Tóm tắt Luận án Nghiên cứu chế tạo chất lỏng từ trên nền oxit sắt siêu thuận từ định hướng ứng dụng chụp ảnh cộng hưởng từ Mri

Khối u rắn dưới da 15 ngày tuổi ở đùi của chuột. Khối u đặc, chưa hoại tử và có

cấu trúc tương đối đồng nhất. Chúng tôi tiến hành chụp MRI và thu được hình ảnh chụp

ở thời điểm ngay sau khi tiêm trực tiếp hệ chất lỏng từ Fe3O4@PMAO vào khối u chuột

và tiêm theo tĩnh mạch (Hình 5.14 và hình 5.15). Để đánh giá sự phân bố của hệ nano

Fe3O4@PMAO trong khối u rắn dưới da chuột, khối u sau khi được tiêm hệ nano từ sẽ

được theo dõi theo thời gian dưới góc chụp 90o theo kiểu Axial và Coronal

pdf27 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 03/03/2022 | Lượt xem: 84 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Nghiên cứu chế tạo chất lỏng từ trên nền oxit sắt siêu thuận từ định hướng ứng dụng chụp ảnh cộng hưởng từ Mri, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ủa, solgel, vi nhũ tương, thủy nhiệt, phân hủy nhiệt, vi lưu, v.v.. Các phương pháp hóa học có thể tạo ra các hạt nano với độ đồng nhất khá cao và tạo môi trường thuận lợi để có thể bọc hạt và chuyển pha các hạt từ môi trường dầu sang môi trường nước. Mỗi phương pháp nêu trên đều có những đặc điểm khác nhau. 5 1.3.2. Các công nghệ bọc hạt trong dung môi nước Đối với các hạt nano được tổng hợp bằng phương pháp hóa học trong dung môi nước thì việc bọc hạt hay chức năng hóa bề mặt hạt nano sau khi chế tạo là một yếu tố rất quan trọng để có thể vừa đảm bảo được tính chất từ cũng như tính tương hợp sinh học. Khi bề mặt được bọc và chức năng hóa, các hạt nano dễ dàng phân tán trong một dung môi phù hợp và trở thành những hạt keo đồng nhất gọi là chất lỏng từ. 1.3.3. Các quy trình chuyển pha từ dung môi hữu cơ sang dung môi nước Để thu được các hạt nano từ có chất lượng cao, việc chế tạo mẫu thường được tiến hành trong dung môi hữu cơ ở nhiệt độ sôi cao như: benzyl ther, phenyl ether, octadecene Do đó, trước khi có thể sử dụng trong y sinh, các hạt nano từ này cần phải được chuyển từ dung môi hữu cơ sang dung môi nước thông qua các quy trình chuyển pha (phase transfer process). 1.4. Ứng dụng của hệ hạt nano từ trong y sinh Các hạt nano từ có tiềm năng ứng dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau. Trong y sinh, các hạt nano từ có thể được sử dụng để tách chiết các phân tử sinh học dùng từ trường, các chất dẫn thuốc hướng đích, các chất làm tăng độ tương phản trong kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) và ứng dụng đốt từ bằng từ trường trong điều trị bệnh ung thư. Tuy nhiên, luận án này tập trung nghiên cứu định hướng ứng dụng hạt nano từ Fe3O4 làm chất tăng cường ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (MRI). CHƯƠNG 2. KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM 2.1. Tổng hợp hệ chất lỏng từ Fe3O4@CS tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt Hệ hạt nano chất lỏng từ Fe3O4@CS được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt theo sơ đồ hình 2.1. Hình 2.1. Quy trình tổng hợp hệ chất lỏng từ Fe3O4@CS. 6 2.2. Tổng hợp hệ hạt nano Fe3O4@OA/OLA bằng phương pháp phân hủy nhiệt Hệ hạt nano Fe3O4@OA/OLA được tổng hợp bằng phương pháp phân hủy nhiệt theo sơ đồ hình 2.2. Hình 2.2. Quy trình chế tạo hạt nano Fe3O4@OA/OLA. 2.3. Chuyển pha hạt nano từ từ dung môi hữu cơ sang nước Quá trình chuyển pha hạt nano từ từ dung môi hữu cơ sang nước được thực hiện theo sơ đồ hình 2.3. F e 3 O 4 F e 3 O 4 F e 3 O 4 Hình 2.3. Quy trình bọc và chuyển pha bằng PMAO. 2.4. Các phương pháp đặc trưng Nghiên cứu cấu trúc của mẫu bằng các kỹ thuật nhiễu xạ tia X, hiển vi điện tử. Tính chất từ được khảo sát bằng các phép đo từ trên hệ từ kế mẫu rung. Sử dụng phổ 7 hấp thụ hồng ngoại, phân tích trọng lượng để đánh giá sự có mặt của các nhóm chức trên bề mặt hạt và sự suy giảm khối lượng của lớp polymer bọc hạt từ. Kỹ thuật tán xạ laze động xác định kích thước thủy động và độ bền của chất lỏng từ. 2.5. Phương pháp quy hoạch thực nghiệm Trong các nghiên cứu thực nghiệm hoá học và công nghệ hoá học, có rất nhiều các bài toán thực nghiệm được mô tả thành bài toán cực trị: xác định điều kiện tối ưu của quá trình, thành phần tối ưu của hỗn hợp Quy hoạch hoá thực nghiệm cho phép thay đổi đồng thời tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đồng thời cho phép đánh giá định lượng các hiệu ứng cơ bản và các hiệu ứng tương tác đồng thời của các yếu tố, từ đó tối ưu hóa được các yếu tố công nghệ. 2.6. Đánh giá độc tính của chất lỏng từ lên tế bào ung thư Đánh giá khả năng gây chết tế bào ung thư và tế bào lành của chất lỏng từ chế tạo. 2.7. Thử nghiệm khả năng làm chất tương phản trong kỹ thuật chụp anh MRI Thực nghiệm chụp ảnh MRI trọng T1, trọng T2 dùng cho các nghiên cứu tăng độ tương phản ảnh các mẫu vật liệu chế tạo (trên máy 1.5T MRI scanner, SIEMENS MAGNETOM, Germany). CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU HỆ CHẤT LỎNG TỪ TRÊN NỀN OXIT SẮT TỔNG HỢP BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY NHIỆT 3.1. Thực hiện quy hoạch thực nghiệm bậc hai ba mức tối ưu Bảng 3.1. Ma trận thực nghiệm và kết quả tổng hợp chất lỏng từ theo từng thí nghiệm STT Mức độ Nhiệt độ ủ mẫu Thời gian Nồng độ Fe3+ Từ độ bão hòa (emu/g) A B C 1 + + - 180 4,00 0,1 34,73 2 + - + 180 2,00 0,25 53,22 3 - + + 120 4,00 0,25 61,89 4 - - - 120 2,00 0,10 57,26 5 -1,414 0 0 107,57 3,00 0,17 55,38 6 1,414 0 0 192,43 3,00 0,17 63,21 7 0 -1,414 0 150 1,59 0,17 61,4 8 0 1,414 0 150 4,41 0,17 60,07 9 0 0 -1,414 150 3,00 0,07 46,67 10 0 0 1,414 150 3,00 0,28 59,96 11 0 0 0 150 3,00 0,17 66,67 12 0 0 0 150 3,00 0,17 63,32 13 0 0 0 150 3,00 0,17 64,68 8 Yếu tố Giá trị F Giá trị p prob > F Mô hình 35.75 0,0068a A 10.64 0,0038a B 7.31 0,0457b C 30.64 0,0116b AB 9.27 0,0308b AC 76,96 0,0031a BC 5,83 0,0346b A2 33,46 0,0103b B2 21,85 0,0185b C2 107,69 0,0019a R2=0,9908 Hình 3.2. Kết quả phân tích ANOVA tối ưu quá trình tổng hợp các yếu tố (a có ý nghĩa độ tin cậy α= 0,01; bcó ý nghĩa độ tin cậy α=0,05) Hình 3.3. Đồ thị bề mặt đáp ứng biểu diễn sự tác động của từng cặp yếu tố (AB, AC) đến giá trị từ độ và mức độ mong muốn theo các cặp tương tác. Phân tích sự phù hợp của mô hình và sự có ý nghĩa của mô hình được đánh giá qua phân tích ANOVA (hình 3.2) và các chỉ số tương quan. Sự có ý nghĩa của các hệ số hồi quy được kiểm định bởi chuẩn F, với các giá trị p< 0,05 cho biết các hệ số hồi quy có ý nghĩa. Như vậy, ở hình 3.2 cho thấy giá trị “Model- F-value” là 35,75, mô hình hoàn toàn có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99,08%. Với tất cả các yếu tố nhiệt độ ủ mẫu, thời gian, nồng độ Fe3+ và từng cặp các yếu tố này đều có giá trị p<0,05 cho biết từng yếu tố này cũng tương tác với nhau và đều có ý nghĩa (hình 3.2) điều này được minh họa rõ hơn khi quan sát bề mặt đáp ứng ở hình 3.3. Hình 3.4 mô tả đường fit theo hàm Langevin của các mẫu ở điều kiện tối ưu M11 - M13 tại từ trường 10 kOe. Từ hình này cho thấy số liệu thực nghiệm trên đường đo 0 0.01 0.02 0.03 0.04 0.05 B A C A B B 2 C A 2 A B C C 2 p -v al u e Variable 9 M(H) của tất cả các mẫu được đo ở nhiệt độ 300K gần trùng khớp theo hàm Langevin với độ chính xác cao (R2 > 0,998). Hình 3.4. Đường M(H) fit theo hàm Langevin của mẫu tại điều kiện tối ưu 3.2. Đặc trưng về cấu trúc và hình thái của hạt nano từ tính Fe3O4@CS (a) (b) (c) Hình 3.5. Ảnh nhiễu xạ tia X (a) và phổ FTIR (b) và giãn đồ TGA của vật liệu nano Fe3O4, CS và vật liệu nano Fe3O4@CS (c) Hình 3.5a cho thấy tất cả các vạch nhiễu xạ của các mẫu đều trùng vạch chuẩn của Fe3O4 với cấu trúc spinel. Việc kết hợp với Chitosan làm các pic của mẫu nano Fe3O4@CS có độ nhiễu hơn các pic của mẫu Fe3O4 tinh khiết tuy nhiên không làm thay đổi cấu trúc tinh thể. Hình 3.5b (a) cho thấy, trên phổ hồng ngoại của mẫu Fe3O4@CS xuất hiện các dao động đặc trưng liên quan đến các nhóm chức của hạt Fe3O4 và lớp vỏ bọc CS. Điều này chứng tỏ rằng các hạt nano Fe3O4 đã được bọc bởi CS. Trên ảnh TEM (hình 3.6), các hạt có dạng hình cầu với kích thước nhỏ từ 12-18 nm và tương đối đồng đều, các hạt sau khi bọc Fe3O4@CS có kích thước lớn hơn so với hạt Fe3O4 trước khi bọc. Tuy nhiên các hạt khi phân tán trong nước chưa được dạng đơn phân tán, các nhóm có hiện tượng co nhóm lại với phần lớp vỏ hữu cơ chitosan khoảng 21,5% (hình 3.5c). 10 Hình 3.6. Ảnh TEM hạt Fe3O4@CS điều chế ở điều kiện tối ưu chế tạo bằng phương pháp thủy nhiệt. 3.3. Đặc trưng về độ bền của hệ chất lỏng từ Fe3O4@CS Hình 3.7. Giản đồ phân bố kích thước hạt (DLS) của chất lỏng từ Fe3O4@CS tại các giá trị pH (a) và nồng độ muối NaCl khác nhau (b) Bằng việc xác định độ bền của mẫu chất lỏng Fe3O4@CS trong môi trường trường sinh lý cho thấy mẫu chất lỏng có độ bền cao trong dải pH rộng, thời gian dài và có độ bền khi nồng độ muối lên tới 300 mM. Điều này cho thấy, mẫu chất lỏng Fe3O4@CS có tính chất phù hợp trong điều kiện y sinh. 3.4. Thử nghiệm đánh giá độc tính của hệ chất lỏng từ Fe3O4 bọc chitosan Hình 3.8. Tỷ lệ sống sót của tế bào Sarcoma 180 sau khi ủ trong 48 tiếng với Fe3O4@CS. Dãy đồng độ thử nghiệm: (C1): 500 µg/ml, (C2): 250 µg/ml, (C3): 125 µg/ml, (C4): 62,5 µg/ml, (C5): 30,25 µg/ml and (C6): 15,125 µg/ml. Các giá trị được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (SD) (a); Hình thái tế bào Sarcoma 180 quan sát dưới kính hiển vi soi ngược. CA: đối chứng sinh học. CB: Đối chứng dung môi DMSO 11 Kết quả của thử nghiệm MTT được thể hiện trong hình 3.8, qua đó, chất lỏng nano từ Fe3O4@CS không gây độc cho tế bào Sarcoma 180 với 83% - 106% tế bào sống sót sau khi ủ 48 tiếng với chất lỏng nano từ với các nồng độ 15.125 µg/ml và 30.25 µg/ml. Khi tiến hành tăng nồng độ hạt nano lên tới 62.5 µg/ml, 125 µg/ml, 250 và 500 µg/ml, tỷ lệ tế bào sống sót giảm xuống tương ứng là 66.1%, 38.4%, 17.8% và 2.8135%. Theo đó, độc tính của chế phẩm nano từ Fe3O4@CS có tính chất tuyến tính với nồng độ khi sự gia tăng nồng độ chất lỏng từ dẫn tới việc làm giảm sự sinh trưởng của tế bào. Từ kết quả thử nghiệm in vitro thu được cũng như so sánh với các công bố gần đây, có thể kết luận rằng vật liệu nano từ bọc chitosan Fe3O4@CS không gây độc lên dòng tế bào ung thư chuột Sarcoma 180. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU HỆ CHẤT LỎNG TỪ TRÊN NỀN OXIT SẮT TỔNG HỢP BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN HỦY NHIỆT 4.1. Ảnh hưởng của dung môi và nhiệt độ lên tính chất của hạt Fe3O4 Hình 4.1. Giản đồ XRD của các mẫu Fe3O4 được chế tạo ở các nhiệt độ phản ứng khác nhau trong các dung môi khác nhau Bằng việc khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nhận thấy mẫu được chế tạo ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ dung môi cho các hạt có kích thước nhỏ, không đồng đều, biên hạt không rõ nét. Dung môi dibenzyl ether cho các hạt không đồng nhất về hình dạng, kích thước không đồng đều so với dung môi octadecene. Các hạt có kích thước đồng đều với biên hạt rõ nét hơn khi nhiệt độ phản ứng được tăng lên 300 đến 310 oC và 320 oC. Điều này cho thấy nhiệt độ và bản chất của dung môi là yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển hạt. 12 Hình 4.1. Đường cong từ hóa và đường cong từ hóa phóng đại trong vùng từ trường nhỏ dùng để xác định Hc của các mẫu ở các nhiệt độ trong các dung môi khác nhau Giá trị từ độ bão hòa Ms tăng từ 51 emu/g (OIO-DIO1) đến 59 emu/g (OIO-DIO2) và 62 emu/g (OIO-DIO3) khi thay đổi nhiệt độ phản ứng từ 270oC đến 310oC (hình 4.1c). 4.2. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng lên cấu trúc và tính chất từ Hình 4.2. Ảnh TEM của các hạt mẫu Fe3O4 được chế tạo ở các thời gian khác nhau ở nhiệt độ phản ứng 310 oC Hình 4.2 cho thấy trong tất cả các mẫu đều có mặt các hạt hình cubic và hình cầu với kích thước tương đối đồng đều. Kích thước hạt trung bình (DXRD) của các mẫu tăng từ 5,2 nm đến 11,2 nm tương ứng với thời gian phản ứng tăng từ: 0,5 giờ đến 2 giờ. Nhìn vào ảnh TEM chúng ta nhận thấy biên hạt trở nên rõ nét hơn khi thời gian phản ứng tăng. Hình 4.3 là các đường cong từ hóa của các mẫu Fe3O4 chế tạo với các thời gian phản ứng khác nhau. Như vậy, bằng việc thay đổi thời gian phản ứng, các mẫu hạt nano Fe3O4 đơn pha có kích thước từ 7,52 nm đến 13,15 nm tương ứng với giá Hình 4.3. Đường cong từ hóa và đường cong từ hóa phóng đại trong vùng từ trường nhỏ dùng để xác định Hc của các mẫu ở các thời gian khác nhau 13 trị từ độ tăng từ 53 emu/g đến 65 emu/g đã được chế tạo. Tuy nhiên, thời gian kéo dài có thể dẫn đến kích thước hạt lớn do đó giá trị lực kháng từ lớn và có thể không đạt được trạng thái siêu thuận từ. 4.3. Chế tạo chất lỏng từ chứa hạt nano từ tính Fe3O4 bọc bằng PMAO (a) (b) Hình 4.4. Ảnh mẫu Fe3O4 trước và sau khi chuyển pha trong (a) và ảnh HRTEM của hạt Fe3O4 trước khi bọc PMAO trong dung môi hexane và hạt Fe3O4 bọc bởi PMAO trong nước (b) Hình 4.4a là ảnh chụp của mẫu trước và sau khi chuyển pha bằng PMAO trong dung môi n-hexane và nước. Có thể thấy mẫu trước khi bọc PMAO phân tán rất tốt trong hexane và hoàn toàn không phân tán trong nước. Sau khi bọc PMAO, bề mặt của các hạt Fe3O4 trở thành hydrophilic và phân tán tốt trong nước, không phân tán trong hexane. Như vậy, có thể nhận định rằng lớp polyme đã bao phủ lên bề mặt các hạt và giúp chúng ổn định, phân tán tốt trong nước. Hình 4.5. Ảnh TEM của các mẫu Fe3O4@PMAO pha loãng ở các nồng độ khác nhau Quan sát ảnh TEM và HR-TEM trên hình 4.4 và hình 4.5 cho thấy các mẫu sau khi bọc vẫn có cả dạng hình cầu, với kích thước hạt phân bố đồng đều. Kích thước hạt của các mẫu sau khi bọc đều lớn hơn so với kích thước hạt của mẫu ban đầu, tương ứng với kích thước trung bình là 9,6 nm và 12,1 nm. Hình 4.6. Đường M(H) ở nhiệt độ phòng của các mẫu Fe3O4, Fe3O4@PMAO (a) và phổ FTIR của Fe3O4 với lớp vỏ bọc OA, OLA và PMAO (b) F e 3 O 4 F e 3 O 4 F e 3 O 4 14 Từ hình 4.6 có thể thấy, số liệu thực nghiệm trên đường đo M(H) của mẫu chưa bọc (Fe3O4) và mẫu chất lỏng chứa hạt Fe3O4@PMAO khớp hoàn toàn theo hàm Langevin, có thể cho rằng các mẫu chất lỏng từ này có tính chất siêu thuận từ ở nhiệt độ phòng. Hình 4.7. Gía trị thế zeta và hình ảnh mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO sau 1 tháng chế tạo (a) 3 tháng (b) và sau 6 tháng chế tạo (c) Khả năng đáp ứng về độ bền trong môi trường sinh lý cơ thể cũng là một trong những yêu cầu đối với hạt nano từ cho ứng dụng y sinh. Như chúng ta đã biết nồng độ muối trong cơ thể duy trì trong khoảng 165 ÷ 180 mM, độ pH  7,5. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát độ bền của mẫu chuyển pha trong môi trường muối sinh lý với nồng độ lần lượt là 100 mM, 200 mM, 250 mM và 300 mM với pH là 7,5. Kết quả khảo sát cho thấy các hạt bọc PMAO tổng hợp được hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về độ bền cho mục đích y sinh. Hình 4.8. Gía trị thế zeta và hình ảnh mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO ở các nồng độ muối khác nhau 4.4. Thử nghiệm đánh giá độc tính của hệ chất lỏng từ Fe3O4 chuyển pha và bọc bằng PMAO Hình 4.9. Kết quả độc tính của hệ nano từ Fe3O4@PMAO trên ba dòng tế bào ung thư người Hep-G2, MCF-7 và RD cùng 1 dòng tế bào lành của khỉ Vero. Nồng độ của Fe3O4@PMAO trong đồ thì này là 25 ug/ml; DMSO được dùng làm đối chứng dung môi và chất chuẩn pha trong DMSO được dùng làm đối chứng dương. Hình ảnh tế bào quan sát dưới kính hiển vi Optika 4083.B1 với vật kính 40X. 15 Độc tính trên tế bào của hệ vật liệu nano từ PMAO được đánh giá trên ba dòng tế bào ung thư người Hep-G2, MCF-7, RD và một dòng tế bào lành từ khỉ Vero bằng phương pháp Sulforhodamine B (SRB). Kết quả phân tích SRB trên bốn dòng tế bào được biểu diễn trong hình 4.9 cho thấy DMSO tại nồng độ thử nghiệm không có tác động gây độc trên tế bào với 100% tế bào tăng sinh trong khi chất chuẩn ở mẫu đối chứng dương lại gần như diệt toàn bộ tế bào ung thư chỉ sau 72h và gây ức chế tăng sinh mạnh đối với tế bào lành. So sánh với kết quả của đĩa ủ với hệ chất lỏng nano từ Fe3O4@PMAO, nhận thấy các giá trị gần như không thay đổi nhiều so với đối chứng dung môi với tỷ lệ tế bào tăng sinh trên dòng tế bào Hep-G2, MCF-7, RD và Vero lần lượt là 95.45%, 99.64%, 99.63% vào 100%. Qua đó kết luận rằng hệ vật liệu Fe3O4@PMAO hoàn toàn không có tác dụng gây độc lên bốn dòng tế bào này. Điều này cho thấy vật liệu Fe3O4@PMAO có tiềm năng lớn trong ứng dụng chẩn đoán hình ảnh và điều trị ung thư. CHƯƠNG 5: ĐẶC TRƯNG ĐỘ HỒI PHỤC R1, R2, THỬ NGHIỆM ĐỘC TÍNH VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG PHẢN ẢNH BẰNG KỸ THUẬT CHỤP ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ MRI 5.1. Đánh giá độ hồi phục r1, r2 của hệ chất lỏng từ Hình 5.1 và hình 5.2 là ảnh cộng hưởng từ của mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO ở các nồng độ: 2,5 µg/ml, 5,0 µg/ml, 10 µg/ml, 15 µg/ml, 25 µg/ml và 30 µg/ml theo chế độ trọng T1, T2 ở các điều kiện chụp giá trị TR, TE khác nhau. TE = 12; TR = 100 TE = 12; TR = 200 TE = 12; TR = 400 Hình 5.1. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T1W, TR= 100 ms (a), TR =200 ms (b), TR =400 ms (c), TE =12 ms đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO trong môi trường agar 2%, (B) Hệ nano từ Fe3O4@CS trong môi trường agar 2%. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng là (1) 2,5 µg/ml, (2) 5,0 µg/ml, (3) 10,0 µg/ml, (4) 15,0 µg/ml, (5) 25,0 µg/ml và (6) 30,0 µg/ml. TE = 11; TR = 3970 TE = 23; TR = 3970 TE = 34; TR = 3970 TE = 57; TR = 3970 TE = 91; TR = 3970 TE=113; 16 TR=3970 TE = 91; TR = 3970 Hình 5.2. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T2W, TE =11 ms (a), TE =23 ms (b), TE = 34 ms (c), TE= 57 ms (d), TE =91 ms (e), TE =113 ms (f), TR =4000 ms đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO trong môi trường agar 2%, (B) Hệ nano từ Fe3O4@CS trong môi trường agar 2%. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng là (1) 2,5 µg/ml, (2) 5,0 µg/ml, (3) 10,0 µg/ml, (4) 15,0 µg/ml, (5) 25,0 µg/ml và (6) 30,0 µg/ml. Từ hình 5.1 và hình 5.2 ta thấy, mẫu đối chứng agar 2% có ảnh mầu trắng là mẫu có nồng độ C = 0 µg/ml (không có nồng độ của mẫu chất lỏng Fe3O4@PMAO). Sáu ảnh thứ tự từ trắng đến đen đặt trong các giếng theo chiều từ trái sang phải là của các mẫu có nồng độ tương ứng: 2,5; 5; 10; 15; 25; và 30 µg/ml. Sự tương phản thay đổi rất rõ ràng khi thay đổi một lượng nhỏ nồng độ của mẫu Fe3O4@PMAO. Các chất tương phản ảnh MRI có tác động giống nhau là làm tăng giá trị tín hiệu chế độ chụp ảnh trọng T1 (tăng tốc độ hồi phục dọc R1) và làm giảm tín hiệu chế độ chụp trọng T2 (giảm tốc độ hồi phục ngang R2). Nghịch đảo của các thời gian hồi phục T1, T2 là tốc độ hồi phục R1, R2. Tuy vậy, khả năng tăng hay giảm tín hiệu này lại phụ thuộc vào độ hồi phục ri (i = 1,2, tương ứng cho hồi phục dọc và hồi phục ngang) của từng chất lỏng từ cụ thể. Độ hồi phục ri của các chất lỏng từ có thể xác định từ quan hệ tuyến tính giữa tốc độ hồi phục Rx: R1,2 = 1/T1,2 = Ro1,2 + r1,2.C (5.1) Hình 5.3. Đường cong hồi phục T2 (suy giảm về 0) đo cho các mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO (a) Fe3O4@CS (b) ở các nồng độ khác nhau. 17 (a) (b) Hình 5.4. Tốc độ hồi phục ngang (a) và hồi phục dọc (b) của mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO (a) và Fe3O4@CS (b). Bảng 5.1. .Việc làm khớp hàm phụ thuộc của R1 và R2 vào nồng độ mẫu chất lỏng theo biểu thức (5.1) cho thấy sự phụ thuộc này là tuyến tính. Từ bảng 5.1, ta thấy rằng mẫu chất lỏng từ chuyển pha, bọc bằng PMAO và bọc bằng CS của chúng tôi cho độ hồi phục ngang cao hơn hẳn giá trị của chất thương phẩm Resovist và một số sản phầm thương mại. Như vậy, đúng như mong muốn, chất lỏng từ hạt siêu thuận từ trên nền Fe3O4 của chúng tôi có thể sử dụng làm chất tăng tương phản chụp ảnh MRI theo chế độ trọng T2 tốt được. 5.2. Đánh giá khả năng tăng tương phản ảnh chụp cộng hưởng từ in vitro trong các môi trường khác nhau 5.2.1. Đánh giá khả năng tương phản trong môi trường nước của hệ chất lỏng từ và sản phẩm thương mại Resovist. (a) (b) Hình 5.5. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T2W, TE= 62 ms (a), TE =75 ms (b), TR =4000 ms đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO trong môi trường nước, (B) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist) trong môi trường nước, (C) Hệ nano từ Fe3O4@CS trong môi trường agar 2%, (D) Mẫu đối chứng (không có hạt từ) trong môi trường nước. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng là (1) 5,0 µg/ml, (2) 10,0 µg/ml, (3) 15,0 µg/ml, (4) 30,0 µg/ml, (5) 45,0 µg/ml. Khi loại bỏ ảnh hưởng của những yếu tố như protein và lipid từ tế bào, hình ảnh MRI trên môi trường nước cho thấy Fe3O4 bọc polyme PMAO cho độ tương phản tốt hơn ở T2, resovist cho độ tương phản tốt hơn ở T1. 18 TE=15; TR=100 (a) TE=15; TR=400 (b) Hình 5.6. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T1W trong môi trường nước, TR= 100 ms (a), TR =400 ms (b), TE =15 ms đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO trong môi trường nước, (B) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist) trong môi trường nước, (C) Hệ nano từ Fe3O4@CS trong môi trường nước, (D) Mẫu đối chứng (không có hạt từ) trong môi trường nước. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng là (1) 5,0 µg/ml, (2) 10,0 µg/ml, (3) 15,0 µg/ml, (4) 30,0 µg/ml, (5) 45,0 µg/ml. Từ hình 5.5 ta thấy, mẫu đối chứng nước cất ở dãy giếng (cột dọc) cuối cùng có ảnh màu trắng là mẫu có nồng độ C=0 µg/mL (không có nồng độ của mẫu chất lỏng Fe3O4@CS, Fe3O4@PMAO, Resovit). 3 dãy giếng ngang từ trên xuống được chuẩn bị ứng với nồng độ của các mẫu Fe3O4@PMAO, Resovist và mẫu Fe3O4@CS thủy nhiệt có nồng độ tương ứng: 5, 10, 15, 30 và 45 µg /ml. Sự tương phản thay đổi rất rõ ràng khi thay đổi một lượng nhỏ nồng độ của các mẫu Fe3O4@CS, Fe3O4@PMAO cũng như sản phẩm thương mại Resovist. Sự khác biệt trong tương phản ảnh ở chế độ chụp T2W (Hình 5.5) được thể hiện rất rõ ràng. Có thể thấy rõ tín hiệu tối tăng dần theo nồng độ vật liệu nano có trong các giếng so với đối chứng sinh học (giếng 6) cũng như so sánh giữa các mẫu khác nhau. Ở những nồng độ cao như 30 µg/ml của mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO tín hiệu tối gần như chiếm toàn bộ giếng, thậm chí không còn thấy tín hiệu màu sáng (giếng số 4) khi chụp ở chế độ TE, TR thích hợp, điều đó cho thấy hệ chất lỏng từ Fe3O4@PMAO có giá trị từ độ bão hòa cao hơn sẽ cho cường độ tương phản ảnh tốt hơn. Giữa hai mẫu Fe3O4@CS chế tạo bằng phương pháp thủy nhiệt và Resovist thì khi chụp ở chế độ T2W thì đều cho sự tương phản so với mẫu đối chứng, hình ảnh tương phản tương đương nhau. 5.2.2. Đánh giá khả năng tương phản trong môi trường pH thay đổi của hệ chất lỏng từ và sản phẩm thương mại Resovist. TE=34; TR=3970 (c) TE=57; TR=3970 (d) Hình 5.7. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T2W trong môi trường pH khác nhau, TE= 11 ms (a), TE = 23 ms (b), TE =34 ms (c), TE =57 ms (d) đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO, (B) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist). Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng 45,0 µg/ml trong môi trường có (1) pH =2, (2) pH =3, (3) pH =7, (4) pH =9, (5) pH =12. 19 Hình ảnh MRI trên môi trường pH khác nhau cho thấy Fe3O4 bọc polyme cho độ tương phản tốt hơn ở T2 và cường độ tín hiệu giảm mạnh tại pH=7, mẫu resovist cho độ tương phản tốt ở T2, cường độ tín hiệu thấp hơn (giếng số 3). TE=12; TR=100 (a) TE=12; TR=200 (b) TE=12; TR=400 (c) Hình 5.8. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T1W trong môi trường pH khác nhau, TR= 100 ms (a), TR = 200 ms (b), TR =400 ms (c), TE =12 ms đối với các mẫu (A) hệ nano từ Fe3O4@PMAO, (B) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist). Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng 45,0 µg/ml trong môi trường có (1) pH =2, (2) pH =3, (3) pH =7, (4) pH =9, (5) pH =12. Sự khác biệt trong tương phản ảnh ở chế độ chụp T2W (Hình 5.7) được thể hiện rõ ràng hơn so với ở chế độ trọng T1 (T1W) (Hình 5.8). Có thể thấy rõ tín hiệu hầu như không thay đổi khí tăng giá trị pH của môi trường từ 2 đến 12. Ở môi trường sinh lý của mẫu chất lỏng từ Fe3O4@PMAO tín hiệu tối gần như chiếm toàn bộ giếng, thậm chí không còn thấy tín hiệu mầu sáng (giếng số 3) khi chụp ở chế độ TE, TR thích hợp, điều đó cho thấy hệ chất lỏng từ Fe3O4@PMAO cho cường độ tương phản ảnh tốt, tương đương với sản phẩm thương mại Resovist phù hợp trong ứng dụng MRI. 5.2.3. Đánh giá khả năng tương phản trong môi trường có nồng độ muối thay đổi của hệ chất lỏng từ và sản phẩm thương mại Resovist. TE=57; TR=3970 (a) TE=75; TR=3970 (b) TE=87; TR=3970 (c) Hình 5.9. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T2W trong môi trường nồng độ muối khác nhau, TE =57 ms (a), TE =75 ms (b), TE 87 ms (c), TR =3970 ms đối với các mẫu (A) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist), (B) Hệ nano từ Fe3O4@PMAO, (C) Mẫu đối chứng (không có hạt từ) trong môi trường nước. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng 45,0 µg/ml trong môi trường có nồng độ muối khác nhau (1) 50 mM, (2) 100 mM, (3) 150 mM, (4) 200 mM. Hình ảnh MRI trên môi trường có nồng độ muối khác nhau cho thấy Fe3O4 bọc polyme và mẫu mẫu resovist đều cho độ tương phản tốt hơn ở T2 và cường độ tín hiệu tốt ngay tại môi trường có nồng độ muối cao (200 Mm). Điều này cho thấy, mẫu chất lỏng Fe3O4@PMAO có tính chất phù hợp trong điều kiện y sinh. 20 TE=12; TR=100 (a) TE=12; TR=400 (b) Hình 5.10. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân của hệ nano từ ở chế độ T1W trong môi trường nồng độ muối khác nhau, TR= 100 ms (a), TR =400 ms (b), TE =12 ms đối với các mẫu (A) Hệ nano từ Fe3O4@Dextran (Resovist), (B) Hệ nano từ Fe3O4@PMAO, (C) Mẫu đối chứng (không có hạt từ) trong môi trường nước. Nồng độ sắt từ trong mỗi giếng 45,0 µg/ml trong môi trường có nồng độ muối khác nhau (1) 50 mM, (2) 100 mM, (3) 150 mM, (4) 200 mM. 5.3. Khảo sát khả năng ứng dụng chất lỏng từ trên động vật thí nghiệm 5.3.1. Thử nghiệm in-vivo đánh giá khả năng ứng dụng hệ chất lỏng từ tính nano Fe3O4 làm thuốc tương phản trong kỹ thuật cộng hưởng từ MRI trên động vật Các hình ảnh MRI trên thỏ trước và sau khi tiêm chất lỏng từ được chụp ở các kiểu chụp khác nhau (SAGITAL và

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_che_tao_chat_long_tu_tren_nen_oxi.pdf
Tài liệu liên quan