Tóm tắt Luận văn Hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đặng Thị Bích Trâm

Chất lượng công tác BTXH:

Trong những năm qua, phòng Lao động –Thương binh và Xã

hội thị xã Điện Bàn đã phối hợp với các phòng, ban có liên qua tổ

chức các lớp tập huấn, hội nghị triển khai thực hiện các chính sách

BTXH. Đồng thời, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các ban

ngành địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách BTXH

đến với người dân.

Cán bộ thẩm định của Phòng Lao động - Thương binh và Xã

hội chỉ có một người lại đảm đương nhiều mảng công việc nên đôi

lúc chưa giải quyết hồ sơ đúng thời gian quy định.

Công tác rà soát lập hồ sơ quản lý và giải quyết chế độ trợ cấp

ở một số địa phương còn chậm, có nơi còn chưa thực hiện đúng quy

trình.

Một số văn bản của trung ương ban hành và đã có hiệu lực thi

hành, tuy nhiên văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện thì chưa kịp

thời nên gây khó khăn cho địa phương, cơ sở.

Cán bộ xã, phường có chế độ còn thấp và năng lực chuyên

môn về công tác BTXH chưa cao dẫn đến chất lượng phục vụ chưa

được đảm bảo.

Về chính sách trợ giúp giáo dục đã đạt được hiệu quả lớn, khi

tính đến năm 2016 thì trên địa bàn thị xã không có trường hợp đối

tượng BTXH trong độ tuổi học phổ thông bỏ học. Đồng thời, trong

thời gian qua thị xã cũng thường xuyên tổ chức các lớp dạy nghề như

may, thêu, làm tăm, đũa ăn, làm chổi, nghề xoa bóp, cho các trẻ

em tàn tật, người mù.15

Về chính sách trợ giúp y tế, tuy số lượng đối tượng được cấp

thẻ BHYT tăng nhưng tỷ lệ đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm trên tổng

số đối tượng BTXH chưa cao, số đối tượng BTXH được cấp thẻ

BHYT chưa bao trùm hết tổng số đối tượng BTXH. Các năm 2012,

2013, 2015, 2016 tỷ lệ đối tượng đước cấp thẻ BHYT đạt tỷ lệ từ

63% đến 73%, riêng năm 2014 chỉ đạt 45%

 

pdf26 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 350 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đặng Thị Bích Trâm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gia tăng khối lượng bảo trợ cho các đối tượng được thụ hưởng, tăng phụ cấp, mức tài trợ, Hiện nay, mức BTXH được thực hiện dưới hai phương thức: - Trợ cấp xã hội hàng tháng: là hình thức trợ cấp đối với những đối tượng bảo trợ trong một thời gian dài và liên tục. - Trợ giúp xã hội đột xuất: là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vất chất, tinh thần cho những người gặp rủi ro do thiên tai hay những lý do bất khả kháng khác giúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo. Phải tăng mức BTXH vì nhu cầu thiết yếu cho mức sống tối thiểu ngày càng tăng lên, các chính sách cho hoạt động bảo trợ không thể cố định và được điều chỉnh tăng dần khi nguồn tăng, từ đó đối tượng được hưởng cần được tăng mức bảo trợ. Tăng mức BTXH bằng cách tăng số lần cung cấp dịch vụ BTXH, tăng lượng cung cấp bình quân trên một lần cho các nhóm đối tượng được thụ hưởng. 1.2.3 Phát triển các phƣơng thức BTXH Phương thức BTXH là cách thức tiến hành phân bổ nguồn lực tài chính đến các đối tượng được BTXH theo các nguyên tắc nhất định. Các phương thức BTXH truyền thống bao gồm trợ giúp thường xuyên (TGTX) và trợ giúp đột xuất (TGĐX) bằng các hình thức như: bảo trợ bằng tiền, hiện vật, đã đem lại những hiệu quả nhất định. Xây dựng các chính sách trợ giúp cho các đối tượng đặc thù như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Bên cạnh đó cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển phương thức tài 6 trợ giá thông các chính sách như: tài trợ giá thông qua chính sách BHYT; tài trợ giá thông qua việc miễn giảm học phí khi tham gia học văn hóa hay học nghề; tài trợ giá thông qua tín dụng ưu đãi Cần phải liên tục phát triển các phương thức BTXH để phù hợp với nhu cầu cứu trợ khác nhau của các đối tượng. 1.2.4 Nâng cao chất lƣợng công tác BTXH Mức độ hài lòng và thỏa mãn của đối tượng được thụ hưởng cũng như hành vi thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH chính là thước đo chất lượng của công tác BTXH . Để nâng cao chất lượng công tác BTXH thì cần phải: - Cải tiến trình tự cung cấp từ khi xác định được đối tượng bảo trợ đến các đối tượng thụ hưởng phải nhanh gọn, kịp thời, đúng đối tượng, đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Đồng thời tạo cho người thụ hưởng có cơ hội trong việc lựa chọn phương thức phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình. - Áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ dành cho cán bộ chức năng để nâng cao năng lực, trình độ trong công tác thực thi chính sách phục vụ đối tượng BTXH. - Tăng cường quan tâm, đầu tư, nâng cấp các cơ sở bảo trợ, nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu cần thiết của các đối tượng BTXH. 1.2.5 Mở rộng mạng lƣới công tác BTXH Mạng lưới công tác BTXH là các điểm, cơ sở cung cấp các dịch vụ, các nguồn trợ , cho các đối tượng được bảo trợ. Để mở rộng mạng lưới công tác BTXH cần thực hiện những nội dung sau: - Tăng cường thêm đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện công tác BTXH. - Mở rộng thêm hệ thống các cơ quan chức năng liên quan đến công tác BTXH. - Xây thêm các trung tâm BTXH và nhà nuôi dưỡng cho các 7 đối tượng BTXH. Mở rộng mạng lưới bảo trợ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đoàn thể, cá nhân tham gia tài trợ, chi trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng hoặc huy động đóng góp cho ngân sách chi cho hoạt động BTXH. 1.2.6 Tăng nguồn thu để phục vụ cho công tác BTXH Nguồn thu để phục vụ cho công tác BTXH là nguồn tài chính có được từ các chương trình được thiết kế để trợ giúp cho những người yếu thế đạt được mức sống tối thiểu cần thiết và cải thiện cuộc sống của họ. Nguồn thu cho công tác BTXH bao gồm từ tài trợ của Nhà nước, nguồn tài trợ từ các tổ chức đoàn thể, cá nhân, các doanh nghiệp trong cộng đồng, nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ, nguồn tài trợ từ quốc tế. Trong đó nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo chi cho các đối tượng BTXH được hưởng trợ cấp xã hội. Để tăng được nguồn thu cho công tác BTXH thì ngoài việc tiếp tục duy trì nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cần tăng mức độ tham gia đóng góp của cá nhân, gia đình và các tổ chức đoàn thể, kinh doanh .Thu hút nguồn viện trợ từ nước ngoài. 1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH 1.3.1 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH - Nhân tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của hệ thống an sinh xã hội, trong đó có hoạt động BTXH. Hệ thống chính trị sẽ quyết định quan điểm và định hướng phát triển của công tác BTXH. - Nhân tố nhận thức, văn hóa – xã hội quyết định đến các giải pháp, biện pháp và các công cụ phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống. 8 - Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng lưới BTXH; sự năng nổ, nhiệt tình và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH cũng có tác động và ảnh hưởng nhất định đến hoạt động BTXH. 1.3.2 Nhân tố kinh tế tác động đến công tác BTXH - Một quốc gia có nền kinh tế phát triển thì sẽ phát triển sâu rộng, đầy đủ các chính sách BTXH. - Khi đối tượng BTXH hòa nhập cuộc sống cộng đồng, tạo ra được thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế và làm giảm chi ngân sách Nhà nước cho các đối tượng. - Kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng lên sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động BTXH. - Tình trạng ngân sách quốc gia cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc thiết kế, hoạch định các chính sách BTXH của quốc gia trong từng thời kỳ. 9 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA 2.1 ĐIỂM CỦA THỊ XÃ ĐIỆN BÀN ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BTXH 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam. Với vị thế lưng tựa núi mặt nhìn ra biển, địa hình khá bằng phẳng. Tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 216,32 Km2. Thị xã địa hình đồng bằng là dạng địa hình chính, bao gồm hầu hết các xã đồng bằng ở khu vực trung tâm và phía Tây của thị xã, chiếm khoảng 73% tổng diện tích tự nhiên. Hệ thống các sông chính như Thu Bồn, sông Bà Rén, sông Vĩnh Điện, vừa cung cấp nguồn nước mặt dồi dào vừa tạo nên một cảnh quan đẹp cho phát triển đô thị của thị xã. Điện Bàn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Lượng mưa trong năm không đồng đều gây khô hạn, nhiễm mặn trong mùa khô và bão thường xảy ra vào các tháng 9, 10, 11 kết hợp với các trận mưa lớn gây lũ lụt, xói lở khu vực ven sông 2.1.2 Đặc điểm xã hội Điện Bàn là một trong những vùng thường xuyên gánh chịu nhiều thiệt hại do thiên tai, bão lũ hàng năm. Bên cạnh đó, Điện Bàn còn là mảnh đất bị ảnh hưởng nặng nề từ hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Hiện nay, dân số tại thị xã Điện Bàn thuộc nhóm cơ cấu dân số trẻ, số lượng dân số trong độ tuổi lao động chiếm số lượng lớn. Với 7 phường hiện tại và 12 phường trong tương lai, Điện Bàn đang dần định hình không gian đô thị hoàn chỉnh thông qua các tuyến đường nội thị và vành đai. 2.1.3 Đặc điểm kinh tế 10 Điện Bàn là vùng kinh tế năng động Bắc Quảng Nam. Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, giá trị sản xuất Công nghiệp – Xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất, cơ cấu các ngành kinh tế tại thị xã đã có sự chuyển dịch từ nông lâm thủy sản sang công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ tuy nhiên sự chuyển dịch này diễn ra chưa mạnh mẽ. Nhìn chung, nền kinh tế của thị xã tăng trưởng khá. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị thương mại dịch vụ; sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phục hồi phát triển; thương mại – dịch vụ phát triển khá; nông nghiệp cơ bản ổn định. Từ việc tổng chi ngân sách cao hơn tổng thu ngân sách trong giai năm 2012-2015, đến năm 2016 thì tổng thu ngân sách đã đảm bảo được cho tổng chi ngân sách. 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 2.2.1 Đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng chính sách BTXH a. Đối tượng BTXH được trợ cấp thường xuyên Từ năm 2012 đến năm 2014 áp dụng nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/ 4/2007 từ năm 2015 đến năm 2016 áp dụng nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách TGXH đối với đối tượng BTXH. Số lượng đối tượng BTXH và số lượng trong từng nhóm đối tượng hàng năm đều có xu hướng tăng. Trong các nhóm đối tượng, có thể thấy nhóm đối tượng người cao tuổi chiếm số lượng lớn nhất, thấp nhất là nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Tuy nhiên tỷ lệ đối tượng BTXH so với tổng dân số trên địa bàn vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng từ 5,52% đến 7,24% trong giai đoạn năm 2012 -2016, điều này đòi hỏi cần phải tiếp tục thay đổi để mở rộng thêm đối tượng được thụ hưởng. Có thể khái quát thực trạng về các đối tượng BTXH được hưởng 11 trợ giúp thường xuyên ở thị xã giai đoạn năm 2012–2016 qua bảng 2.1 như sau: Bảng 2.1. Thực trạng đối tƣợng BTXH đƣợc hƣởng trợ cấp thƣờng xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012-2016 Đơn vị tính: Người TT Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 1 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 369 401 282 288 302 2 Người cao tuổi 6.943 7.102 7.317 7.659 7.966 4 Người tàn tật, nhiễm HIV thuộc hộ nghèo 3.528 3.810 4.056 4.707 4.896 7 Gia đình hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 318 420 257 1.831 1.905 Tổng cộng 11.158 11.733 11.912 14.485 15.069 (Nguồn: Phòng Lao động Thương binh - xã hội thị xã Điện Bàn) b. Thực trạng về đối tượng BTXH được cứu trợ đột xuất Mỗi năm, thị xã Điện Bàn hỗ trợ cho hàng nghìn trường hợp thiếu đói, nhiều nhất là năm 2016 với 14.590 người, năm 2012 với 13.495 người bị đói do thiếu lương thực. Trong các năm từ 2012 đến năm 2016 thì mỗi năm chỉ có 1 trường hợp người chết do thiên tai hoặc 1 trường hợp nhà cháy, trôi, hỏng,.. được trợ giúp. Như vậy, công tác TGĐX tại địa phương chỉ mới tập trung vào các đối tượng đói do thiếu lương thực mà chưa có sự quan tâm đúng đắn đối với các nhóm đối tượng còn lại. 2.2.2 Mức BTXH Mức trợ cấp cụ thể cho các nhóm đối tượng đã được thiết kế theo 05 mức khác nhau từ 1,0 đến 3,0 lần mức chuẩn trợ cấp. Thực 12 trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối tượng được hưởng trợ cấp ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012 -2016 được thể hiện cụ thể qua bảng sau: Bảng 2.2. Thực trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối tƣợng đƣợc hƣởng trợ cấp ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm 2012 -2016 ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Trợ cấp thường xuyên 27.630 30.183 30.795 44.523 46.520 Trợ giúp đột xuất 2.036 1.890 2.083,5 595 1.880,4 Tổng cộng 29.666 32.073 32.878,5 45.118 48.400,4 (Nguồn: Phòng Lao động, thương binh – xã hội thị xã Điện Bàn) Nhìn chung, nguồn BTXH được chi cho các nhóm đối tượng được thụ hưởng trợ cấp ở thị xã Điện Bàn đều tăng qua các năm. Nguồn kinh phí chi trợ giúp thường xuyên có xu hướng ngày càng tăng, tuy nhiên nguồn kinh phí chi cho trợ giúp đột xuất thì tăng giảm không đều do nguồn kinh phí chi cho các đối tượng này phụ thuộc vào tình hình thiên tai, bão lũ,trong năm tại địa phương. Đối với đối tượng người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên thuộc nhóm đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên thì mức trợ cấp còn cào bằng, chưa phân biệt đối tượng thuộc diện nghèo đói hay khá giả. Dự kiến trong những năm tiếp theo, do tác động của biến đổi khí hậu, nhiều bão lũ, tình trạng hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguồn kinh phí cho cứu trợ đột xuất. Hiện nay, ngoài mức trợ cấp theo quy định dựa vào nguồn ngân sách hàng năm thì thị xã Điện Bàn chưa thực hiện được việc tăng mức trợ cấp bằng các nguồn huy động được để hổ trợ cho các đối tượng được thụ hưởng BTXH. 13 2.2.3 Phƣơng thức BTXH a. BTXH trực tiếp Phương thức BTXH trực tiếp truyền thống nhất là hỗ trợ bằng tiền mặt và hiện vật. Ngoài những khoản được nhận theo quy định của Nhà nước, các đối tượng BTXH đã nhận được sự ủng hộ bằng tiền và hiện vật từ rất nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Hỗ trợ 215 xe lăn cho người khuyết tật, xây 12 nhà tình thương cho gia đình có người khuyết tật nặng. Mổ tim cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh; tặng học bổng cho trẻ em mồ côi có nguy cơ bỏ học; giúp nhân dân khắc phục bão lũ,.. Hỗ trợ đào tạo nghề cho người khuyết tật có mong muốn. Nhận chăm sóc người khuyết tật tại các trung tâm xã hội. Đồng thời, các đối tượng BTXH còn được nhà nước hỗ trợ miễn giảm học phí khi học phổ thông, học nghề; hỗ trợ kinh phí mai táng khi chết. Hỗ trợ cấp phát thẻ BHYT để được miễn giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh. b. BTXH gián tiếp Trong giai đoạn năm 2012 – 2016 thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, thị xã không ngừng tăng nguồn vốn cho vay để các đối tượng BTXH có thêm điều kiện để tăng thu nhập, góp phần giải quyết khó khăn đời sống. Thực trạng đối tượng bảo trợ được vay vốn ưu đãi thông qua ngân hàng chính sách được thể hiện qua bảng 2.3 như sau: Bảng 2.3. Thực trạng đối tƣợng BTXH với hình thức vay vốn ở thị xã Điện Bàn thời gia qua TT Đơn vị Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 1 Đối tượng được vay vốn (Người) 351 398 405 439 466 2 Số tiền (Triệu đồng) 10.525 11.945 12.160 13.130 13.375 14 (Nguồn: Phòng Lao động Thương binh - xã hội thị xã Điện Bàn) Cả số lượng đối tượng BTXH được vay vốn và số tiền cho vay vốn hằng năm đều tăng lên thể hiện được phương thức bảo trợ gián tiếp này đang ngày càng phát triển và đem lại những hiệu quả tích cực. 2.2.4 Chất lƣợng công tác BTXH: Trong những năm qua, phòng Lao động –Thương binh và Xã hội thị xã Điện Bàn đã phối hợp với các phòng, ban có liên qua tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị triển khai thực hiện các chính sách BTXH. Đồng thời, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các ban ngành địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách BTXH đến với người dân. Cán bộ thẩm định của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ có một người lại đảm đương nhiều mảng công việc nên đôi lúc chưa giải quyết hồ sơ đúng thời gian quy định. Công tác rà soát lập hồ sơ quản lý và giải quyết chế độ trợ cấp ở một số địa phương còn chậm, có nơi còn chưa thực hiện đúng quy trình. Một số văn bản của trung ương ban hành và đã có hiệu lực thi hành, tuy nhiên văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện thì chưa kịp thời nên gây khó khăn cho địa phương, cơ sở. Cán bộ xã, phường có chế độ còn thấp và năng lực chuyên môn về công tác BTXH chưa cao dẫn đến chất lượng phục vụ chưa được đảm bảo. Về chính sách trợ giúp giáo dục đã đạt được hiệu quả lớn, khi tính đến năm 2016 thì trên địa bàn thị xã không có trường hợp đối tượng BTXH trong độ tuổi học phổ thông bỏ học. Đồng thời, trong thời gian qua thị xã cũng thường xuyên tổ chức các lớp dạy nghề như may, thêu, làm tăm, đũa ăn, làm chổi, nghề xoa bóp, cho các trẻ em tàn tật, người mù. 15 Về chính sách trợ giúp y tế, tuy số lượng đối tượng được cấp thẻ BHYT tăng nhưng tỷ lệ đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm trên tổng số đối tượng BTXH chưa cao, số đối tượng BTXH được cấp thẻ BHYT chưa bao trùm hết tổng số đối tượng BTXH. Các năm 2012, 2013, 2015, 2016 tỷ lệ đối tượng đước cấp thẻ BHYT đạt tỷ lệ từ 63% đến 73%, riêng năm 2014 chỉ đạt 45%. 2.2.5 Mạng lƣới công tác BTXH Hiện nay trên toàn địa bàn thị xã chỉ có 02 trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi bị khuyết tật đã được đầu tư xây dựng từ nhiều năm, chất lượng đến nay đã thấp. Chưa có trung tâm BTXH hay nhà ở xã hội cho người già neo đơn, người khuyết tật không phải là trẻ em mồ côi, trẻ em mồ côi nhưng không khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS. Mặt khác, trong những năm gần đây địa phương cũng chưa huy động được hệ thống nhà ở, mái ấm tình thương, trung tâm xã hội của các ngành, các dự án quốc tế cũng như của tư nhân hay các tổ chức khác. Hơn nữa, tại mỗi địa phương trên địa bàn thị xã chưa được quan tâm, đầu tư đến điểm văn hóa, giải trí, thể dục thể thao cho người khuyết tật, giúp họ tiếp cận với công nghệ thông tin, hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh đó, mỗi xã, phường chỉ có 01 cán bộ phụ trách công tác BTXH, đồng thời phải kiêm nhiệm các công việc khác nên công tác triển khai thực hiện các hoạt động BTXH chưa được quan tâm thường xuyên. Điều này cho thấy đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu trong triển khai nhiệm vụ từ cơ sở đến cấp tỉnh , gây trở ngại cho công tác triển khai, thanh tra kiểm tra các công tác BTXH. 2.2.6 Nguồn BTXH Để có nguồn lực thực hiện công tác BTXH thì nguồn BTXH là 16 nhân tố tất yếu. Hiện nay, nguồn cho công tác BTXH của thị xã Điện Bàn có được là từ ngân sách thị xã, riêng đối với công tác TGĐX thì sẽ được ngân sách tỉnh và trung ương hỗ trợ tùy theo điều kiện, đồng thời nhận được nguồn từ huy động các cá nhân, tổ chức. Nguồn kinh phí từ ngân sách thị xã này sẽ đảm bảo cho hoạt động BTXH trên địa bàn thị xã được điều chỉnh tăng đều qua các năm. Thực trạng nguồn BTXH tại thị xã trong thời gian được thể hiện trong bảng 2.4 như sau: Bảng 2.4 Nguồn BTXH ở thị xã Điện Bàn thời gian qua Đơn vị tính: Tỷ đồng TT Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 1 Từ ngân sách Trung Ương 1,9 0,4 1,7 0,4 1,3 2 Từ ngân sách huyện 28,2 30,3 31 44,7 46,6 3 Từ các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội 0,3 0,1 4 Nguồn huy động từ đóng góp nhân dân 4,2 3,8 5,6 4,6 5,4 Tổng cộng 34,3 34,5 38,6 49,8 53,3 (Nguồn: Phòng Lao động Thương binh - xã hội thị xã Điện Bàn) Bảng số liệu trên cho thấy, năm 2012 tổng kinh phí từ các nguồn hỗ trợ cho các đối tượng là 34,3 tỷ đồng đến năm 2016 tăng lên 53,3 tỷ đồng, tăng 55,4% so với năm 2012. Công tác huy động nguồn BTXH từ các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội; các nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tại thị xã Điện Bàn chưa được triển khai thực hiện tốt. 17 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 2.3.1 Thành công và hạn chế a. Thành công - Đối tượng được thụ hưởng BTXH ngày càng tăng. - Từng bước tăng mức BTXH gắn với mức sống người dân. - Các phương thức bảo trợ được đa dạng hóa. - Có các hành động dần nâng cao chất lượng công tác BTXH. - Mạng lưới BTXH được mở rộng đến từng địa phương - Nguồn BTXH được quan tâm, điều chỉnh tăng qua các năm. b. Hạn chế - Độ bao phủ đối tượng BTXH trong dân còn thấp. - Mức trợ cấp chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của đối tượng BTXH, còn thấp so với mức sống trung bình của người dân. - Chưa có những cải tiến phương thức BTXH phù hợp với nhu cầu hiện tại của các đối tượng được thụ hưởng - Đội ngũ cán bộ làm công tác BTXH chưa chuyên sâu, năng lực tổ chức thực hiện các hoạt động bảo trợ còn hạn chế. - Số lượng các công trình, cơ sở vật chất dành cho các nhóm đối tượng bảo trợ trên địa bàn rất ít. - Nguồn thu chính chỉ từ nguồn ngân sách địa phương. 2.3.2 Nguyên nhân những hạn chế trong công tác BTXH - Quy định về đối tưởng được hưởng BTXH còn quá chặt. - Không đủ khả năng để tự thực hiện tăng mức bảo trợ. - Địa phương chưa được tạo điều kiện để tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu, hội thảo về phát triển các phương thức BTXH. - Tổ chức bộ máy làm công tác BTXHchưa đủ mạnh. - Việc xây dựng các trung tâm bảo trợ chưa được quan tâm. - Viêu\c huy động nguồn thu từ chủ thể ngoài nhà nước còn mang tính phong trào, thời điểm, chưa trở thành việc thường xuyên. 18 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 3.1 CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH 3.1.1 Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về công tác BTXH Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững. Bảo đảm an sinh xã hội là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Có thể thấy, bảo đảm an sinh xã hội đã trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, việc chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu hiện nay là phấn đấu đến năm 2020 hệ thống an sinh xã hội sẽ bao phủ hết toàn dân. 3.1.2 Chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội Điện Bàn trong thời gian tới Vấn đề an sinh xã hội trên địa bàn thị xã định hướng theo chiến lược nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; bên cạnh đó, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trợ giúp, CTXH. Khuyến khích triển khai đẩy mạnh công tác xã hội hóa hỗ trợ, giúp đỡ các đối tượng BTXH tại các cơ sở bảo trợ và tại cộng đồng. Đảm bảo 100% trường hợp thuộc diện TGXH thường xuyên được trợ cấp. 3.1.3 Những yêu cầu khi xây dựng giải pháp - Về yêu cầu dựa trên quyền an sinh của người dân, cần thay 19 đổi trong nhận thức, chuyển từ quan điểm hoạt động BTXH là hoạt động nhân đạo, từ thiện sang quan điểm là chính sách thực hiện quyền cho đối tượng thụ hưởng. - Về yêu cầu phù hợp với tiềm lực kinh tế của địa phương, để chính sách BTXH được đảm bảo thực thi thì nó phải phù hợp với điều kiện ngân sách của địa phương, đồng thời cũng phải phù hợp với mức chung của các chính sách khác. - Về yêu cầu đảm bảo tính công bằng xã hội, những vấn đề này yêu cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để giảm thiểu những tác động xấu đến kinh tế và xã hội của đất nước. - Về yêu cầu bảo đảm bao phủ toàn dân, công tác BTXH phải hướng tới toàn bộ người dân nhưng cũng phải có trọng tâm, đúng đối tượng. - Hoàn thiện công tác BTXH phải gắn chặt với quá trình cải cách thể chế hành chế hành chính Nhà nước trên cả phương diện về cải cách thể chế chính sách, cải cách thể chế nghiệp vụ, cải cách thể chế thực thi chính sách và cải cách thể chế tài chính. 3.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 3.2.1 Mở rộng đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng - Rà soát lại tiêu chí xác định đối tượng bảo trợ theo hướng linh hoạt hơn để thực sự có thể bao phủ được hết các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. - Trong dài hạn, khi kinh tế của thị xã phát triển, nguồn BTXH được tăng lên, có thể thực hiện loại bỏ những điều kiện liên quan đến gia đình (hộ nghèo hay không nghèo), chỉ quan tâm đến điều kiện cá nhân để thực hiện trợ giúp. - Bên cạnh đó cần bổ sung thêm các đối tượng TGTX phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như hộ nông dân mất tư liệu sản xuất do đô thị hóa, công nghiệp hóa nhưng do trình độ chuyên môn hạn chế nên 20 không thể đào tạo chuyển đổi ngành nghề được, - Đối với trường hợp trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi, đang sống cùng ông bà nội (ngoại) là người cao tuổi; các trường hợp nghèo kinh niên và không có khả năng thoát nghèo cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống cần được bổ sung vào đối tượng TGTX. - Cần xem xét mở rộng đối tượng được hưởng TGĐX cho những đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ trẻ em, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị cưỡng bức lao động - Sau mỗi thời điểm xảy ra thiên tai, lũ lụt, cần tổ chức tổng kiểm tra, rà soát, phân loại các đối tượng TGĐX, đảm bảo không để xót hoặc xác định không đúng đối tượng được hưởng trợ giúp. - Cần có những tiêu chí mới để xác định đối tượng BTXH cho những nhóm đối tượng có thể phát sinh trong tương lai gần. 3.2.2 Tăng mức BTXH - Căn cứ vào chỉ tiêu mức sống tối thiểu của người dân hàng năm, quy định về chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập; tiếp tục hoàn thiện, phát triển những nguyên tắc trước đây để xây dựng lại hệ số xác định mức trợ cấp đối với từng nhóm đối tượng cụ thể. - Đối với nhóm đối tượng là người cao tuổi đủ 80 tuổi trở lên, cần xem xét điều chỉnh mức trợ cấp để có sự công bằng giữa những đối tượng trong nhóm này nhưng thuộc diện hộ nghèo và những đối tượng trong nhóm này không thuộc diện hộ nghèo. - Với điều kiện kinh tế trên địa bàn, thị xã cần có những xem xét, nghiên cứu để có thể hỗ trợ thêm mức trợ giúp cho các đối tượng BTXH ngoài mức trợ giúp theo quy định của Trung Ương. - Phát động các phong trào, chương trình kêu gọi các tổ chức đoàn thể, kinh tế, chính trị hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt cho các đối tượng BTXH với mức cố định hợp lý hàng tháng. - Định kỳ, tổ chức kiểm tra, rà soát lại mức hỗ trợ của các đối 21 tượng BTXH tại từng xã, phường để đảm bảo đối tượng bảo trợ được xác định đúng mức hỗ trợ. 3.2.3 Mở rộng phƣơng thức BTXH - Xây dựng chính sách cho vay ưu đãi đối với các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nhiều đối tượng BTXH. Để các đơn vị này có điều kiện phát triển, mở rộng kinh doanh tạo thêm nhiều việc làm cho các đối tượng BTXH. - Triển khai các đề án dạy nghề hiện hành theo hướng kết hợp đào tạo kỹ thuật cao, chuyên sâu với những nghề thông dụng nhằm đáp ứng nhu cầu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_van_hoan_thien_cong_tac_bao_tro_xa_hoi_tren_dia.pdf
Tài liệu liên quan