Chuyên đề Cơ sở pháp lý của hoạt động Kế toán và Kiểm toán ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN KIỂM TOÁN 5

I. Cơ sở pháp lý của hoạt động kế toán. 5

1. Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc kế toán. 5

2. Nội dung công tác kế toán 6

2.1. Chứng từ kế toán 6

2.2. Tài khoản kế toán và sổ kế toán 7

2.3. Báo cáo tài chính 8

2.4. Kiểm tra kế toán 9

2.5. Kiểm kê tài sản, bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán 9

2.6. Công việc kế toán trong trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản. 11

II. Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm toán. 14

1. Những vấn đề chung. 14

2. Tiêu chuẩn và điều kiện của kiểm toán viên. 18

3. Doanh nghiệp kiểm toán 19

III. Các mô hình tổ chức hoạt động của công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kế toán và kiểm toán. 23

1. Công ty TNHH kiểm toán 24

1.1. Tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với công ty TNHH kiểm toán: 24

1.2. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên là cá nhân: 24

1.3. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với người đại diện theo pháp luật của thành viên là tổ chức: 25

2. Công ty Hợp danh kế toán. 26

2.1. Tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với công ty hợp danh kiểm toán 26

2.2. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh: 28

3. Doanh nghiệp tư nhân kiểm toán. 29

3.1. Tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với doanh nghiệp tư nhân kiểm toán: 29

3. 2. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên Ban Giám đốc doanh nghiệp tư nhân kiểm toán: 30

4. Công ty có vốn đầu tư nước ngoài kiểm toán. 30

5. Chuyển đổi loại hình Công ty kiểm toán. 31

CHƯƠNG II: THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM VÀ TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM 32

I. Tổng quan về các công ty tư vấn kế toán và kiểm toán hiện đang hoạt động tại Việt Nam. 33

1. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) 33

1.1. Giới thiệu sơ lược về quá trình thành lập 33

1.2. Bộ máy quản lý 35

2. Tình hình thực hiện và những phương hướng chủ yếu của hoạt động kế toán và kiểm toán trong giai đoạn hiện nay. 37

3. Những kết quả đạt được của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. 40

II. Thực tiễn tại công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam. 42

1. Quá trình hình thành của Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam 42

2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam. 46

2.1. Những kết quả đạt được 46

2.2. Những thuận lợi và khó khăn của hoạt động kế toán và kiểm toán tại Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán 48

III. Những cơ hội, thách thức phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 53

1. Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới và yêu cầu mở của thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán Việt Nam. 53

2. Những cơ hội và thách thức 54

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM 57

I. Những vấn đề cần tiếp tục phải hoàn thiện trong khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán 57

II. Một số khuyến nghị về phía công ty kế toán, kiểm toán; kiểm toán viên và phía các đối tượng được kiểm toán và được cung cấp dịch vụ. 64

1. Về phía công ty kế toán, kiểm toán và kiểm toán viên. 64

2. Về phía các đối tượng được kiểm toán và được cung cấp dịch vụ. 67

III. Một số khuyến nghị tại công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào hoạt động kế toán và kiểm toán tại công ty 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

 

 

doc75 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 12/09/2014 | Lượt xem: 1813 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Cơ sở pháp lý của hoạt động Kế toán và Kiểm toán ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; Đối với doanh nghiệp tư nhân kiểm toán có đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề (như dịch vụ kế toán, dịch vụ định giá tài sản...) thì thành viên Ban Giám đốc trực tiếp phụ trách các dịch vụ đó phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp theo quy định của pháp luật. 4. Công ty có vốn đầu tư nước ngoài kiểm toán. Các Công ty kiểm toán có sở hữu nước ngoài hoạt động theo mô hình TNHH theo Luật Đầu tư Tổ chức kiểm toán ở nước ngoài chưa thành lập chi nhánh tại Việt Nam được thực hiện kiểm toán tại Việt Nam trong các trường hợp dưới đây, trừ khi có quy định khác trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tham gia ký kết hoặc gia nhập: Sau khi kết nạp một doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam làm thành viên thì thực hiện kiểm toán dưới tên của tổ chức nước ngoài và tổ chức thành viên. Hợp tác với một doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam trong từng cuộc kiểm toán riêng lẻ thì báo cáo kiểm toán phải có chữ ký của doanh nghiệp kiểm toán của Việt Nam. Nếu muốn thực hiện độc lập một cuộc kiểm toán ở Việt Nam và lưu hành báo cáo kiểm toán ở Việt Nam thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận cho từng cuộc kiểm toán. 5. Chuyển đổi loại hình Công ty kiểm toán. - Khi thực hiện chuyển đổi các doanh nghiệp kiểm toán thuộc sở hữu vốn của Nhà nước (doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần được cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH một thành viên) thành doanh nghiệp kiểm toán theo quy định tại Thông tư này phải lập phương án chuyển đổi và phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt từng trường hợp cụ thể theo nguyên tắc sau: + Việc kiểm kê, xác định giá trị doanh nghiệp phải thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần; + Việc chuyển đổi phải đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động quy định của Thông tư 60/TT-BTC. + Việc chuyển nhượng phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp kiểm toán có vốn sở hữu Nhà nước được vận dụng hình thức đấu giá công khai theo quy định của pháp luật về sắp xếp, chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. - Việc chuyển đổi công ty cổ phần kiểm toán thành lập trước ngày Nghị định số 105/2004/NĐ-CP có hiệu lực thành công ty TNHH kiểm toán, công ty hợp danh kiểm toán hoặc doanh nghiệp tư nhân kiểm toán phải đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Thông tư này và quyết định của Đại hội đồng cổ đông; hoặc theo nguyên tắc giải thể công ty cũ và đồng thời thành lập công ty mới. - Công ty TNHH kiểm toán, công ty hợp danh kiểm toán đã thành lập trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành nếu xét thấy chưa đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện quy định phải cơ cấu lại tổ chức, đảm bảo các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Thông tư này và đăng ký kinh doanh bổ sung theo quy định hiện hành. - Việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, công ty cổ phần kiểm toán thành công ty TNHH, công ty hợp danh kiểm toán hoặc doanh nghiệp tư nhân kiểm toán và việc cơ cấu lại tổ chức của công ty TNHH kiểm toán, công ty hợp danh kiểm toán theo quy định của Thông tư 60/TT-BTC phải hoàn thành trước ngày 21/4/2007 theo quy định tại điểm 3 Điều 20 Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập. CHƯƠNG II: THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM VÀ TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM I. Tổng quan về các công ty tư vấn kế toán và kiểm toán hiện đang hoạt động tại Việt Nam. 1. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) 1.1. Giới thiệu sơ lược về quá trình thành lập Mười lăm năm qua, hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã có bước tiến dài. Năm 1991, Bộ tài chính thành lập hai công ty là doanh nghiệp Nhà nước làm kiểm toán, đó là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC). Sau khi có luật Doanh nghiệp năm 1999, số lượng các công ty kiểm toán thành lập mới tăng nhanh. Năm 2001, dự kiến đến năm2010 có 100 công ty nhưng đến nay cả nước đã có 128 công ty kiểm toán với trên 7000 người làm việc, trong đó 4 công ty 100% vốn nước nước ngoài, 13 công ty của Việt Nam là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế, 1434 người được Bộ trưởng Bộ tài chính cấp chứng chỉ kiểm toán viên, trên 200 kiểm toán viên đạt trình độ quốc tế. Năm 2005 đã cung cấp trên 20 loại dịch vụ nghề nghiệp cho 12000 khách hàng với doanh thu 662 tỷ đồng. Chất lượng kiểm toán phụ thuộc chất lượng kiểm toán viên. Từ trước đến nay, Bộ tài chính đều thực hiện quản lý trực tiếp, toàn diện đội ngũ kiểm toán viên. Gần đây, các tổ chức quốc tế đều yêu cầu Nhà nước chuyển giao công việc quản lý ngành nghề kế toán, kiểm toán cho Hội nghề nghiệp. Để tạo dựng Hội nghề nghiệp đảm trách chức năng quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán, theo đề nghị của Bộ Tài chính, được phép của Bộ Nội vụ, ngày 15/4/2005 Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) đã được thành lập tại Hà Nội và chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2006. Ngày 14/07/2005 tại Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC, Bộ trưởng Bộ tài chính đã chính thức chuyển giao chức năng quản lý ngành nghề kế toán, kiểm toán cho VACPA. Từ ngày 01/01/2007 VACPA đã triển khai toàn bộ chức năng được giao. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới cho nghề nghiệp kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Kể từ đây, những người hành nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã có một tổ chức nghề nghiệp độc lập, tự cân đối và tự quản lý riêng. Hội sẽ hỗ trợ, đào tạo, cập nhật chuyên môn, kiểm soát chất lượng dịch vụ, đào tạo nghề nghiệp, trao đổi vướng mắc, kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng và uy tín Hội viên, duy trì và phát triển nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ở Việt Nam sánh vai với bè bạn trong khu vực và quốc tế. Nguyên tắc tổ chức Hội được tổ chức theo nguyên tắc tập trung từ Trung ương trực tiếp đến Hội viên, gồm: + Ban chấp hành Hội + Ban thường trực Hội + Các ban chuyên môn : Ban đào tạo, Ban Tư vấn, Ban Kiểm tra, Ban Đối ngoại. + Văn phòng Hội. Tôn chỉ, mục đích hoạt động. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam ( VACPA) là tổ chức nghề nghiệp của các cá nhân và doanh nghiệp hành nghề kiểm toán độc lập chuyên nghiệp ở Việt Nam. Hội hoạt động với mục đích tập hợp, đoàn kết các kiểm toán viên; duy trì, phát triển nghề nghiệp, nâng cao trình độ và danh tiếng kiểm toán viên, nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán, giữ gìn phẩm chất đạo đức nghề nghiệp nhằm góp phần tăng cường quản lý kinh tế, tài chính cho các doanh nghiệp và đất nước; mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập với các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ở các nước trong khu vực và trên thế giới. 1.2. Bộ máy quản lý 1.2.1. Đại hội đại biểu. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Nhiệm kỳ Đại hội là ba năm do Ban chấp hành triệu tập. Ban chấp hành có thể triệu tập Đại hội bất thường khi có 2/3 số Ủy viên Ban chấp hành hoặc 1/2 tổng số Hội viên chính thức đề nghị. Nhiệm vụ củ Đại hội + Thảo luận và thông qua Báo cáo tổng kết hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ mới, quyết định mức thu hội phí theo từng loại Hôi viên. + Thảo luận và thông qua việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của Hội ( nếu có). + Thông qua báo cáo thu, chi tài chính nhiệm kỳ mới, quyết định mức thu hội phí theo từng loại Hội viên. + Quyết định số lượng thành viên ban chấp hành Hội, bầu Ban chấp hành Hội nhiệm kỳ mới. 1.2.2. Ban chấp hành Hội. Ban chấp hành Hội gồm 15 người có uy tín, tâm huyết với nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn, năng lực va giầu kinh nghiệm quản lý, điều hành, có phẩm chất đạo đức tốt. Ban chấp hành Hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, Ban chấp hành họp mỗi năm từ 1 đến 2 lần hoặc họp bất thường do Chủ tịch Hội triệu tập khi có quá 1/2 số thành viên Ban chấp hành yêu cầu. Giữa hai nhiệm kỳ Đại hội nếu thiểu hụt từ 4 Ủy viên Ban chấp hành trở lên thì được bầu bổ sung Ban chấp hành Hội bầu chủ tịch và hai phó chủ tịch là thành viên Ban lãnh đạo doanh nghiệp kiểm toán hoặc là viên chức Nhà nước hoặc cơ quan khác không phải là doanh nghiệp kiểm toán. Nhiệm vụ của Ban chấp hành Hội + Sau Đai hội, Ban chấp hành bầu Chủ tịch, các phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và Ban kiểm tra. + Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành hoặc các ký sinh hoạt hôi viên hàng năm. + Xây dựng chương trình hoạt động hàng năm và cả nhiệm kỳ; Tổ chức thực hiện chương trình theo nghị quyết Đại hội + Soạn thảo Báo cáo tổng kết hàng năm, xây dựng mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu năm sau + Chuẩn bị văn kiện Đại hội, triệu tập Đại hội, tổ chức các kỳ sinh hoạt Hội viên hoặc Đại hội bất thường + Lãnh đạo thực hiện điều lệ Hội. 1.2.3. Ban thường trực Hội. Ban thường trực Hội là cơ quan thường trực của Ban chấp hành, có nhiệm vụ điều hành việc thực hiện các Nghị quyết của Đại hội và Hội nghị Ban chấp hành giữa hai kỳ họp. Ban thường trực có chủ tịch, các phó chủ tịch, tổng thư ký và các ủy viên. Ban thường trực 6 tháng họp một lần và họp bất thường do chủ tịch triệu tập hoặc khi có quá 1/2 số ủy viên ban thường trực yêu cầu. 1.2.4. Ban kiểm tra của Hội. Ban chấp hành bầu ra ban kiểm tra gồm:Trưởng ban, phó trưởng ban và một số ủy viên. Trưởng ban kiểm tra phải là Ủy viên Ban chấp hành Hội Ban kiểm tra của hội có nhiệm vụ: + Kiểm tra việc thực hiện điều lệ của hội + Kiểm tra các hoạt động của ban chấp hành + Kiểm tra tài chính của hội + xem xét và giải quyết các đơn thư (nếu có) Trưởng ban kiểm tra được mới tham dự hội nghị thường kì của ban thường trưc. Ban kiểm tra có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tra với ban chấp hành và cóc quyền kiến nghịnhững biện pháp cần thiết, kể cả kiến nghị triệu tập đại hội bất thường để giải quyết các vấn đề quan trọng và cấp bách phát sinh. 1.2.5. văn phòng hội và các ban chuyên môn Văn phòng hội và các ban chuyên môn do ban thường trực đề nghị chủ tịch hội quyết định. Văn phòng hội và các ban chuyên môn là bộn phận giúp việc cho ban thường trực và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chủ tịch hội hoặc tổng thư kí theo phân công của chủ tịch hội 2. Tình hình thực hiện và những phương hướng chủ yếu của hoạt động kế toán và kiểm toán trong giai đoạn hiện nay. Tình hình thực hiện của hoạt động kế toán , kiểm toán Dịch vụ kế toán, kiểm toán ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc tăng cường tính công khai minh bạch của nền kinh tế. Tính đến đầu năm 2007, cả nước có 130 công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán, trong đó 4 công ty kiểm toán nước ngoài; có 1.300 người có chứng chỉ hành nghề kiểm toán, trong đó 300 người có chứng chỉ hành nghề quốc tế. Phạm vị hoạt động của dịch vụ kế toán, kiểm toán ngày càng mở rộng. Từ chỗ chỉ kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết và các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, đến nay hoạt động kiểm toán đã được mở rộng thêm nhiều lĩnh vực khác như: kiểm toán các doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi sở hữu, tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, tư vấn rủi ro kinh doanh và rủi ro đầu tư, tư vấn đầu tư ra nước ngoài... Hệ thống các Chuẩn mực kế toán và kiểm toán được xây dựng và ban hành trên nền tảng Chuẩn mực quốc tế và có tính đến tính đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Hiện tại, Bộ Tài chính đã ban hành 28/36 Chuẩn mực kế toán và ban hành 38 Chuẩn mực kiểm toán, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Việt Nam. Vai trò và chức năng của Hiệp Hội kế toán và Hiệp Hội kiểm toán đang từng bước được nâng cao. Theo lộ trình đã đặt ra, từ đầu năm 2007, Hiệp Hội kiểm toán sẽ tiếp nhận một số chức năng quản lý từ Bộ Tài chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Hoạt động cạnh tranh trên thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán diễn ra theo chiều hướng bình đẳng hơn với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thuộc nhiều thành phần sở hữu khác nhau. Phạm vi cung ứng dịch vụ được mở rộng, chất lượng sản phẩm dịch vụ được nâng cao, giá cả phù hợp với tiềm lực của khách hàng đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường. Thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán cũng còn tồn tại là qui mô, năng lực của các công ty cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán còn khá nhỏ. Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực lành nghề trong lĩnh vực còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra giữa các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, dẫn đến suy giảm về chất lượng dịch vụ. Trong năm 2007 và những năm tới các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán phải tiếp tục: Hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán cho phù hợp với những đổi mới về chính sách (Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật đầu tư...), đảm bảo tất cả các doanh nghiệp, tổ chức có được hệ thống kế toán phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu trình Chính phủ ban hành Chương trình phát triển kế toán, kiểm toán và thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán đến năm 2010; Nghiên cứu trình Quốc Hội ban hành Luật Kiểm toán độc lập. Tiếp tục ban hành các Chuẩn mực kế toán, kiểm toán còn lại trên nguyên tắc tiếp thu các Chuẩn mực quốc tế có tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam, đặc biệt là các Chuẩn mực kế toán liên quan đến thì trường tài chính, thị trường chứng khoán. Ban hành cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán. Mở rộng thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán; Chuyển giao việc hướng dẫn chính sách tài chính, thuế, kế toán, kiểm toán từ cơ quan Nhà nước cho các công ty cung ứng dịch vụ dưới hình thức tư vấn; Chuyển giao việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán cho Hội nghề nghiệp. Tiếp tục mở rộng dịch vụ tư vấn kế toán, kiểm toán sang các lĩnh vực khác như kiểm toán soát xét, tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, qui trình quản trị kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ... Có chế tài cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, Kiểm toán viên đối với kết quả kiểm toán cuối cùng; Hạn chế và đi tới chấm dứt tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty cung ứng dịch vụ. Tăng cường công tác kiểm tra tuân thủ pháp luật và Chuẩn mực kế toán, kiểm toán trong các doanh nghiệp; Kiểm soát đạo đức hành nghề của Kiểm toán viên, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán, nâng cao tính công khai, minh bạch của nền kinh tế, tăng cường tính bền vững của thị trường tài chính Việt Nam. 3. Những kết quả đạt được của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Trải qua 15 năm hoạt động, phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập đã đạt được một số thành công khá cơ bản và đáng khích lệ. Thứ nhất, Nhận thức về kiểm toán nói chung, kiểm toán độc lập nói riêng, nhận thức và vai trò, vị thế của kiểm toán độc lập ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. Từ loại hình hoạt động chưa hề có ở Việt Nam, ngày nay Kiểm toán độc lập đã được xã hội thừa nhận như một nhu cầu tất yểu, góp phần duy trì và phát triển nghề nghiệp kiểm toán, kế toán Việt Nam. Hoạt động kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận tình trạng tài chính của doanh nghiệp Thứ hai, Hoạt động kiểm toán độc lập đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy đầu tư, đặc biệt đầu tư từ nước ngoài. Sự xuất hiện và hoạt động của kiểm toán độc lập đã giúp các nhà đầu tư nước ngoài có điều kiện tiếp cận và hiểu biết cần thiết về luật pháp kinh tế, tài chính, về nguyên tắc và các quy định kế toán, kiểm toán Việt Nam. Hoạt động của kiểm toán độc lập đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư của Việt Nam cũng như quyết tâm gia nhập thị trường Việt Nam của các nhà đầu tư. Chắc chắn, thiếu sự hiểu biết hoặc với hiểu biết chưa đầy đủ về môi trường pháp lý và môi trường kinh tế, các nhà đầu tư sẽ ngần ngại và đương nhiên cơ hội đầu tư sẽ bị bỏ qua hoặc hoạt động đầu tư sẽ diễn ra chậm hơn. Hơn nữa, bằng nghiệp vụ chuyên môn, bằng các hoạt động khách quan và độc lập, kiểm toán sẽ đánh giá, xác nhận một cách trung thực, có căn cứ về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, của các tổ chức kinh tế, hạn chế các hoạt động thanh tra, kiểm tra mang nặng tính hành chính. Hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng sẽ đảm bảo sự trung thực, khách quan, tin cậy của các thông tin kinh tế - tài chính khi truyền tải cho các đối tượng sử dụng thông tin hoặc công khai báo cáo tài chính, đặc biệt là trong sắp xếp, đổi mới cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước, trong hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán… Có thể nói, thời gian vừa qua kiểm toán độc lập Việt Nam đã làm được nhiều việc khẳng định vai trò vị thế trong cơ chế kinh tế mới. Thứ ba, Kiểm toán độc lập phát triển nhanh, mạnh cả về lượng và chất, khi tổng kết 15 năm hoạt động của ngành kiểm toán độc lập cả nước có gần 100 công ty dịch kế toán và kiểm toán, trong đó có 3 công ty Nhà nước, 4 công ty có100% vốn nước ngoài( là những công ty kiểm toán lớn của thế giới), 16 công ty hợp danh, 14 công ty cổ phần, còn lại là các công ty TNHH. Nhà nước đã công nhận 87 công ty đủ điều kiện hành nghề. Thứ tư, Đã hình thành đội ngũ kiểm toán viên hành nghề với chất lượng ngày càng cao. Từ năm 1994 đến nay, Bộ Tài chính tổ chức 11 kỳ thi tuyển kiểm toán viên quốc gia, đã công nhận và cấp chứng chỉ kiểm toán viên cho 1234 người. Hiện trong số này có 120 người đạt trình độ quốc tế, có chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế, chiểm 10% kiểm toán viên cả nước. Theo thống kê, đến năm 2006 có 868 người đang làm việc tại các công ty kiểm toán, cung cấp 20 loại hình nghiệp vụ chuyên môn. Thứ năm, Với tư cách là hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực tài chính, Kiểm toán độc lập đã góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường dịch vụ tài chính, tiền tệ mở cửa và hội nhập. Kế toán, kiểm toán đã và đang là lĩnh vực dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế thị trường, trong tiến trình mở cửa và hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Tổng doanh thu của các công ty kiểm toán hoạt động ở Việt Nam hàng năm đã tăng đáng kể, riêng năm 2005 đã đạt xấp xỉ 550 tỷ đồng, tạo hàng nghìn chỗ làm việc cho các sinh viên mới tốt nghiệp. Thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán đã hình thành, sẵn sàng gia nhập thị trường khu vực và thế giới. Bên cạnh những kết quả đạt được của hoạt động kế toán và kiểm toán còn không ít những tồn tại của hoạt động này. Trong đó nổi cộm nhất là chất lượng của hoạt động kiểm toán, số lượng và chất lượng của đội ngũ kiểm toán viên, tình hình cạnh tranh không lành mạnh, không minh bạch trên thị trường dịch vụ tài chính kế toán và kiểm toán của Việt Nam. So với sự phát triển của nền kinh tế, với nhu cầu hiện nay thì số lượng kiểm toán viên chưa nhiều, về chất lượng chưa đảm bảo, chưa đồng đều, chưa đáp ứng được các yêu cầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế…Điều đáng mừng nhiều người rất quan tâm đến nghề kiểm toán bằng việc tham gia thi tuyển, tự nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn. Các thí sinh dự thi kiểm toán viên quốc gia ngày một đông. Năm 2004 là 400 thí sinh, năm 2005 là 700, và năm 2006 trên 1000 thí sinh tham gia kỳ thi tuyển kiểm toán viên. Tuy nhiên, có một thực tế là không ít người được cấp chứng chỉ, chứng chỉ kiểm toán viên và đăng kí hành nghề nhưng vì nhiều lý do khác nhau đã chuyển dịch nghề nghiệp. Đó là lý do quan trọng làm giảm số lượng kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán viên không được nâng lên tương xứng. II. Thực tiễn tại công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam. 1. Quá trình hình thành của Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam Thời gian gần đây, đặc biệt từ sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2004/NĐ – CP, hoạt động kế toán và kiểm toán nước ta đang có sự phát triển mạnh mẽ để thích hợp với cơ chế quản lí mới và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước. Trong hơn 15 năm qua, có thể nói hệ thống văn bản pháp luật quản lý lĩnh vực nghề nghiệp và dịch vụ kế toán và kiểm toán đã cơ bản được xây dựng từ không đến có, đáp ứng đủ cơ sở pháp lý cho hoạt động này. Kiểm toán độc lập từ chỗ là biện pháp bắt buộc theo quy định của Nhà nước, phần lớn các doanh nghiệp chưa hiểu rõ kiểm toán là gì? Có vai trò như thế nào thì nay đã được coi là một biện pháp quản lý mà tự thân các doanh nghiệp rất quan tâm. Chính vì vậy, số lượng các công ty dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán cũng như khách hàng những năm qua đã tăng lên nhanh chóng. Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam cũng ra đời trong hoàn cảnh đó. Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam được thành lập ngày 10/10/2006 theo giấy Đăng kí kinh doanh số 01020228384 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam là một trong những loại hình Công ty TNHH 2 thành viên trở lên hoạt động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, và tư vấn tài chính; là một tổ chức kinh tế hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại ngân hàng theo quy định của pháp luật.Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tên công ty, địa chỉ giao dịch: Tên công ty: Công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam Tên bằng tiếng nước ngoài: VietNam auditing and accounting consultancy company limited Tên viết tẳt: AVA CO., LTD Địa chỉ trụ sở chính: Số 160, phố Phương Liệt, Phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Ngành nghề kinh doanh + Kiểm toán báo cáo tài chính; + Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế; + Kiểm toán hoạt động; + Kiểm toán tuân thủ; + Kiểm toán nội bộ; + Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành(kể cả báo cáo tài chính hàng năm) + Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án; + Kiểm toán thông tin tài chính; + Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước; + Tư vấn tài chính; + Tư vấn thuế; + Tư vấn nguồn nhân lực; + Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin; + Tư vấn quản lý; + Dịch vụ kế toán; + Dịch vụ định giá tài sản(trừ định giá những tài sản thuộc thẩm quyền Nhà nước); + Dịch vụ bồi dưỡng cập nhật kiển thức tài chính, kế toán, kiểm toán; + Các dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp luật; + Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính (Doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật) Vốn điều lệ, danh sách thành viên góp vốn: Vốn điều lệ: 500.000.000(Năm trăm triệu đồng Việt Nam) Danh sách thành viên góp vốn: Số TT Tên thành viên Nơi đăng kí hộ khẩuthường trú đối với cá nhân hoặc địa chỉ trụ sở chính đối với tổ chức Giá trị vốn góp (đồng) Phần vốn góp (%) 1 LƯU QUỐC THÁI Số nhà 30/52, phố Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 200.000.000 40 2 BÙI ĐỨC VINH Thôn Giáp Lai, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 150.000.000 30 3 HÀ KIM NGỌC Đường Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, huyện Mêlinh, tỉnh Vĩnh Phúc 150.000.000 30 Người đại diện theo pháp luật của công ty: Chức danh: Giám đốc Họ và tên: LƯU QUỐC THÁI Giới tính:(Nam) Sinh ngày: 11/08/1970 Dân tộc: Kinh Quốctịch: Việt Nam Chứng minh nhân dân(hoặc hộ chiếu) số: PTA 0400890A Ngày cấp: 20/09/2002 Nơi cấp: Cục quản lý xuất nhập cảnh Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 30/52, phố Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng Chỗ ở hiện tại: Số 34E/77, phố Bùi Xương Trạch, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động của công ty là nhằm cung cấp các dịch vụ chuyên ngành tốt nhất, đảm bảo quyền lợi và lợi ích cao nhất cho khách hàng, cung cấp những thông tin với độ tin cậy cao cho công tác quản lý kinh tế tài chính và điều hành công việc sản xuẩt kinh doanh, mang lại hiệu quả cao nhất. Hơn thế nữa với kinh nghiệm thực tiễn về chuyên ngành, gần gũi với khách hàng, tận tình, thông thạo, nghiệp vụ và hiểu biết kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam, đội ngũ kiểm toán viên và thẩm định viên của công ty nắm rõ các yêu cầu trong quản lý, sản xuất kinh doanh, các khó khăn mà khách hàng sẽ gặp phải và hỗ trợ khách hàng giải quyết tốt các vấn đề đó mà ít có một tổ chức dịch vụ chuyên ngành nào tại Việt Nam có thể thực hiện được. Đội ngũ nhân viên Để hoạt động thành công và có hiệu quả công ty luôn coi trọng vấn đề trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên, hiện nay AVA có gần 20 kiểm toán viên cấp Nhà nước, 03 kiểm toán viên có chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế ACCA và CPA Australia, 05 Tiến sỹ và Thạc sỹ kinh tế. Đội ngũ của công ty là những kiểm toán viên có bản lĩnh, có tính chuyên nghiệp, có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại các Công ty kiểm toán lớn như: AASC, KPMG, E&Y…chắc chắn sẽ đáp ứng những yêu cầu cao nhất của khách hàng. Phương châm dịch vụ của AVA Nhằm đảm bảo cung cấp những dịch vụ có chất lượng tốt nhất, mọi hoạt động của công ty luôn tôn trọng nguyên tắc: Cam kết chất lượng với khách hàng, tuân thủ các quy định của Nhà nước Việt Nam, các Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam do Nhà nước ban hành cũng như các Chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận chung. Bên cạnh đó công ty cũng luôn nhận thức đặt lợi ích hợp pháp của khách hàng lên hàng đầu. 2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam. 2.1. Nhữ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32189.doc
Tài liệu liên quan