn quay vòng đủ ba vụ mỗi năm. Từ nguồn vốn hỗ trợ và huy động trong nhân dân, Danh Thắng đã có 70% đường và hơn 50% kênh mương được cứng hoá. Ba trường học và trạm y tế xã đều đạt chuẩn quốc gia. Hơn một nửa số hộ trong xã có kinh tế khá trở lên. Còn ở xã Đoan Bái, ông Đặng Văn Thiện, Chủ tịch UBND xã cho biết: "Từ nhiều năm nay, Đoan Bái có duyên với các dự án khoa học nông nghiệp của một số bộ, ngành. Vì thế cán bộ và nhân dân có điều kiện thuận lợi để tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa các giống cây, con có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất." Nông dân ở đây vốn có truyền thống trồng các giống đậu tương cao sản, nay thêm cây dưa bao tử, ớt, cà chua xuất khẩu, liên kết với Viện Ngô Trung ương trồng ngô giống, chăn nuôi lợn siêu nạc; đưa cây bưởi Diễn trồng thành trang trại, sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân bón hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong xã đã xuất hiện nhiều mô hình mới như nuôi dế, nuôi hươu lấy nhung, mở ra triển vọng đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi. Các biện pháp chỉ đạo sát thực tế của cấp uỷ, chính quyền các cấp cùng với đức cần kiệm, năng động, sáng tạo của người dân đã cho ra đời nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao như: luân canh lạc xuân - lúa mùa - khoai tây Đức ở các xã Danh Thắng, Đoan Bái, Hùng Sơn; nuôi cá bán thâm canh cho năng suất tăng gấp đôi so với phương pháp truyền thống (4 tấn lên 8 tấn) tại Đông Lỗ, Mai Đình, Xuân Cẩm, Hợp Thịnh; lúa - cá - cần ở Hoàng Lương; nhãn - bưởi Diễn - keo ở Lương Phong, Ngọc Sơn, Đức Thắng. Bên cạnh đó còn xuất hiện mô hình phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ như làng nghề ở Mai Trung... Thu nhập của người dân nông thôn Hiệp Hoà đến từ nhiều nguồn: sản xuất nông nghiệp, làm dịch vụ, xuất khẩu lao động, làm thuê... Những nguồn thu đó đều nhằm mục đích đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, mở mang sản xuất, dịch vụ, cải thiện đời sống làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi. Chạy dọc sông Cầu giờ đây là những làng quê trù phú của các xã Châu Minh, Mai Đình, Xuân Cẩm, Hợp Thịnh... Chỉ đạo phát triển sản xuất, huyện hướng các xã tập trung đầu tư theo khoảnh, theo vùng, khuyến khích chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại để thuận lợi cho việc thâm canh, phòng chống dịch bệnh và tiêu thụ sản phẩm. Theo đó, các trang trại ngày càng phát triển cả về số lượng, quy mô và chất lượng. Đến thời điểm này, toàn huyện có gần 500 trang trại và gia trại, tăng 145% so với 5 năm trước. Tổng doanh thu của các trang trại khoảng 100 tỷ đồng/năm. Kinh tế trang trại góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 1.000 ha với sản lượng hàng năm đạt 2.460 tấn. Tổng diện tích cây ăn quả toàn huyện khoảng 2.000 ha, sản lượng 10 nghìn tấn, gấp gần 3 lần so với 5 năm trước (trong đó diện tích cây ăn quả chủ lực như nhãn, bưởi Diễn tăng nhanh). Thu nhập bình quân trên một ha đất canh tác đến nay đạt 53 triệu đồng/năm (tăng 23 triệu đồng/ha/năm so với mục tiêu đại hội đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2005-2010 đề ra). Tuy nguồn kinh phí hỗ trợ không nhiều (khoảng 5-6 tỷ đồng/năm) nhưng nhờ lựa chọn đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, kế hoạch hợp lý, đến nay đã có 100% các tuyến đường huyện và liên xã, 554 km đường nông thôn được cứng hoá tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, vận tải hàng hoá, thúc đẩy KT-XH phát triển. Thu nhập bình quân đầu người toàn huyện đạt gần 10 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7%. đây là hình ảnh mô hình nuôi dế rất phổ biến hiện nay - Dế là loài đa thực, thức ăn gồm nhiều loại như rau, củ, mầm non cây cỏ, cây hoa màu... Nhà đầu tư có thể tận dụng nguồn rau củ, quả có sẵn trong tự nhiên để tiết kiệm chi phí, nhưng phải chọn cây tươi, không bị hư, úng. Mỗi tháng, 1 kg dế thịt (khoảng 1.000 con) ăn hết 3 kg cám, 6 kg cỏ, cà rốt, rau. Mỗi ngày, dế ăn 3 bữa: sáng, trưa và chiều. Dế sinh sản mạnh ở vùng đất khô ráo, ấm, nơi có nhiều cây cối phát triển. Chúng lớn lên bằng cách lột xác nhiều lần. Trứng dế thường được đẻ thành từng ổ trong môi trường đất ẩm. Mỗi ổ có từ vài chục đến hàng trăm trứng. Trứng hình hạt gạo hơi dài và có màu vàng pha nâu, kích thước khoảng 2,5-3 mm x 0,8-1mm. Mỗi con dế cái đẻ trung bình 300 - 500 trứng và có thể đẻ liên tục trong 7-10 ngày. Sau khi đẻ từ 10-15 ngày, dế mẹ chết và 7-10 ngày sau trứng sẽ nở. Sau 2 lần lột xác, dế non xuất hiện mầm cánh. Quá trình trưởng thành là từ 1,5-2 tháng. Và đây là giai đoạn bắt đầu thu hoạch, lấy thịt. Thu hoạch dế cũng là khâu quan trọng vì phải giữ cho thịt dế không bị mất chất lượng. Một mẹo nhỏ là có thể đựng dế trong bịch ni lông nhỏ rồi bỏ vào thùng giấy, bên trong đặt một ít cỏ tươi, vài cái rế. Cách này chỉ bảo đảm được chất lượng thịt dế trong điều kiện di chuyển xa khoảng 100 km, đến nơi thì chế biến ngay. Nếu nuôi tốt, một cặp dế bố mẹ có thể cho 1 kg dế con. Giá thịt dế trên thị trường hiện tại khoảng 250.000 đồng/kg. Như vậy với 80 cặp dế giống ban đầu, trừ chi phí cho điện, nước và nhân công thì 6 tháng sau nhà đầu tư có thể hoàn vốn, 1 năm sau đó là có thể thu về 160 triệu đồng. - Dế là một loài côn trùng ăn hại lá rất mạnh. Ðể tiến hành nuôi với số lượng lớn, quy trình nuôi phải khép kín thành từng khu hoặc tại các hộ gia đình, có quản lý chặt chẽ không để chúng trốn chạy ra ngoài làm ảnh hưởng đến cây trồng xung quanh Nếu di chuyển xa hơn nên đông lạnh trước khi di chuyển. Dế đông lạnh bằng cách rửa sạch dế đã thu hoạch qua nước sạch, hoặc nước muối 5%, sau đó cho vô khay rồi đem đông lạnh. Cách này có thể giữ dế được lâu hơn khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Giá dế giống: 15.000 đồng (1 con đực và 2 con cái) Giá thương phẩm: 250.000 đồng/kg CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Cơ sở lí luận Ở nước ta các loại côn trùng như cào cào, châu chấu, dế, tằm, sâu chit, nhộng tằm, rươi. là những loại côn trùng được dùng làm món ăn, một số nơi được coi là món ăn quý. Với loài dế cũng có nhiều giống như: dế ché, dế cơm to con, thân màu nâu đen, hai chân sau to có màu nâu sẩm. -Trong tự nhiên có rất nhiều loại dế như: dế ta, dế mèn, dế cơm, dế mọi, dế chó, dế dũi… Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật nuôi dế ta. Xuất phát từ thực tế sản xuất chăn nuôi các con vật truyền thống,  những năm gần đây gặp rủi ro do dịch bệnh, giá cả bấp bênh… nên nhiều nông dân ở huyện Hiệp Hòa đã mạnh dạn chuyển sang mô hình nuôi  dế thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao và dễ nhân ra diện rộng. Một số món ăn từ dế: Trước khi chế biến các món ăn từ dế, cần rút ruột, bóp bụng dế để bỏ ruột phân, rửa sạch sau đó mới chế biến. Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên giòn, chiên bơ, lăn bột, kho tiêu, xào mì, trộn gỏi, rim mặn, lẩu... ăn cùng với bánh phồng tôm, bánh tráng hoặc cuốn bánh tráng với rau sống là những món ăn đặc sản từ dế. Hiện nay, dế là một trong những món ăn được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất mạnh với giá 250.000- 300.000 đồng/kg. Hiện nay các món ăn chế biến từ dế đang được nhiều người ưa thích và coi là món "đặc sản". sau đây xin trân trọng giới thiệu kỹ thuật nuôi Dế 3.2. Kỉ thuật nuôi dế 1. Đặc điểm sinh học của Dế Dế thuộc loại côn trùng ăn tạp và phát triển rất nhanh, từ khi nở ra đến 45 ngày nó đã nặng tới 15 – 17 gram (trùng bình khoảng 700 con/kg), chúng bắt đầu mọc cánh (nếu nuôi dế thương phẩm thì 45 ngày là thời điểm xuất bán hiệu quả tốt nhất). Dế thành thục lúc 60 ngày tuổi, theo kinh nghiệm phân biệt Dế cái khác dế đực ở phần hậu môn: dế cái có “máng đẻ” còn dế đực phần hậu môn tròn hơn. Mỗi Dế cái đẻ khoảng 30 – 40 trứng/ngày 2. Kỹ thuật chăn nuôi: 2.1. Dụng cụ nuôi: Có thể tận dụng các thùng hàng bằng nhựa, chum, vại có đường kính từ 20 – 50 cm, nắp thùng làm bằng bìa cứng, phên tre, tấm ván mỏng…có khoét một lỗ ở giữa khoảng 3 – 4 xm để thông khí và quan sát bên trong và cung cấp ánh sáng. Khay cho dế đẻ có thể làm khay chuyên dùng bằng gỗ như khuôn gói bánh chưng hình vuông cỡ 5cm, cao 2cm; trong khay đẻ để một ít đất ẩm tơi, lượng đất ẩm trong khay dầy khoảng 1,5 cm. 2.2. Thức ăn chăn nuôi Thức ăn cho Dế là các loại cỏ hoà thảo tự nhiên và cám hỗn hợp như cám cho gia cầm úm (chủ yếu cho dế non) Cỏ được rửa sạch, nếu cỏ chuẩn bị từ trước đã ráo nước thì phun nước cho cỏ hơi ướt rồi bó thành từng bó nhỏ cỡ bằng nắm tay (0,1 – 0,2 kg/bó) để trong thùng nuôi cho dế ăn và leo trèo. Bột cám hỗn hợp của gia cầm úm để vào đĩa nhỏ với số lượng bằng 3% trọng lượng Dế cho ăn tự do. Nước uống của dế: có thể sử dụng bình phun nhỏ tưới hoa phun dưới dạng phun bụi vào thành thùng nhựa hoặc chum, vại đang nuôi Dế. 2.3. Kỹ thuật ấp trứng Mỗi ngày lấy khay đẻ trứng ra một lần và đưa khay mới vào để nhân trứng cho hôm sau. Khi đưa khay trứng vào hộp ấp (dùng cái hộp nhỏ như hộp đựng mì tôm) chuẩn bị khăn bông thấm nước ẩm (loại khăn rửa mặt trẻ em nhỏ, cỡ 10 x 10 cm, 1 cái đặt dưới đáy thùng ấp để đè khay trứng lên và 1 cái phủ lên mặt khay, đậy nắp hộp lại, để trong chuồng nuôi có che xung quanh, nhiệt độ thích hợp nhất từ 22 – 26oC, cứ 3 – 4 ngày thay khăn ướt 1 lần để giữ độ ẩm, sau 9 -10 ngày trứng bắt đầu nở, khi thấy dế đã nở hết (vào ngày thứ 11) thì lấy khay ra đưa Dế con vào hộp nuôi. 2.4. Kỹ thuật nuôi Dế con Tận dụng các hộp, thùng hoặc chum, vại nuôi Dế con cần về sinh sạch sẽ, sau đó xông hơi focmol để khử trùng Ban đầu Dế con ăn ít, cần cho cỏ non và bột cám tổng hợp có 17 – 21 % chất đạm (tương đương cám úm gia cầm), lượng cám tổng hợp khoảng 3 % trọng lượng dế; cho ăn theo bữa, mỗi bữa cách nhau khoảng 4 – 6 giờ, chú ý vệ sinh hộp nuôi, bỏ cỏ cũ ra, đưa cỏ mới vào. Cho Dế uống nước bằng cách phun ướt cỏ non rồi đưa vào thùng nuôi, khi Dế lớn có thể phun nước vào thành dụng cụ nuôi để cho uống. Khi Dế lớn cần san bớt đàn sang hộp mới tránh mật độ quá dầy 2.5. Kỹ thuật nuôi Dế bố mẹ Tỷ lệ ghép đôi giao phối đực cái là 1 đực : 1,5 - 2 cái Mật độ nuôi là 30 – 40 con/m2 Thức ăn cho Dế bố mẹ tương tự như Dế con  3. Một số chú ý về phòng chống địch hại Địch hại của Dế là chuột và kiến Đối với kiến cần phòng bằng rành nước xung quanh khu vực nuôi (đối với quy mô chăn nuôi lớn), Nếu nuôi ít có thể đặt các hộp nuôi trên các giá có chân giá ngâm trong bát nước. Đối với chuột cần dùng cả sinh học để diệt chuột. Theo các hộ đã chăn nuôi dế ở Lương Tài, Bắc Ninh và chuyên gia Nguyễn Lân Hùng thì ngoài các thiên địch trên, chưa thấy dế mắc bệnh gì khác. Hiện nay chưa có các công trình nghiên cứu sâu về con Dế, chúng tôi mong nhận được sự bổ sung của bạn đọc cùng chia sẻ kinh nghiệm nuôi Dế qua bản tin khuyến nông. Phân biệt dế đực, cái - Dế đực phần ''đầu ngực'' to hơn dế cái. - Dế đực cánh màu đen pha màu nâu không bóng mượt. - Dế cái cánh màu đen bóng mượt hơn dế đực. - Dế đực bụng nhỏ hơn dế cái vì bụng dế cái có trứng nên to hơn. - Dế đực không có bộ phận để đào đất ( giông như cái kim khâu quần áo) ở phần đuôi , còn dế cái thì có để chúng đào ổ đẻ. - Dế đực trưởng thành kêu vể ban đêm còn dế cái không kêu. 4. Cách cho dế đẻ - Khi thấy dế gáy và xù cánh là lúc dế chuẩn bị đẻ ta chuẩn bị khay đẻ và đất cho dế đẻ. - Đến chiều tối bạn thử đặt hai khay đất vào và theo dõi xem dể có bò lên đẻ không. - Nếu thấy dể đẻ thì sáng hôm sau các bạn lấy khay trứng ra và đưa đi ấp. - Thường trứng của 2- 3 ngày đầu tỷ lệ nở ít do trứng không được thụ tinh 100%. - Dế đẻ liên tục khi rac thì chết ( trung bình 30 - 35 ngày) Chú ý: Chỉ bỏ khay trứng vào thùng dể đẻ, sau khi trời đã tối và phải lấy ra vào sáng hôm sau. Nếu không dế bố mẹ có thể đào bới khay trứng lôn tung. 5. Cách ấp trứng - Tôi thường lấy khay trứng ra xịt nước xếp chúng chồng lên nhau cứ 2 - 3 khay 1. Sau đó dùng một cái khăn loại dày nhúng nước và vắt bớt một ít rồi chùm kín khay trứng. - Cứ một ngày xịt nước cho khay trứng 2 lần vào mùa hè 1 lần vào mùa đông, conf 2 ngay nhúng khăn ướt một lần. - Trứng ấp trong vòng từ 9 - 12 ngày là nở, trúng nở trong vỏng -4 ngày là hết. - Tôi thường để 2 khay trong một chậu, như vậy dế nở ra sẽ rất đều. - Các bạn không nen để trứng của 2 -3 ngàycungf một chậu, như vậy khi dế nở sẽ dẫn đến con to, con nhỏ không đồng đều. Chú ý: Khi các bạn xịt nước cho trứng thấy bề mặt đất có màu thâm nâu là được. Không nên xịt quá nhiều vì như vậy trứng sẽ rất dễ bị ung. 6. Cách nuôi dế từ mới nở đến 15 ngày tuổi. - Dế nở ra từ 2 khay trung bình được 2000 con. - Các bạn để từ 1 - 2 dế ( cái dế để bắc nồi cơm) vào chậu nuôi để cho dế đậu trèo leo. - Để 2 -3 búi cỏ vào chậu và một khay thức ăn ( cám gà) Chú ý: Các bạn tuyêt đối không được để khay nước vào chậu nuôi vì lúc này dế còn nhỏ dễ sa vào nước không bò ra được, sẽ dẫn đến chết đuối. - Ta chỉ lên phun sương vào 2 búi cỏ để dế uống nước. 7. Cách nuôi dế từ 15 - 30 ngày tuổi - Lúc này dế đã lớn các bạn có thể dặt một khay nước vào chậu cho dế uống nước mà không sợ dế bị chết đuối nữa. - Tôi thường để 1000 con trên một chậu, một khay nước , hai khay thức ăn ( cam gà) và một ít rau cỏ và 3 - 4 dế để cho dế đậu và trèo leo. - Cứ một ngày vệ sinh khay cho dế uống nước một lần, khay thức ăn thì 2 ngày một lần. Nếu còn cám ta cũng lên bỏ không lên tiếc, còn chậu nuôi thì 3 ngày donj phân một lần. 8. cách nuôi dế từ 30 - 45 ngày tuổi - Lượng dế trung bình từ 400 - 700 con - 2 khay thức ăn, một khay nước, 3 -4 dế để dế đậu trèo leo. - 1 ít rau cỏ hoặc cùi dưa hấu hay một số lá cây như đu đủ, sắn... 9. Làm thịt dế - làm thịt dế trước khi dế mọc cánh dài, thường ở vào 50 ngày tuổi. Vì lúc này trọng lượng của dế lớn nhất và béo nhất. - Không cho dế ăn từ 15- 20 tiếng trước khi làm thịt để ruột dế được sạch sẽ. - Trước khi làm thịt ngâm dế trong nước muối khoảng 2 phút. - Một tay cầm dế sao cho đầu con dế quay vào trong lòng bàn tay, bụng dế ngửa lên trên, tay kia cấu nhẹ phần mẩu đuôi và từ từ rút ruột dế ra khỏi bụng. - Sau khi đã làm sạch ruột dế các bạn rủa lại bằng nước sạch 2 - 3 lần và để dáo nước, lúc này các bạn có thể chế biến ra các món mà mình ưa thích Những lưu ý khi nuôi dế a. chọn giống và đặc điểm giống Chọn dế giống bố mẹ to, khỏe mạnh (đủ râu, chân, không dị tật). Tùy theo phương tiện nuôi mà phân số lượng hợp lý. Nuôi dế giống bố mẹ (ép đẻ) trong xô có dung tích 45 lít thì thả 20 dế cái, 10 dế đực. Nếu xô 80 lít thả 30 dế cái và 15 dế đực. Có thể nuôi dế trong xô, thau, chậu, khay có nắp đậy..., trước khi nuôi rửa sạch, phơi khô, nắp xô đục nhiều lỗ tạo thông thoáng. Trong xô nuôi, có rế (rế để xoong nồi) hay vĩ tre, rế có lỗ nhỏ (dày) nuôi dế con mới nở đến 25 ngày tuổi, loại thưa nuôi tiếp theo đến thu hoạch. Xô loại 45 lít xếp khoảng 10 rế, 80 lít thì 15 rế. Rế xếp chồng lên nhau tạo khoảng trống để khay đất cho dế đẻ trứng, máng thức ăn, nước uống. Đất dùng trong khay là đất xốp, ẩm vừa phải, có độ dày 3 - 4 cm (có thể dùng đất trộn với xơ dừa xay). Đất cho vào không có kiến, không bị ô nhiễm. Có thể dùng vỏ nghêu, hoặc bằng đồ sứ kích thước không quá lớn (tránh dế con té chết) làm máng thức ăn, nước uống cho dế. Thức ăn là cám chế biến, loại dùng cho gà con ăn. Cho dế ăn nên xay cám thành bột, để khô ráo, không mua cám nhiều một lúc dễ bị mốc. Có thể cho dế ăn thêm miếng dưa hấu (nhớ cắt bỏ phần ruột đỏ), lấy phần sát vỏ, không để nhiều. Cho ăn thêm rau xanh, cải ngọt, cà rốt, củ sắn, cỏ tươi... Chú ý thức ăn chỉ ăn trong ngày, còn dư phải bỏ. Cần lưu ý không cho dế ăn mầm đậu các loại, chúng sẽ bị rụng râu, chân mà chết. - Vóc dáng: Dế ta có kích thước trung bình với chiều dài cơ thể khoảng 2cm. Dế ta có 3 màu đặc trưng như: đen huyền, đỏ hoe và vàng nghệ. Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Trong tự nhiên, dế ta sinh trưởng, phát triển và sinh sản quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào mùa mưa. Dế ta có bản tính hung hăng, nhưng lại thích sống theo bầy đàn, môi trường sống rất đơn giản, không cầu kỳ, có thể ở hang hay trong những đám cỏ khô… nên có thể tổ chức chăn nuôi công nghiệp, nhưng phải đảm bảo chuồng trại nuôi dế tương tự như môi trường thiên nhiên hoang dã. Môi trường sống tự nhiên, dế sẽ ít dịch bệnh, ít tốn công chăm sóc. Dế leo trèo rất giỏi và có thể nhảy xa chừng nửa mét. Đặc biệt, tối đến dế có thể bay xa hàng mét… Tuổi thọ: Tuổi thọ của các loại dế khác nhau. Tuổi thọ của dế ta trung bình là 4 tháng. - Tên gọi: Trong tự nhiên có rất nhiều loại dế như: Dế ta, dế mèn, dế cơm, dế mọi, dế chó, dế dũi. . . Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật nuôi dế ta. Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Trong tự nhiên, dế ta sinh trưởng, phát triển và sinh sản quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào mùa mưa. Dế ta có bản tính hung hăng, nhưng lại thích sống theo bầy đàn, môi trường sống rất đơn giản, không cầu kỳ, có thể ở hang hay trong những đám cỏ khô. . . nên có thể tổ chức chăn nuôi công nghiệp, nhưng phải đảm do chuồng trại nuôi dế tương tự như môi trường thiên nhiên hoang dã. - Tuổi thọ: Tuổi thọ của các loại dế khác nhau. Tuổi thọ của dế ta trung bình là 4 tháng Thức ăn: Chủ yếu là rau, cỏ, củ, quả, trái cây, mầm cây, côn trùng nhỏ và bột ngũ cốc các loại... Dế ít uống nước, nhưng phải thường xuyên có đủ nước sạch và mát cho dế uống tự do. Sinh trưởng, phát dục: Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển dế ta trải qua 4 lần lột xác. Sau mỗi lần lột xác dế ta lớn nhanh hơn. Từ lúc nở ra cho đến khoảng 45 ngày tuổi là đã đó thể xuất bán. Từ ngày thứ 45 trở đi để phát triển cánh. Hai tháng tuổi để đã thành thục sinh dục và có thể ghép đôi giao phối cho sinh sản. Với chiều dài cơ thể khoảng 2cm, nặng khoảng 800-1.000 con/kg. - Sinh sản: 60 ngày tuổi dế đã trưởng thành và bắt đầu sinh sản. Dế mái có biểu hiện động dục (thích gần dế đực) trước lúc đẻ khoảng 15 ngày. Khi đẻ dế mái tìm đến những chỗ đất tơi xốp và ấm để đẻ trứng, mỗi lần đẻ vài trăm trứng. Giá trị và thị trường: Nhiều nước, nhất là các nước ở châu Á coi một số loại côn trùng là món ăn ngon. Trong những nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng côn trùng có rất nhiều tác dụng bổ ích đối với con người, đặc biệt có thể sử dụng chúng như những món ăn thuộc hàng "đặc sản". Một số món ăn từ dế: Trước khi chế biến các món ăn từ dế, cần rút ruột, bóp bụng dế để bỏ ruột phân, rửa sạch sau đó mới chế biến. Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên giòn, chiên bơ, lăn bột, kho tiêu, xào mì, trộn gỏi, tim mặn, lẩu... Hiện nay, dế là một trong nhũng món ăn được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất mạnh với giá 250.000- 300.000 đồng/kg. b. Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng dế Chọn giống: Chọn dế giống bố mẹ là tơ mới biết gáy, dế mái chưa sinh sản, to, khỏe mạnh nhất trong đàn, không dịch bệnh, dị tật (đủ râu, chân...). Chuồng trại: Cao ráo, yên tĩnh, thoáng mát có mái che mưa che nắng, xung quanh có lưới đề phòng mèo, chuột bắt dế, có rãnh nước để phòng kiến xâm nhập gây hại cho dế... + Chuồng nuôi và thiết bị chăn nuôi: - Chuồng nuôi: Chuồng nuôi có thể là xô, thau, khay, chậu... có nắp đậy nhưng phải đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát. Nắp đậy, có thể là cái lồng bàn hoặc nắp xô đục nhiều lỗ tạo thông thoáng, ban ngày mở ra, chiều tối đậy lại để phòng tránh dế bay đi và mèo, chuột bắt dế... Trước khi nuôi phải rửa sạch, phơi khô chuồng nuôi và trang thiết bị phục vụ chăn nuôi dế. Tùy theo phương tiện và điều kiện nuôi mà bố trí số lượng nuôi hợp lý. Nuôi dế giống bố mẹ (ép đẻ) trong xô có dung tích 40-50 lít thì thả 20 dế cái, 10 dế đực. Trong xô 70-80 lít thì thả 30 dế cái và 15 dế đực... - Thiết bị chăn nuôi: Rế tre, máng đẻ, máng thức ăn, nước uống cho dế đơn giản, có thể dùng vỏ nghêu, hoặc làm bằng xi măng, đồ sành sứ kích thước không quá lớn nhằm hạn chế dế con té chết (đường kính khoảng 10 -15 cm, dày khoảng 1,5 - 2,0 cm, sâu khoảng 0,5-1,0cm). Trong chuồng nuôi, có rế tre (rế để xoong nồi đường kính 15- 20 cm) hay vỉ tre, rế có lỗ nhỏ (dày) nuôi dế con mới nở đến 25 ngày tuổi, loại thưa nuôi tiếp theo đến thu hoạch. Xô loại 45 lít xếp khoảng 10 rế, xô 80 lít thì 15 rế. Rế xếp chồng lên nhau tạ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận - Lợi ích của việc nuôi dế.doc
Tài liệu liên quan