Chuyên đề Một số vấn đề về thực trạng công tác trả lương tại công ty vật tư kỹ thuật xi măng

Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân được dùng để tính lương cho những nhân viên trực tiếp bán hàng, căn cứ vào sản lượng hàng nhân viên đó bán được trong tháng, có thể là bán đầu mối (bán ngay tại cảng, bến xe ) hay bán tại cửa hàng. Ngoài ra còn được dùng để tính lương cho những lao động trực tiếp khác như: nhân viên áp tải, bốc xếp, công nhân lái xe tải ở các chi nhánh.

Đối với hàng bán đầu mối, Công ty đưa ra đơn giá là 2500đ/1tấn xi măng.

Đối với hàng bán tại các cửa hàng và trung tâm, Công ty đưa ra đơn giá là 7000đ/1tấn xi măng. Ngoài ra trong một số thời kỳ, nhằm khuyến khích người lao động Công ty có thể nâng đơn giá tiền lương lên cao hơn.

Để hiểu rõ cách tính lương cho lao động trực tiếp ta xét ví dụ:

Chị Hoàng Thị Loan là nhân viên bán hàng tại cửa hàng 72 Đông Anh, thuộc trung tâm số 1 – Đông Anh. Chị Loan có hệ số lương là 2,86, hệ số phụ cấp trách nhiệm là 0,10. Tháng 12/2006 chị Loan làm 7 ngày công, nghỉ phép 14 ngày, xếp hạng thành tích của chị là loại A. Trong tháng 12/2006 chị Loan bán được 742,1 tấn hàng, trong đó sản lượng đầu mối là 327 tấn, sản lượng hàng bán tại cửa hàng là 415,1 tấn.

 

doc83 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 22/06/2013 | Lượt xem: 1449 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Một số vấn đề về thực trạng công tác trả lương tại công ty vật tư kỹ thuật xi măng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phòng Điều độ - Quản lý kho: tham mưu giúp Giám đốc Công ty trong các lĩnh vực: Lập kế hoạch điều độ sản xuất kinh doanh, ttỏ chức tiếp nhận, áp tải, bảo quản, xếp dỡ, giao nhận hàng hoá, điều độ vận tải, tổ chức quản lý việc nhập, xuất xi măng và vật tư hàng hoá tại các kho hàng, bến bãi phục vụ sản xuất kinh doanh của Công ty. - Phòng tổ chức lao động: Tham mưu, giúp giám đốc công ty trong công tác tổ chức, cán bộ; lao động tiền lương, an toàn vệ sinh lao động; công tác thanh tra pháp chế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ và thực hiện các chính sách đối với người lao động. 2.2. Đặc điểm chung về nhân sự của công ty. Bảng1 : Số lao động trong Công ty qua các năm Đơn vị: Người Số lao động năm 2003 Số lao động năm 2004 Số lao động năm 2005 1.Ban giám đốc 3 1.Ban giám đốc 3 1.Ban giám đốc 2 2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 3 2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 4 2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 4 3.P.Tổ chức lao động 8 3.P.Tổ chức lao động 8 3.P.Tổ chức lao động 7 4.P. Ktế k.hoạch 6 4.P. Ktế k.hoạch 4 4.P. Kế hoạch thị trường 9 5.P. tài chính kế toán 14 5.P. tài chính kế toán 13 5.P. tài chính kế toán 13 6.P. QL thị trường 6 6.P. QL thị trường 4 6.P. QLDAKTĐT 9 7.P. QLDAKTĐT 11 7.P. QLDAKTĐT 10 7.P. Điều độ và Qlkho 85 8.P. Điều độ và Qlkho 86 8.P. Điều độ và Qlkho 83 8.Văn phòng Công ty 44 9.Văn phòng Công ty 44 9.Văn phòng Công ty 44 9.P.Tiêu thụ xi măng 259 10. P.Tiêu thụ xi măng 260 10. P.Tiêu thụ xi măng 243 10.Nghỉ ốm đau,thai sản 11 11. Nghỉ ốm đau,thai sản 20 11. Nghỉ ốm đau,thai sản 19 11.Nghỉ chờ hưu 12.Nghỉ chờ hưu 8 12.Nghỉ chờ hưu 2 12.XN Vận tải 60 13. XN Vận tải 96 13.XN Vận tải 83 13.XN Bao bì Vĩnh Tuy 92 14. Lớp học vỏ bao 17 14.Trung tâm thể thao Gtri 7 15.Trung tâm thể thao Gtrí 7 Tổng khu vực Hà Nội 565 Tổng khu vực Hà Nội 544 Tổng khu vực Hà Nội 602 15. CN Thái Nguyên 22 16. CN Thái Nguyên 23 16. CN Thái Nguyên 22 16. CN Lào Cai 23 17. CN Lào Cai 22 17. CN Lào Cai 25 17. CN Vĩnh Phúc 27 18. CN Vĩnh Phúc 27 18. CN Vĩnh Phúc 28 18. CN Phú Thọ 89 19. CN Phú Thọ 86 19. CN Phú Thọ 85 Toàn Công ty 726 Toàn Công ty 702 Toàn Công ty 762 Nguồn : Phòng tổ chức lao động Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng, quyết định cơ cấu lao động trong tổ chức hợp lý hay không hợp lý, gọn nhẹ hay kềnh càng, hiệu quả hay kém hiệu quả, nó còn quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh của tổ chức. Trong quá trình hình thành và phát triển, số lao động trong Công ty luôn được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn và yêu cầu hoạt động của Công ty. Năm 1995 Công ty có 998 lao động, tuy nhiên tới năm 2003 số cán bộ công nhân viên trong công ty giảm xuống còn 726 người, năm 2004 chỉ còn 702 người, đó là do Tổng công ty xi măng Việt Nam chuyển giao hai chi nhánh Công ty vật tư kỹ thuật xi măng tại Hà Tây, hoà Bình về lại công ty xi măng Bỉm Sơn nhằm đẩy mạnh sản lượng tiêu thụ xi măng Bỉm Sơn, ngoài ra còn do sự tổ chức sắp xếp lại lao động hợp lý hơn, bớt cồng kềnh. Năm 2005 số lao động trong Công ty lại tăng lên 762 người, đó là do việc tiến hành hoạt động của xí nghiệp bao bì Vĩnh Tuy (92 người, trong đó 7 người đã được đào tạo những kỹ thuật, chuyên môn về bao bì từ năm 2004). Số lao động tại các chi nhánh tăng giảm không đáng kể, có sự ổn định về số lượng: - Chi nhánh Thái Nguyên có số lao động qua các năm là: năm 2003: 22, năm 2004: 23 và 2005: 22 cán bộ công nhân viên; biến động nhân sự không đáng kể thể hiện sự ổn định của chi nhánh này, điều này được chứng minh qua sàn lượng xi măng tiêu thụ được các năm rất ổn định, năm 2003: 118 nghìn tấn, năm 2004: 119 nghìn tấn, năm 2005: 131 nghìn tấn. - Chi nhánh Lào Cai có số lao động qua các năm là: năm 2003: 23, năm 2004: 22, năm 2005: 25 cán bộ công nhân viên; năm 2005 tăng 3 người so với năm 2004, tương ứng 13,7% và tăng 2 người so với năm 2003, tương ứng với 8,7%. SỞ dĩ có sự tắng lên như vậy là do những năm gần đây nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lào Cai là một trong những tỉnh biên giới phía Bắc đầy tiềm năng với các khu công nghiệp. Không những thế, sự thông thương với Trung Quốc là yếu tố quan trọng giúp cải thiện đời sống của người dân Lào Cai, từ đó nhu cầu xây dựng cũng tăng cao, đồng nghĩa với việc tăng sản lượng xi măng bán ra trên địa bàn. Ngoài ra, nước ta đang có chủ trương phát triển du lịch, và Sapa (Lào Cai) là một điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, xây dựng thêm nhiều khách sạn, nhà hàng để phục vụ lượng du khách khổng lồ đang đổ về Sapa là điều tất yếu, vì vậy lượng tiêu thụ xi măng của chi nhánh Lào Cai tăng nhanh từ 63 nghìn tấn năm 2003 lên 80 nghìn tấn năm 2005, số cửa hàng tại đây cũng tăng, điểu này giải thích tại sao số nhân viên lại tăng. - Chi nhánh Vĩnh Phúc qua 3 năm chỉ tăng 1 lao động. - Chi nhánh Phú Thọ số cán bộ công nhân viên giảm dần, năm 2003: 89 người, năm 2004: 86 người, năm 2005: 85 người. Sản lượng xi măng bán ra trên thị trường Phú Thọ giảm mạnh, dẫn đến số của hàng trên địa bàn không tăng mà còn giảm nhân sự tại chi nhánh. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm nhân viên. Hiện nay để hoạt động hiệu quả hơn, Công ty đang tiến hành cổ phần hoá, tinh giảm biên chế, gọn nhẹ cơ cấu tổ chức, số lao động năm 2006 là 635 người, đầu năm 2007 chỉ còn 335 người. Cơ cấu Công ty cũng có sự thay đổi, phòng quản lý thị trường và phòng kinh tế kế hoạch hợp nhất thành phòng kế hoạch thị trường. Nhằm phục vụ tiêu chí kinh doanh có hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường. Ban giám đốc giảm từ ba người trong năm 2003, 2004 xuống còn hai người trong năm 2005, hiện nay ban giám đốc gồm giám đốc và một phó giám đốc. Trong Công ty có phòng tiêu thụ xi măng là phòng có số lao động nhiều và cồng kềnh nhất, năm 2003 phòng này có 260 người, 243 người trong năm 2004, và 259 người vào năm 2005. Phòng tiêu thụ xi măng có cơ cấu như một chi nhánh nhỏ của Công ty với hệ thống cửa hàng lên tới con số 115 cửa hàng. Các phòng ban khác, số người thay đổi không đáng kể. 2.3. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây. Bảng 2 : Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Đơn vị: nghìn đồng Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 1. Tổng doanh thu 1.516.533.879 1.578.340.178 1.385.059.979 2. Giá vốn hàng bán 1.407.399.507 1.467.718.789 1.285.927.853 3. Lợi nhuận gộp 109.134.371 110.621.389 99.132.125 4. Doanh thu tài chính 4.155.368 2.932.756 2.370.481 5. Chi phí hoạt động tài chính (lãi vay) 1.739 1.542 993.316 6. Chi phí bán hàng 84.557.739 86.789.693 66.167.710 7. Chi phí quản lý DN 26.669.377 20.829.619 21.426.572 8. LN thuần từ hoạt động kinh doanh 8.660.885 5.934.499 12.915.007 9. Thu nhập khác 18.350.345 21.459.774 7.512.088 10. Chi phí khác 14.556.159 18.408.214 5.177.949 11. Lợi nhuận khác 3.794.159 3.051.560 2.344.138 12. Tổng lợi nhuận trước thuế 12.455.044 8.986.060 15.249.145 13. Thuế thu nhập 4.520.397 2.509.096 4.269.760 14. Lợi nhuận sau thuế 7.934.647 6.476.963 10.979.384 Nguồn: Phòng tài chính kế toán Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh trên cho thấy doanh thu của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng rất lớn vì Công ty kinh doanh xi măng - một sản phẩm có giá trị cao và là vật liệu không thể thiếu trong ngành xây dựng. Quá trình công nghiệp hoá của đất nước càng nhanh thì nhu cầu xi măng cho xây dựng cũng tăng nhanh tương ứng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nhu cầu xây dựng là rất lớn để hoàn thiện cơ sở vật chất hạ tầng. Do đó, nhu cầu xi măng tăng nhanh đột biến trong những năm qua, đó cũng là cơ hội cho doanh nghiệp phát triển tăng doanh thu. Lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng dần qua các năm: Lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2003 là 7.934.647 nghìn đồng, năm 2004 là 6.476.963 nghìn đồng và năm 2005 là 10.979.384 nghìn đồng. Do đó, năm 2004 lợi nhuận sau thuế giảm 1.457.684 nghìn đồng, tức năm 2004 lợi nhuận sau thuế chỉ bằng 81.6% so với năm 2003. Năm 2005 lợi nhuận sau thuế tăng so với năm 2004 là 4.502.421 nghìn đồng, tức là năm 2005 lợi nhuận sau thuế bằng 170% so với năm 2004 và bàng 138.7% so với năm 2003. Đây là một thành tích rất đáng kể của Công ty trong năm 2005, tuy doanh thu của Công ty giảm sút mạnh so với năm 2004 và năm 2003 lợi nhuận của Công ty vẫn tăng so với 2 năm qua. Lý do làm cho Công ty tăng lợi nhuận sau thuế là do chi phí bán hàng của Công ty đã giảm đáng kể, vì vậy việc tổ chức tốt mạng lưới tiêu thụ đã làm cho chi phí quản lý của doanh nghiệp giảm và vì thế lợi nhuận của Công ty tăng lên. . Đồng thời các loại chi phí của Công ty lại giảm dầnchi phí đ âyy là một tín hiệu tốt cho Công ty. II. Phân tích thực trạng công tác tiền lương của công ty 1. Các nguyên tắc phân phối tiền lương của Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Thực hiện phân phối theo lao động, trả lương gắn với kết quả hoàn thành công việc của từng người, từng bộ phận. Những người thựuc hiện các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tay nghề giỏi, đóng góp nhiều vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty thì được trả lương cao. Quỹ tiền lương được dùng để phân phối cho lao động làm việc trong Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng, không sử dụng vào mục đích khác. Hàng tháng, phòng tổ chức lao động Công ty, xí nghiệp vận tải và các chi nhánh trực thuộc trên cơ sở sản lượng thực hiện và đơn giá tiền lương được Công ty giao, phải xây dựng đơn giá tiền lương của đơn vị mình, trình giám đốc Công ty phê duyệt trước khi phân phối cho người lao động. Tiền lương phân phối cho người lao động, được thể hịên đầy đủ trên bảng thanh toán lương hàng tháng. Sau kỳ thanh toán lương các đơn vị trực thuộc phải báo cáo quyết toán lương theo quy định của Công ty. 2. Nguồn hình thành và sử dụng quỹ tiền lương của Công ty a. Nguồn hình thành và sử dụng gồm: - Quỹ tiền lương theo đơn giá được tổng công ty xi măng Việt nam giao; - Quỹ tiền lương bổ sung được trích từ lợi nhuận, do thực hiện lợi nhuận vượt kế hoạch gắn với đơn giá tiền lương được giao (nếu có); - Quỹ tiền lương bổ sung theo chế độ quy định của nhà nước (phép, lễ tết, nghỉ việc riêng có lương…) - Quỹ lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ khác ngoài đơn giá tiền lương được giao (nếu có); - Quỹ tiền lương dự phòng từ năm trước chuyển sang. Sử dụng quỹ tiền lương của Công ty được chia làm hai quỹ: - Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động trong các tháng của năm, tương đương 90% tổng quỹ lương của Công ty. - Quỹ tiền lương còn lại tương đương 10% tổng quỹ lương (gọi chung là quỹ lương dự phòng), dùng để chi bổ sung quỹ lương cho các đơn vị trong Công ty khi cần thiết; Chi lương cho những CBCNV trong thời gian nghỉ 3 tháng chờ làm thủ tục hưu trí; chi phụ cấp trách nhiệm hàng tháng cho cửa hàng trưởng và dự phòng cho năm sau… b. Xây dựng đơn giá tiền lương. *. Đơn giá tiền lương của Công ty Lao động trong Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng phần lớn làm công việc tiêu thụ xi măng ( gồm có lao động quản lý, nghiệp vụ công ty; mạng lưới tiếp nhận xi măng, bán hàng… ). Lao động làm trong bộ phận này chiếm chủ yếu trong tổng số lao động toàn Công ty nên đơn giá tiền lương của Công ty được xác lập chủ yếu dựa trên cơ sở đơn giá tiền lương của bộ phận này Để xây dựng đơn giá tiền lương trước hết xác định các chỉ tiêu cần thiết: - Tổng số lao động định biên khối tiêu thụ xi măng: 595 người. - Kế hoạch sản lượng năm 2006 đề ra là 2.200.000 tấn xi măng. - Số ng ày công b ình qu â n trong tháng của năm 2006 là 20 công/ tháng Số lao động bổ sung cho công việc phải làm việc vào ngày nghỉ chế độ hàng năm: 15 112 Lbs = 595 người x ---------- + 501 người x ------------ = 275 người. 253 253 Trong đó: Số ngày nghỉ theo chế độ quy định là 15 ngày/năm/lao động. Lao động chính và lao động phục vụ là 595 người. Số lao động định biên đòi hỏi phải làm việc cả ngày lễ tết và ngày nghỉ hàng tuần là 501 người Tổng số giờ làm việc trong năm kế hoạch được tính bằng công thức: ∑LĐ x Số công làm việc tháng x 12tháng x số giờ làm việc trong ngày = (595 + 257) x 20 x 12 x 8 = 1.635.840 giờ Ta xác định được mức hao phí lao động tổng hợp để tiêu thụ một tấn xi măng là: 1.635.840 giờ H = ------------------- = 0,74 giờ 2.200.000 tấn Tiền lương tối thiểu công ty áp dụng tính theo công thức: Lmin DN = Lmin Nhà nước x (1 + Kđc) Hệ số điều chỉnh Công ty áp dụng là Kđc = 2 Lmin DN = 350.000 x (1 +2) = 1.050.000 người/ tháng Hệ số tiền lương bình quân của Công ty là 3,45 ; gồm: - Hệ số lương cấp bậc công việc bình quân: 3,38 - Hệ số phụ cấp chức vụ, trách nhiệm, khu vực, phụ cấp thu hút… 0,07 Từ đó tính được mức lương tháng, ngày, giờ làm cơ sở xây dựng đơn giá tiền lương. Tiền lương tháng là: TLtháng = 1.050.000 x 3,45 = 3622.500 đồng/ người/ tháng Tiền lương ngày (công) là: TLtháng 3622.500 TLngày = ------------- = ----------------- = 164.695 22 22 Tiền lương giờ là: TLngày 164.695 TLngày = -------------------- = --------------------- = 20.582 đồng/ giờ 8 8 Lúc này đơn giá tiền lương được tính cho một tấn xi măng tiêu thụ là: Đgtt = 20.582đ/ h x 0,74h/tấn = 15.230,97 đ/tấn Vì đơn giá tiền lương cần được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ tăng năng suất lao động bình quân nên Tổng công ty xi măng Việt Nam đã duyệt đơn giá cho Công ty là 12.002 đồng/tấn và sản lượng kế hoạch Tổng công ty giao cho Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là 2.150.000 tấn xi măng trong năm 2006. Vì Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là một công ty Nhà nước, vẫn còn mang nặng dấu ấn thời gian đó là: cơ cấu làm việc cồng kềnh, chưa hợp lý, tuyển lao động không theo tiêu chí nhất định mà do cán bộ trong ngành giới thiệu vào làm việc; quỹ tiền lương trình lên Tổng công ty xét duyệt càng cao càng có lợi cho công nhân viên trong Công ty, vì vậy mà quỹ tiền lương kế hoạch của Công ty luôn có xu hướng cao hơn so với quỹ tiền lương kế hoạch thực tế được duyệt và phân bổ xuống Công ty. * Quỹ tiền lương được xác định như sau: ∑ VKH = Vđg + Vbs ∑ VKH: Tổng quỹ tiền lương kế hoạch năm của Công ty. Vđg: Quỹ tiền lương theo đơn giá tiền lương sản phẩm trực tiếp của Công ty. Vbs: Quỹ tiền lương bổ sung, chi cho những trường hợp đặc biệt như hội họp, học tập... Vđg = 1.200.2 x 2.150.000 = 25.840.000.000 đồng. Quỹ tiền lương bổ sung của Công ty là Vbs = 979.000.000 đồng Vậy quỹ tiền lương kế hoạch của Công ty được tính là: ∑ VKH = Vđg + Vbs = 25.840.000.000 + 979.000.000 = 29.349.000.000 đồng * Đơn giá tiền lương phân bổ cho các bộ phận Sau khi xác định được đơn giá tiền lương chung Công ty sẽ tiến hành phân bổ trực tiếp cho các bộ phận . Tiền lương bình quân chung phân bổ trực tiếp cho các bộ phận được xây dựng: Vkhđg TLBQ = -------------------------------- 12 tháng x ∑Số lao động 29.349.000.000 TLBQ = ------------------------------------ = 3.197.000 đồng/người/tháng. 12 x 765 Đơn giá từng bộ phận: TLBQ x Số người trong đơn vị x 12tháng Đgtt = ---------------------------------------------------- SLKHđv SLKHđv: Sản lượng kế hoạch từng bộ phận được Công ty giao. Riêng đối với khối văn phòng Công ty, sản lượng kế hoạch là tổng sản lượng kế hoạch đề ra của toàn Công ty, trong năm 2006 là 2.150.000 tấn xi măng. Giả sử muốn tính đơn giá tiền lương cho khối văn phòng Công ty ta sẽ tính như sau: 3.197.000 x 159 x 12 Đgttvp = ------------------------------------------- = 2900 đồng/tấn 2.150.000 Tương tự ta có các đơn giá của các bộ phận khác: Phòng tiêu thụ (khu vực Hà Nội) : - Bán đầu mối (bán tại cảng, ga…): 2500 đồng/tấn - Bán tại cửa hàng: 7000 đồng/tấn Vì bán tại đầu mối, chi phí, công sức bỏ ra ít hơn nên đơn giá tiền lương bán hàng đầu mối thấp hơn nhiều so với bán tại cửa hàng. Chi nhánh Thái Nguyên 6000 đồng/tấn Chi nhánh Vĩnh Phúc: 7700 đồng Chi nhánh Phú Thọ: 14.500 đồng/tấn … Nhận xét Tính đơn giá tiền lương giúp cho việc tính lương đơn giản hơn, người lao động dễ dàng lấy sản lương hàng bán của mình nhân với đơn giá tiền lương để biết được mức tiền lương của mình. Tuy nhiên cách tính này có một nhược điểm lớn đấy là: Nhìn vào công thức tính đơn giá tiền lương phân bổ cho từng bộ phận ta thấy tiền lương bình quân được cố định, 12 tháng trong năm không thay đổi, vậy thì đơn vị nào có số người đông, sản lượng thấp sẽ được hưởng mức đơn giá tiền lương cao ( Trong phân số tính đơn giá tiền lương tử càng lớn, mẫu càng nhỏ thì phân số cang lớn), đây là một mâu thuẫn, bất cập lớn trong công tác trả lương của Công ty. Ví dụ: đơn giá tiền lương chung của toàn Công ty là 12.002 đồng/tấn, nhưng đơn giá tiền lương của chi nhánh Phú Thọ là 14.500 đồng/tấn với hàng bán tại cửa hàng, quá cao, trong khi đó mức sản lượng của chi nhánh này lại không hề nổi trội hẳn so với những chi nhánh khác. Đây là một vấn đề đặt ra yêu cầu phải được giải quyết sao cho hợp lý. 3. Các hình thức trả lương tại công ty Vật tư kỹ thuật xi măng Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là công ty tiếp nhận, phân phối và tiêu thụ xi măng do các cơ sở sản xuất xi măng như Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Bút Sơn… chuyển đến. Trong công ty chủ yếu là nhân viên trực tiếp bán hàng và các lao động gián tiếp là những cán bộ công nhân viên làm việc tại văn phòng công ty, các cán bộ quản lý. Bởi vậy lương của cán bộ công nhân viên trong Công ty được chia làm hai mảng chính đó là: lương sản phẩm trực tiếp cá nhân và lương theo chức danh công việc. 3.1. Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân Áp dụng cho những công việc định mức được. Đối tượng áp dụng: Nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên áp tải, bốc xếp, công nhân lái xe tải ở các chi nhánh. Điều kiện tính lương: Căn cứ vào sản lượng thực hiện của cá nhân trong tháng, và đơn giá tiền lương giao khoán cho một đơn vị sản phẩm để tính lương. Công thức tính: TLi = SLi x Đgtt Trong đó: TLi: Tiền lương của nhân viên i SLi: Sản lượng thực hiện của nhân viên i Đgtt: Đơn giá sản phẩm trực tiếp Bảng 3: thanh toán tiền lương tháng 12/2006 tại các cửa hàng – trung tâm số1 Đông Anh Họ và tên HSPC HS Lương Xếp loại Ngày công BH Đầu mối Cửa hàng ∑lương sp(nghđ) SL (tấn) Lương (nghđ) SL (tấn) Lương (nghđ) Phạm.T.Tâm 0,10 3,98 A 21 422,2 2.955 2.955 Nguyễn.V.Thắng 2,28 A 8 422,2 2.955 2.955 Hoàng.T.Loan 0,10 2,86 A 7 327 818 415,1 2.905 3.723 Đỗ Đình Thu 2,86 A 21 600 4.200 4.200 Lê Văn Đồng 0,10 3,38 A 5 1.785 4.463 4.463 Trần Minh Tâm 3,98 A 21 747 5.229 5.229 Đặng.T.Luỹ 1,80 A 21 400 2.800 2.800 Phạm.T.Phượng 0,10 2,86 A 14 400 2.800 2.800 Trần Vũ Phong 2,86 C 21 90,95 637 637 Lê.T.Hạnh 0,10 3,98 A 3 610,35 4.272 4.272 Đặng.T.Yến 1,80 A 21 610,35 4.272 4.272 Sử.T.Huề 0,10 3,38 A 6 1.412 3.530 458 3.206 6.736 Đặng Bá Trục 0,10 3,98 A 18 416,45 2.915 2.915 Lê Xuân Tuyến 3,98 A 5 1.498 3.745 3.745 Đào Kim Long 3,98 A 21 416,45 2.915 2.915 Vũ.T.Sào 0,10 3,98 A 4 560,1 3.921 3.921 Lê Quang Hoà 1,80 A 21 560,1 3.921 3.921 Tổng Cộng 0,80 53,4 238 5.022 12.555 7.129,25 49.904 62.459 Nguồn: Phòng tổ chức lao động Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân được dùng để tính lương cho những nhân viên trực tiếp bán hàng, căn cứ vào sản lượng hàng nhân viên đó bán được trong tháng, có thể là bán đầu mối (bán ngay tại cảng, bến xe…) hay bán tại cửa hàng. Ngoài ra còn được dùng để tính lương cho những lao động trực tiếp khác như: nhân viên áp tải, bốc xếp, công nhân lái xe tải ở các chi nhánh. Đối với hàng bán đầu mối, Công ty đưa ra đơn giá là 2500đ/1tấn xi măng. Đối với hàng bán tại các cửa hàng và trung tâm, Công ty đưa ra đơn giá là 7000đ/1tấn xi măng. Ngoài ra trong một số thời kỳ, nhằm khuyến khích người lao động Công ty có thể nâng đơn giá tiền lương lên cao hơn. Để hiểu rõ cách tính lương cho lao động trực tiếp ta xét ví dụ: Chị Hoàng Thị Loan là nhân viên bán hàng tại cửa hàng 72 Đông Anh, thuộc trung tâm số 1 – Đông Anh. Chị Loan có hệ số lương là 2,86, hệ số phụ cấp trách nhiệm là 0,10. Tháng 12/2006 chị Loan làm 7 ngày công, nghỉ phép 14 ngày, xếp hạng thành tích của chị là loại A. Trong tháng 12/2006 chị Loan bán được 742,1 tấn hàng, trong đó sản lượng đầu mối là 327 tấn, sản lượng hàng bán tại cửa hàng là 415,1 tấn. Cán bộ phòng tổ chức tiền lương sẽ tính lương của chị Loan như sau: - Tiền lương của chị Loan khi bán được 327 tấn xi măng tại đầu mối: TL1 = SL1 x Đg1 = 327 x 2500 = 817.500 (đồng) ≈ 818.000 đồng - Tiền lương của chị Loan khi bán được 415,1 tấn xi măng tại cửa hàng: TL2 = SL2 x Đg2 = 415,1 x 7000 = 2.905.000 (đồng) Vậy số tiền lương sản phẩm chị Loan nhận được là: TL = 818.000 + 2.905.000 = 3.723.000 đồng - Lương phụ cấp trách nhiệm của chị Loan là: TLpc = HSPC x Lmin = 0,10 x 450.000 = 45.000 (đồng) Ngoài ra chị Loan còn được hưởng một khoản lương phép là 848.000 ( cách tính lương phép cụ thể tại phần 5a). Vậy tổng số tiền lương chị Loan nhận được là: ∑TL = TL + TLpc + LF = 3.723.000 + 45.000 + 848.000 = 4.616.000 (đồng) Nhận xét: Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân được áp dụng đối với các công việc có thể định mức được rõ ràng, trong Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng thì đó là công việc bán xi măng, mỗi người một ngày bán được bao nhiêu hàng thì từ đó coa thể tính được số tiền lương mà mình làm được trong ngày hôm đó dựa vào sản lượng hàng bán được và đơn giá tiền lương theo quy định của Công ty. Hình thức trả lương này không những dễ tính toán, dễ sử dụng đối với người quản lý mà còn minh bạch, dễ hiểu đối với người lao động. Từ đó thúc đẩy năng suất làm việc của người lao động cao hơn, để nhận được mức lương cao hơn người lao động cần phải tích cực tìm kiếm khách hàng, tìm ra những cách khác nhau để thu hút khách hàng nhằm nâng cao sản lượng hàng bán ra của mình. 3.2. Trả lương theo chức danh công việc. Đây là hình thức trả lương kết hợp giữa trả lương theo thời gian đơn giản và trả lương theo chức danh công việc. Áp dụng với những công việc chưa định mức được như: công việc tại văn phòng, việc phục vụ, y tế… - Đối tượng áp dụng: lao động gián tiếp (Cán bộ viên chức quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ, phụ trợ và các đối tượng khác chưa thể trả lương theo sản phẩm trực tiếp, lương khoán) thuộc khối văn phòng Công ty, phòng tiêu thụ xi măng và các chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc. trường hợp nhân viên mới tuyển dụng, trong thời gian thử việc 3 tháng, được hưởng 70% tiền lương của nhóm chức danh đảm nhiệm. -Cách chia theo 2 bước: a. Trả lương bước 1: Tiền lương cơ bản theo thang bảng lương Nhà nước, trả theo chế độ lương thời gian đơn giản. Cách trả lương này đã tồn tại từ khi Công ty mới hình thành, và đã tồn tại cho đến bây giờ. + Điều kiện để tính căn cứ vào: _ Tiền lương cơ bản, chức vụ, kể cả phụ cấp trách nhiệm (nếu có) theo nghị định 26/CP ngày 23/5/1993 của chính phủ. _ Hệ số thành tích cá nhân trong tháng ( Ktti) _ Ngày công thực tế làm việc trong tháng ( Ntti ) + Công thức tính lương bước 1: Lương CBi + Phụ cấpi (nếu có) TLi1 = --------------------------------------- x Ntti x Ktti 22 TLi1 : là tiền lương người thứ i nhận được. b. Trả lương bước 2: thực hiện việc trả lương gắn với mức độ phức tạp, tính trách nhiệm công việc. Trong thời kì mới, cách tính lương cho cán bộ công nhân viên đơn thuần theo trả lương thời gian đã xuất hiện những bất cập, mâu thuẫn lớn. Bởi vậy Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng đã kết hợp trả lương theo thời gian đơn giản với trả lương theo chức danh, gắn với khối lương công việc mà mỗi người phải đảm nhận. + Công thức tính lương bước 2: TLi2 = Đq i x Đg Trong đó: TLi2 : Tiền lương bước 2 của người thứ i nhận được trong tháng Đq i : Điểm quy đổi của người thứ i Đg : Đơn giá một điểm qui đổi bình quân của đơn vị Đq i = HSóHiS D 22--- -CDi x Ntti x Ktti Trog đó: HSCDi : là hệ số chức danh công việc của người thứ I được xây dựng tại bảng lương chức danh công việc. Đơn giá một điểm quy đổi: Tổng quỹ lương bước 2 ___ Đg = ----------------------------------- ( i = 1,n ) Tổng Đq i Tổng TLi2 = Tổng quỹ lương - (Tổng TLi1 + Các khoản phụ cấp) phân phối trong tháng *. Cách xác định hệ số tiền lương theo chức danh Sử dụng phương pháp xac định mức độ phức tạp của lao động của công nhân, viên chức theo văn bản số 4320/LĐTBXH-TIềN LƯƠNG ngày 29/12/1998 cảu Bộ Lao động thương binh và xã hội, tham khảo các hệ số trả lương theo chức danh công việc của Công ty. Hệ số tiền lương chức danh được sắp xếp cụ thể như bảng sau: Bảng 4: hệ số lương theo chức danh công việc tại Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng TT Nhóm chức danh Hệ số lương (HSCDi) Bảng A Chức danh lãnh đạo quản lý 1 Giám đốc Công ty 9,0 2 Phó giám đốc, kế toán trưởng, chủ tịch CĐ Công ty 7,0 3 Phó bí thư Đảng Uỷ Công ty 6,2 Bậc 1 Bậc 2 4 Trưởng phòng, giám đốc chi nhánh, xí nghiệp, thường trực văn phòng Đảng Uỷ Công ty. 5,5 5,7 5 Phó phòng, phó giám đốc chi nhánh, xí nghiệp, trưởng trung tâm thuộc phòng tiêu thụ xi măng 4,5 4,7 6 Trạm trưởng, phó trung tâm thuộc phòng tiêu thụ xi măng, tổ trưởng tổ thẩm định dự án 3,7 4,0 7 Cụm trưởng cụm kho, trạm phó, trưởng ban, đội trưởng (trừ đội trưởng đội xe con thuộc văn phòng Công ty) 3,0 3

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số vấn đề về thực trạng công tác trả lương tại công ty Vật tư kỹ thuật xi măng.doc
Tài liệu liên quan