Biện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

 

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

I. Những vấn đề cơ bản về biện pháp ngăn chặn tạm giam 1

1. Khái niệm về tạm giam 1

2. Mục đích tạm giam 2

3. Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam 3

4. Những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam 4

5. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam 5

6. Thủ tục tạm giam 6

7. Thời hạn tạm giam 6

8. Một số vấn đề khác xung quanh việc tạm giam 6

II. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 8

1. Một số điểm vướng mắc cần phải giải quyết xung quanh việc quy định về biện pháp tạm giam 8

2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp tạm giam 12

III. Một số phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam nói riêng cũng như các biện pháp ngăn chặn nói chung 14

Kết luận 15

 

 

doc18 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 06/07/2013 | Lượt xem: 1981 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” 2. Mục đích tạm giam Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự. Vì vậy, ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiền tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng biện pháp này còn có mục đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng. Chẳng hạn, việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lí, giám sát bị can được chặt chẽ; việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi 3. Đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam Tạm giam là BPNC nghiêm khắc nhất, thể hiện ở chỗ nó có thể hạn chế quyền tự do thân thể của người bị áp dụng biện pháp này trong một thời gian khá dài. Chính vì vậy mà việc áp dụng biện pháp tạm giam phải tuân theo những quy định chặt chẽ của pháp luật. Cũng như biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam cũng chỉ có thể là bị can, bị cáo. Song không phải bị can, bị cáo nào cũng có thể bị áp dụng biện pháp này, mà những bị can, bị cáo đó phải thỏa mãn những căn cứ luật định thì mới bị tam giam. Khoản 1 Điều 88 BLTTHS 2003 quy định: tam giam chỉ có thể áp dụng đối với những bị can, bị cáo trong những trường hợp sau: - Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng - Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. (trong trường hợp này, với tư cách là một BPNC, tạm giam được áp dụng khi chưa biết bị can, bị cáo bị Tòa án áp dụng hình phạt gì, do đó phải dựa vào mức hình phạt mà BLHS quy định tội ấy trên 2 năm tù). Nếu như BLHS trước đây quy định căn cứ là trên một năm tù và tương ứng với nó BLHS có 11 tội danh có khung hình phạt cao nhất là trên 1 năm tù thì BLHS năm 1999 quy định có 16 tội danh có khung hình phạt cao nhất đến 2 năm tù. Đó là các tội quy định tại cáo điều như Điều 94, 128, 129, 130, 148, 149, 152, 159… Theo các điều kiện thứ nhất thì trong cáo trường hợp trên, có quan có thẩm quyền không được áp dụng biện pháp tạm giam. Ngoài ra, đối với các điều luật có nhiều điều khoản thì trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ở khung hình phạt có mức cao nhất ở khung hình phạt là 2 năm thì cũng không tạm giam họ. Đó là các khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 105, khoản 1 Điều 108, khoản 1 Điều 110… BLHS. Do những quy định trên, để cho việc áp dụng điều kiện này một các có căn cứ, trong quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử cần nêu rõ tội danh và điều khoản của BLHS mà bị can, bị cáo bị áp dụng. Trong căn cứ này, ngoài điều kiện mà bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 2 năm thì nó còn phải thỏa mãn điều kiện: có căn cú cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Để xác định bị can, bị cáo có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, thường phải căn cú vào việc điều tra, xét xử và sự cần thiết của việc ngăn chặn tội phạm; nhân thân của bị can, bị cáo khi được áp dụng BPNC ít nghiêm khắc hơn. Khi áp dụng BPNC ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam nhưng sau đó bị can, bị cáo không thực hiện nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, trón tránh việc điều tra, xét xử hoặc làm rõ sự thật của vụ án thì có thể xác định đó là hành động không thực hiện các điều kiện của BPNC đã được áp dụng thì có thể bắt để tạm giam bị can, bị cáo đó. Như vậy, chỉ khi nào có đầy đủ hai điều kiện kể trên mới được quyết định tạm giam. Qua nghiên cứu quy định cảu BLTTHS về tạm giam cho thấy, BPNC này chỉ cần thiết khi các BPNC khác không đảm bảo được mục đích nghăn chặn tội phạm. 4. Những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam Như đã phân tích ở trên, không phải bị can, bị cáo nào cũng phải áp dụng biện pháp tạm giam. Khoản 2 Điều 88 BLTTHS đã quy định các trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng các biện pháp khác, trừ trường hợp đặc biệt: - Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi có nơi cư trú rõ ràng. - Bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng. Đối với bị can, bị cáo thuộc một trong hai trường hợp nói trên cần áp dụng BPNC khác, có thể là cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bảo lãnh… Tuy nhiên, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng, nếu có đủ điều kiện tạm giam thì vẫn có thể ra lệnh tạm giam, các trường hợp đó được quy định cụ thể tại các điểm a, b, c của khoản 1 Điều 88 như sau: - Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã. - Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử. - Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nều không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Ngoài các quy định nói trên, có thể coi các trường hợp sau đây cũng là các trường hợp không cần thiết phải tạm giam mà có thể áp dụng BPNC khác: - Người bị tam giam có căn cước rõ ràng, hành vi phạm tội thuộc tội ít nghiêm trọng, việc áp dụng các BPNC khác không ảnh hưởng đến việc điều tra, xét xử hoặc thi hành án. - Người bị tam giam được người khác bảo lãnh và có đủ điều kiện để áp dụng BPNC này. Điều 303 BLTTHS còn quy định việc tạm giam người chưa thành niên, Theo quy định của điều này thì việc tam giam người chưa thành niên phạm tội phải có đủ ba điều kiện sau: - Phải có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 BLTTHS. Đây là trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt do phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, bị tam giữ, tạm giam để ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của họ, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án - Tội phạm do họ thực hiện là tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. - Họ đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 68 BLHS. 5. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam Tại khoản 3 Điều 88 BLTTHS quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 80 Bộ luật này phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”. Theo quy định trên, việc áp dụng biện pháp tạm giam chỉ được giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, VKS, Cơ quan điều tra mà thôi, cụ thể: - Viện trường, phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp; - Chánh án, Phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp; - Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chành tòa phúc thẩm TANDTC - Hội đồng xét xử. - Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh tạm giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành 6. Thủ tục tạm giam Theo quy định của BLTTHS thì việc tam giam bị can, bị cáo phải có lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam phải do những người có thẩm quyền ký. Lệnh tam giam của cơ quan điều tra phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, thẩm quyền phê chuẩn này đã được quy định lại trong khoản 3 Điều 88 BLTTHS. Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong TTHS, nó không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do và danh dự của công dân mà còn ảnh hưởng lớn đến tâm tư tình cảm của người bị tạm giam và thân nhân của họ. Chính vì vậy, cơ quan đã ra lệnh tạm giam cần phải thông báo ngay cho gia đinh người bị tam giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nới người bị tam giam cư trú hoặc làm việc biết 7. Thời hạn tạm giam Điều 120 BLTTHS 2003 quy định thời hạn tạm giam để điều tra, thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra và đối với từng giai đoạn tố tụng cụ thể lại có những thời hạn tam giam khác nhau được quy định trong Bộ luật như: tạm giam để truy tố, tạm giam để xét xử sơ thẩm, tạm giam bị cáo trong trường cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại; tạm giam bị cáo trong trường hợp cấp Giấm đốc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại 8. Một số vấn đề khác xung quanh việc tạm giam 8.1. Về chế độ tạm giam Tạm giam là BPNC được áp dụng để bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và không để cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đây không phải là hình phạt đối với người phạm tội. Đây là đặc điểm để phân biệt “tạm giam” với “giam”. “Giam” là biện pháp chấp hành hình phạt tù, người bị kết án phải cải tạo và sinh sống trong trại cải tạo (trại giam) một thời hạn bằng thời hạn tù mà Tòa án đã tuyên (được khấu trừ thời hạn đã bị tạm giam). Do tạm giam không phải là hình phạt nên chế độ tạm giam khác với chế độ người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 89 BLTTHS) Xem thêm Nghị định 89/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 07/11/1998 về quy chế tạm giữ, tạm giam 8.2. Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với thân nhân và tài sản của người bị tạm giam Điều 90 BLTTHS năm 2003 quy định khi áp dụng biện pháp tạm giam, nếu người bị tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích khác chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giam không có người thân thích khác thì cơ quan ra lệnh tạm giam giao những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra lệnh tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng Sau khi đã áp dụng những biện pháp bảo hộ đối với thân nhân và tài sản, cơ quan ra lệnh tạm giam phải thông báo cho người bị tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng 8.3. Về việc khấu trừ thời hạn tam giam vào thời hạn chấp hành hình phạt Đoạn cuối điều 33 BLHS năm 1999 quy định “Thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giam bằng một ngày tù”. Quy định này không chỉ áp dụng đối với người bị tam giam liên tục cho đến khi xét xử mà còn áp dụng đối với cả những người bị áp dụng các BPNC khác sau một thời hạn bị tam giam. Những hình phạt khác không phải là hình phạt tù có thời hạn như cảnh cáo, phạt tiền hoặc tử hình thì không áp dụng quy định này mặc dù trước đó họ có bị tạm giam. Riêng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội và hình phạt tù chung thân thì thời hạn tạm giam sẽ được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo nguyên tắc sau: Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn nhưng thời hạn bị tam giam vẫn được tính khi người bị kết án được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Theo Điều 58 BLHS “thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 12 năm đối với tù chung thân và người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt tù là 20 năm”. Thời hạn 12 năm và 20 năm quy định trong điều luật nói trên bao gồm cả thời gian tạm giam đối với người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù. 8.4. Về quyền của người bị tạm giam Người bị tam giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bỏ trốn bị bắt để tạm giam và đối với họ đã có lệnh tạm giam Từ khái niệm trên có thể khẳng định, người bị tam giam có đầy đủ các quyền của bị can, bị cáo quy định tại Điều 49, Điều 50, quyền của người bị kết án đang chờ thi hành hình phạt tù tại Điều 260 BLTTHS 2003 Theo Điều 49, Điều 50 BLTTHS thì mặc dù bị can, bị cáo lúc đó có thể đang bị tạm giam để bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử nhưng cơ quan tiến hành tố tụng cần phải đảm bảo các điều kiện cần thiết để cho bị can, bị cáo thực hiện được các quyền của mình, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bản thân. Việc quy định các quyền của bị can, bị cáo ngoài mục đích để bị can, bị cáo chủ động tham gia tố tụng cong góp phần vào việc tránh bỏ lọt tội phạm, tránh bắt giam người vô tội trong khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, Điều 260 BLTTHS quy định” “Trong trường hợp người bị kết án đang bị tạm giam thì theo yêu cầu của người thân thích người bị kết án, cơ quan công an phải cho phép người bị kết án gặp người thân thích trước khi thi hành án” II. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Một số điểm vướng mắc cần phải giải quyết xung quanh việc quy định về biện pháp tạm giam 1.1 Vướng mắc trong quy định về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra Quy định về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra vẫn không trùng khớp với nhau làm cho việc áp dụng trên thực tế gặp những khó khăn nhất định Theo quy định tại Điều 120 BLTTHS thì thời hạn tạm giam để điều tra (kể cả thời hạn gia hạn) là không quá 3 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 6 tháng đối với tội nghiêm trọng, 9 tháng đối với tội rất nghiêm trọng, 16 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó, Điều 119 BLTTHS lại quy định thời hạn để điều tra (kể cả thời gian gia hạn) là 4 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 8 tháng đối với tội nghiêm trọng, 12 tháng đối với tội rất nghiêm trọng, 16 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, thời hạn điều tra dài hơn thời hạn tạm giam để điều tra. Thực tế cho thấy trong đấu tranh phòng chống tội phạm thời hạn điều tra và thời hạn tạm gia để điều tra có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong nhiều vụ án khi hết thời hạn tạm giam thì thời hạn điều tra vẫn còn mà do tính chất của vụ án không thể trả tự do cho bị can. Trong những trường hợp này thì áp dụng tiếp biện pháp ngăn chặn nào là thích hợp? Hay nên quy định thời hạn tạm giam để điều tra và thời hạn điều tra là bằng nhau? 1.2 Vướng mắc trong việc áp dụng BPNC tạm giam đối với các trường hợp đặc biệt không được miễn trừ chính sách ưu đãi khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này Khoản 2 Điều 88 NLTTHS 2003 quy định: - Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi có nơi cư trú rõ ràng. - Bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cu trú rõ ràng, nếu đủ điều kiện tạm giam thì vẫn có thể ra lệnh tạm giam, đó là các trường hợp: - Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã - Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử. - Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nều không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Mặc dù luật đã có sự quy định tách bạch về trường hợp không áp dụng và trường hợp áp dụng nhưng quy định này vẫn khó vận dụng trên thực tiễn. Có thế hiểu rằng đối với bị can, bị cáo thuộc một trong hai trường hợp nói trên cần áp dụng BPNC khác, có thể là cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bảo lãnh… Còn đối với các trường hợp đặc biệt không được miễn trừ chính sách ưu đãi khi áp dụng biện pháp tạm giam thì lại chưa có quy định cụ thể về điều kiện áp dụng vào bảo đảm quyền lợi cho họ. Ví dụ trường hợp bị can đang mang thai cần được hưởng chế độ tạm giữ như thế nào? Dinh dưỡng cho thai sản ra sao? trẻ sinh ra và phải ở cùng mẹ trong trại giam được chăm sóc nuôi dưỡng ra sao?.. Đây cũng là những vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể. 1.3 Vấn đề phê chuẩn lệnh bắt bị can bị cáo để tạm giam Việc phê chuẩn của VKS cùng cấp đối với lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam do nhóm người có thẩm quyền quy định ở điểm d khoản 1 Điều 80 BLTTHS 2003, điều luật không quy định thời hạn VKS xem xét phê chuẩn là bao lâu. Trên thực tế có vụ án đơn giản, tài liệu không nhiều thì VKS có thể xem xét phê chuẩn ngay trong ngày. Song thực tế không ít hồ sơ thu thập đến khi khởi tố, Cơ quan điều tra đề nghị bắt tạm giam có số lượng tài liệu rất lớn, ví dụ hồ sơ các vụ án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, về tội phạm tham nhũng, VKS đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu tài liệu, xác định căn cứ để xem xét có phê chuẩn hay không, ngoài ra không loại trừ VKS vì lý do nào đó chậm trễ trong việc phê chuẩn dẫn đến bị can trốn, tiêu hủy chứng cứ 1.4 Về vấn đề thời hạn Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam Tình trạng khá phổ biến hiện nay là các VKS thường chậm trễ trong việc phê chuẩn lệnh tạm giam. Cơ quan điều tra thường để đến ngày cuối cùng của thời hạn tạm giam hoặc của thời hạn tạm giam lần trước mới ra lệnh tạm giam (hoặc công văn đề nghị ra lệnh tạm giam) gửi VKS để đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam. Sự chậm trễ của cả hai cơ quan tiến hành tố tụng khiến cho tình trạng tạm giam quá hạn có cơ hội phát triển. Chính vì vậy, BLTTHS 2003 đã cố định thời hạn phê chuẩn của VKS là 3 ngày và quy định VKS phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc phê chuẩn Tuy nhiên, sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra về BPNC đối với bị can để đề xuất với Viện trưởng quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ BPNC này. Vậy trường hợp đề xuất sai thì ai chịu trách nhiệm? đây cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu, tháo gỡ. 1.5 Về việc tạm giam để xét xử Điều 177 BLTTHS 2003 quy định: “Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176 Bộ luật này”. Theo quy định này, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không quá 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 60 ngày đối với tội rất nghiêm trọng, 90 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu như hết thời hạn trên mà vụ án chưa đưa ra xét xử thì Tòa án gia hạn tạm giam như gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử: “không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.” Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, Tòa án có thể ra lệnh tạm giam 45 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, 60 ngày đối với tội nghiêm trọng, 90 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và 120 ngày đối với tội đặc biệt nghiêm trọng vì Tòa án có quyền kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng điều luật không quy định cho Tòa án được gia hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, theo ý kiến của tôi, Điều 177 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 BLTTHS. Như vậy, đã bao gồm cả thời gian kéo dài của thời gian chuẩn bị xét xử, nếu vụ án kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử thì mới có việc gia hạn tạm giam, do đó, Tòa án chỉ ra lệnh tạm giam trong thời hạn là 30 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội nghiêm trọng, 60 ngày đối với tội rất nghiêm trọng, 90 ngày đối với tội đặc biệt nghiêm trọng còn nếu vụ án phải kéo dài thời hạn xét xử thì Tòa án sẽ ra lệnh tạm giam thêm chứ không ra lệnh tạm giam ngay là 45 ngày, 60 ngày, 90 ngày và 120 ngày đối với từng loại tội. 1.6 Về việc tạm giam sau khi xét xử sơ thẩm Điều 228 BLTTHS quy định hai điều kiện cần thiết để bắt bị cáo ngay khi tuyên án: Thứ nhất: bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù. Thứ hai: có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục gây án. Còn đối với bị cáo bị phạt tử hình thì HĐXX quyết định trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án Đây là hai điều kiện bắt buộc phải xác định đồng thời thì mới bắt giam bị cao. Trong thực tiễn xét xử, các Tòa án thường chỉ chú trọng đến điều kiện thứ nhất mà ít chú trọng đến điều kiện thứ hai. Hiện tượng này xuất phát từ tâm lý ngại bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho việc xét xử tiếp theo hoặc gây khó khăn cho thi hành án. Có Tòa án khi xét xử đã quá nhấn mạnh các yếu tố khác để bắt giam bị cáo ngay khi tuyên án mặc dù bị cáo đã tại ngoại trong một thời gian rất dài mà không hề có một dấu hiệu nào cho thấy bị cáo “có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục gây án” nên đã gây bất bình trong dư luận và sự không đồng tình của các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Mặt khác, trong trường hợp Tòa án bắt giam bị cáo sau khi tuyên án thì HĐXX chỉ ra lệnh “bắt giam” sau khi tuyên án (việc tạm giam bị cáo không có lệnh riêng) còn thời hạn tạm giam bao lâu thì thuộc quyền của Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nếu có kháng cáo, kháng nghị thì hết thời hạn này Tòa án cấp sơ thẩm chỉ làm động tác chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án cấp phúc thẩm và coi như hết trách nhiệm, còn việc thay đổi BPNC hay tiếp tục duy trì lệnh tạm giam do Tòa án cấp phúc thẩm quyết định (Điều 243 BLTTHS). Hoặc là HĐXX ra lệnh bắt khi tuyên án đồng thời ra lệnh “tạm giam” riêng nhưng trong lệnh tạm giam không quy định về thời hạn trong trường hợp này. Như vậy, có thể thấy răng, quy định tại Điều 228 BLTTHS và hướng dẫn còn quá ngắn gọn nên trong thực tiên xét xử vẫn còn trường hợp nhận thức và áp dụng thiếu thống nhất, dẫn đến hiện tượng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo 2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp tạm giam 2.1 Nguyên nhân thuộc về công tác xây dựng pháp luật Nhìn chung công tác xây dựng pháp luật tố tụng hình sự nói chung và pháp luật về tạm giam nói riêng đã có nhiều thành tựu và sự hoàn thiện đáng kể, tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử. Mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng BLTTHS vẫn còn những tồn tại trong các quy định về BPNC nói chung cũng như tạm giam nói riêng: có những quy định không rõ ràng, không phù hợp với thực tế áp dụng như đã nêu ở phần 1; chưa dự kiến hết đối tượng cần áp dụng biện pháp tạm giam; thời hạn tạm giam để điều tra chưa phù hợp với thời hạn điều tra, thẩm quyền ra lệnh tạm giam chưa thống nhất trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử..vv. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân xuất phát từ góc độ quy định của pháp luật, do trong BLTTHS còn có một số quy định đang có những nhận thức khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng chưa được các cơ quan có thầm quyền hướng dẫn kịp thời, ví dụ như vấn đề về thời hạn tạm giam do tòa án quyết định..v.. Vì vậy trong thực tiễn đã và đang phát sinh một số vấn đề đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phái xem xét và sửa đổi các quy định của pháp luật cho phù hợp 2.2 Nguyên nhân từ chủ thể áp dụng biện pháp tạm giam Một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến những vướng mắc, tồn tại trong việc áp dụng biện pháp tạm giam chính là nguyên nhân xuất phát từ ý thức của nhiều cán bộ chưa cao, còn có tư tưởng nặng nề về trấn áp nên chưa phân biệt rõ giữa vi phạm hành chính với tội phạm, dẫn đến áp dụng tạm giam sai đối tượng. Công tác chỉ đạo của lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng chưa kịp thời và chưa sâu sát; công tác kiểm sát việc tạm giam của VKS chưa được quan tâm thường xuyên. Nhận thức của một số cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm, quyền hạn trong việc áp dụng biện pháp tạm giam còn hạn chế, chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng. Bên cạnh đó, trình độ của cán bộ làm công tác tạm giam chưa đồng đều, thậm chí nhiều nơi còn chưa đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ dẫn đến những vi phạm không đáng có Sự vô trách nhiệm, lạm quyền của một số người có thẩm quyền trong hoạt động tạm giam cùng với sự hạn chế về hiểu biết pháp luật của công dân cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm về quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền tự do của công dân Ngoài ra cần phải kể đến một số nguyên nhân khách quan như việc thiếu các điều kiện phương tiện, trang bị, chế độ cho công tác truy tố vẫn chưa được ưu tiên đầy đủ làm hạn chế năng lực thực thi nhiệm vụ theo TTHS, dẫn đến việc áp dụng các BPNC nói chung và tạm giam nói riêng trên thực tế còn chưa cao. Kinh phí đầu tư cho công tác xây dựng pháp luật và đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi đạo đức của các chức danh tư pháp trong tạm giam chưa được đầu tư thích đáng…Từ đó dẫn đến năng lực của những người làm công tác tạm giam còn hạn chế, ý thức trách nhiệm chưa cao, có trường hợp còn bị thoái hóa, biến chất về đạo đức. III. Một số phương hướng nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam nói riêng cũng như các biện pháp ngăn chặn nói chung 1. Về xác định khái niệm tạm giam Có thế đưa khái niệm tạm giam vào khoản 1 của Điều luật về tạm giam thay thế cho quy định của khoản 1 Điều 88 BLTTHS hiện hành như sau: 1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền ở Cơ quan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Bài lớn học kì 9đ).doc
Tài liệu liên quan