Đề án Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

LỜI MỞ ĐẦU 1

 

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘ BỘ 3

1.1.Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 3

1.1.1. Bản chất của hệ thống kiểm soát nội bộ 3

1.1.2. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ 4

1.1.3.Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ 10

 

PHẦN II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 14

2.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp việt nam 14

2.2. Thực trạng hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt nam 18

 

PHẦN III: MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 26

3.1. Đánh giá chung 26

3.1.1. Ưu điểm 26

3.1.2. Nhược điểm 26

3.2. Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp. 27

 

KẾT LUẬN 29

 

 

doc31 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 30/06/2013 | Lượt xem: 6857 | Lượt tải: 72download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề án Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hợp chính xác trên các BCTC của doanh nghiệp. 1.1.2.3. Các thủ tục kiểm soát Các thủ tục kiểm soát được các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc phân công phân nhiệm Nguyên tắc bất kiêm nhiệm Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn Nguyên tắc phân công phân nhiệm Nội dung: trách nhiệm và công việc cần đựơc phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận. Tác dụng: tạo sự chuyên môn hoá trong công việc sai sót ít xảy ra, và khi xảy ra thường dễ phát hiện. Nguyên tắc bất kiêm nhiệm Nội dung: quy định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan. Tác dụng: nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn. Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định. Để tuân thủ tốt quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn. Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể. Sự phê chuẩn chung được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dưới tuân thủ. Ví dụ việc xây dựng và phê chuẩn bảng giá bán sản phẩm cố định, hạn mức tín dụng cho khách hàng… Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng. 1.1.2.4. Kiểm toán nội bộ: Khái niệm: Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị. Kiểm toán nội bộ là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ. Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp. Tuy nhiên bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ phát huy tác dụng nếu: Về tổ chức: - Bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp đủ cao để không giới hạn phạm vu hoạt động của nó. - Bộ phận kiểm toán nội bộ phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động tương đối độc lập với phòng kế toán và các bộ phận hoạt động được kiểm tra. Về nhân sự: - Tuyển chọn những nhân viên có đạo đức nghề nghiệp có năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các quy định hiện hành. 1.1.3. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị. Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo một trình tự nhất định theo 4 bước sau: - Thu Thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc - Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho cac khoản mục trên báo cáo tài chính - Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ) - Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ 1.1.3.1.Thu Thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc Tìm hiểu Trong giai đoạn này kiểm toán viên phải tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp trên hai mặt chủ yếu: - Thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm: + Thiết kế về quy chế kiểm soát + Thiết kế về bộ máy kiểm soát - Hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội bộ Kiểm toán viên phải tìm hiểu về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng theo từng yếu tố cấu thành để : - Đánh giá xem liệu BCTC có thể kiểm toán được hay không - Nhận diện đánh giá các sai phạm tiềm tàng - Quy định số lượng bằng chứng cần thu thập - Kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp Có rất nhiều phương pháp tiếp cận để thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hai cách phổ biến: Phương pháp tiếp cận theo khoản mục và Phương pháp tiếp cận theo chu trình nghiệp vụ. Phương pháp tiếp cận theo khoản mục: cách này dễ thực hiện nhưng kiểm toán viên sẽ khó đánh giá về những ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đến các số dư của khoản mục trong BCTC. Phương pháp tiếp cận theo chu trình nghiệp vụ: theo phương pháp này các kiểm toán viên xem xét các chính sách, thủ tục kiểm soát đến từng chu trình nghiệp vụ. Phương pháp này cho phép kiểm toán viên phân chia các nghiệp vụ và các số dư tài khoản thành từng loại rõ ràng. Thể thức để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ: - Dựa vào kinh nghiệm trước đây của kiểm toán viên với khách hàng - Thẩm vấn nhân viên của công ty khách hàng - Xem xét các sổ tay về thủ tục và chế độ của công ty khách hàng - Kiểm tra chứng từ đã hoàn tất - Quan sát các mặt hoạt động, quá trình hoạt động của công ty khách hàng. Mô tả: Phương pháp: - Vẽ lưu đồ - Bảng câu hỏi: bảng này đưa ra các câu hỏi theo các mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, các câu hỏi được thiết kế dưới dạng “có”- “không” và các câu trả lời “không” sẽ cho thấy nhược điểm của kiểm soát nội bộ - Bảng tường thuật Kiểm toán viên sử dụng một trong ba phương pháp hoặc cả ba phương pháp tùy theo đặc điểm của đơn vị được kiểm toán và quy mô của cuộc kiểm toán. * Ở bước 1 này nếu như trong quá trình tìm hiểu về các báo cáo tài chính này nếu kiểm toán viên thấy rằng các BCTC không thể kiểm toán được thì sẽ đưa ra lí do từ chối và rút khỏi hợp đồng còn nếu như có thể kiểm toán được thì ta hoàn tất các quá trình trong bước 1 và chuyển sang bước 2. 1.1.3.2.Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho các khoản mục trên báo cáo tài chính Các bước đánh giá ban đầu về kiểm soát nội bộ: Nhận diện mục tiêu kiểm soát: Kiểm toán viên sẽ vận dụng các mục tiêu kiểm soát nội bộ cụ thể cho từng loại nghiệp vụ chủ yếu của công ty. Nhận diện quá trình kiểm soát đặc thù Trong bước này kiểm toán viên không cần phải xem xét mọi quá trình kierm soát mà chỉ phải nhận diện và phân tích các quá trình kiểm soát dự kiến có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thỏa mãn mục tiêu kiểm soát mà sẽ mang lại tính hiệu quả cho cuộc kiểm toán. Nhận diện đánh giá nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ Nhược điểm được hiểu là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng mà điều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm trên BCTC. Đánh giá rủi ro kiểm soát Nếu rủi ro kiểm soát đựơc đánh giá là tối đa, kiểm toán viên phải tăng cường các thử nghiệm cơ bản để phát hiện những gian lận sai sót. Trong trường hợp này kiểm toán viên không cần thử nghiệm kiểm soát Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn mức tối đa, kiểm toán viên sẽ dựa vào kiểm soát nội bộ của đơn vị để giảm bớt thử nghiệm cơ bản. Trong trường hợp này sẽ thực hiện tuần tự thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản 1.1.3.3. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ) Mục đích: Thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của quy chế, thủ tục kiểm soát để giảm thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Phương pháp: - Nếu thủ tục để lại dấu vết trên tài liệu Kiểm tra tài liệu Thực hiện lại thủ tục kiểm soát - Nếu thủ tục không để lại dấu vết trên tài liệu Quan sát các hoạt động liên quan đến kiểm soát nội bộ Phỏng vấn nhân viên đơn vị về thủ tục kiểm soát. 1.1.3.4. Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ phản ánh các thông tin - Mục tiêu của kiểm soát nội bộ với từng khoản mục, chu trình nghiệp vụ - Các thông tin mô tả thực trạng kiểm soát nội bộ do kiểm toán viên thu thập - Bản chất, tính hệ trọng của rủi ro tương ứng - Nguyên tắc thiết kế, vận hành thủ tục kiểm soát - Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ với từng khoản mục, chu trình PHẦN II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp việt nam Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung, quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành. Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của người sử đụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro? Làm thế nào có thề phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong SXKD (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch. Tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm...). Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp. Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính. Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức chức cũng như các quy định của luật pháp. Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra. Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ Tùy vào loại hình hoạt động mục tiêu và quy mô của tổ chức mà hệ thống kiểm soát nội bộ được sử dụng khác nhau sao cho phù hợp với doanh nghiệp. Ở Việt nam các doanh nghiệp thường xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên năm yếu tố : Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát đặt ra nền tảng ý thức của doanh nghiệp có tác động đến ý thức kiểm soát của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp. Môi trường kiểm soát cũng phản ánh phần nào văn hóa của một doanh nghiệp. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho các cấu phần khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp. Nói đến môi trường kiểm soát, người ta hay đề cập đến những vấn đề như: Tính chính trực và những giá trị đạo đức trong doanh nghiệp Năng lực chuyên môn của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp Sự hiện hữu và chất lượng của hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp Triết lý kinh doanh và phong làm việc của ban lãnh đạo doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp Công tác phân công quyền hạn và trách nhiệm trong doanh nghiệp Các chính sách và thủ tục về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro bao gồm việc xác định và phân tích những rủi ro có liên quan đến quá trình hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp làm nền tảng cho việc xác định cách thức xử lý rủi ro. Thông qua việc xác định mục tiêu đề ra ở cả cấp độ tổng thể doanh nghiệp và cấp độ quy trình hay các bộ phận chức năng, doanh nghiệp có thể xác định được những yếu tố chủ yếu dẫn đến thành công và sau đó xác định những rủi ro gây ảnh hưởng đến những yếu tố thành công này. Đánh giá rủi ro không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý, bất kỳ tổ chức nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài tác động. Các yếu tố bên trong. Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp. Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của trang thiết bị, hạ tầng cơ sở. Tổ chức và cở sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất. Chi phí cho quản lý và trả lương cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do xa Công ty mẹ hoặc do thiếu quan tâm... Các yếu tố bên ngoài. Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành. Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ hiện hành bị lỗi thời. Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá cả và thị phần. Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức... Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn. Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuất hiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng. Những hoạt động kiểm soát Những hoạt động kiếm soát được thể hiện dưới dạng các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo rằng những định hướng của lãnh đạo được thực thi. Những hoạt động kiểm soát cũng đảm rằng những biện pháp cần thiết được đưa ra để xử lý những rủi ro làm ảnh hưởng đến quá trình đạt mục tiêu của doanh nghiệp. Các hoạt động kiểm soát có mặt ở khắp mọi nơi trong doanh nghiệp ở mọi cấp độ trong các bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Các hoạt động kiểm soát thường bao gồm các công việc như: Phê duyệt Ủy quyền Kiểm tra Đối chiếu Soát xét hoạt động Bảo vệ tài sản Phân công trách nhiệm Những hoạt động kiểm soát có thể được gộp thành hai nhóm chính đó là kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện. Kiểm soát phòng ngừa được thể hiện ở việc thiết lập những chính sách và thủ tục mang tính chuẩn mực, phân công trách nhiệm hợp lý và ủy quyền, phê duyệt. Kiểm soát phát hiện được thể hiện dưới dạng thực hiện báo cáo đặc biệt, đối chiếu hay kiểm tra định kỳ. Thông tin và trao đổi thông tin Thông tin được thu thập bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhằm cung cấp cho lãnh đạo với những nội dung về hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến những mục tiêu đã được đề ra. Thông tin được cung cấp chi tiết, kịp thời và đúng đối tượng để có thể trợ giúp người được cung cấp thông tin hoàn thành trách nhiệm một cách hiệu quả và hữu hiệu. Việc trao đổi thông tin phải được thực hiện đầy đủ, đúng lúc xuyên suốt trong toàn bộ doanh nghiệp. Những kênh thông tin cởi mở, hữu hiệu cần được thiết lập giữa doanh nghiệp với khách hàng, nhà cung cấp và các đối tác khác nhằm trao đổi thông tin. Hệ thống giám sát và thẩm định: Là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được điều chỉnh khi môi trường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết và là quy trình do người có trách nhiệm thực hiện đánh giá kịp thời những thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểm soát qua đó đưa ra những hành động cần thiết. Giám sát được thực hiện thông qua các hình thức như: Giám sát thường xuyên Đánh giá độc lập Báo cáo những sai sót Thường xuyên rà soát, kiểm tra và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như tất cả nhân viên có tuân thủ các chuẩn mực ứng xử của tổ chức sau khi ký cam kết hay không Toàn bộ năm cấu phần này vận hành tạo thành một nền tảng vững chắc cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp đặt trong bối cảnh của lãnh đạo trực tiếp, những giá trị được chia sẻ và một văn hóa doanh nghiệp chú trọng đến tính chịu trách nhiệm và kiểm soát. Trong khi đó, những rủi ro khác nhau mà doanh nghiệp phải đối mặt được xác định và đánh giá định kỳ ở các cấp độ và các bộ phận chức năng khác nhau trong doanh nghiệp. Những hoạt động kiểm soát và những cơ chế tương ứng sẽ được chủ động thiết lập nhằm đối phó và hạn chế những rủi ro trọng yếu. Những thông tin quan trọng liên quan đến việc xác định rủi ro phục vụ doanh nghiệp đạt được mục tiêu được trao đổi thông qua những kênh khác nhau theo chiều dọc từ trên xuống dưới và ngược lại cũng như chiều ngang trong toàn bộ doanh nghiệp. Hệ thống kiểm soát nội bộ được giám sát thường xuyên và những vấn đề nảy sinh được xử lý kịp thời. Tuy nhiên một số doanh nghiệp một số doanh nghiệp của Việt Nam chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ hoặc chưa xây dựng cho mình những hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. 2.2. Thực trạng hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt nam Trong công cuộc hiện đại hóa công nghiệp hóa đất nước. Việt nam theo đuổi nền kinh tế nhiều thành phần chính vì thế, hiện nay ở Việt Nam xuất hiện rất nhiều loại hình doanh nghiệp cùng nhau hoạt động. Mội loại hình lại biến thể ra nhiều loại khác nhau tạo nên nền kinh tế thị trường sôi động ở Việt Nam. Hiện nay ở nước ta có những loại doanh nhiệp như: Công ty trách nhiệm hữu hạn ( một thành viên hoặc hai thành viên trở lên) Công ty cổ phần Công ty hợp danh Doanh nghiệp tư nhân Trong những năm gần đây số lượng công ty, doanh nghiệp ở nước ta được thành lập tăng nhanh,đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đi cùng với nó là tập đoàn kinh tế đầu tầu tạo nên bức tranh nhiều màu sắc, cạnh tranh khốc liệt cho môi trường kình doanh ở Việt Nam. Trong thời gian gần đây dưới sự bất ổn tình hình kinh tế thế giới, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng, môi trường kình doanh trở nên bất ổn hơn. Những doanh nghiệp tự phát, không có chiến lược cụ thể, lâu dài trong kinh doanh sẽ dẫn tới thất bại. Chính trong hoàn cảnh này mà các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm hơn đến bộ máy quản lý doanh nghiệp, quản lý rủi ro và HTKSNB trong quá trình thiết kế thực và thực thi cho doanh nghiệp của mình dựa trên pháp luật về doanh nghiệp do nhà nước ta ban hành. Có thể nói, để tạo ra thành công lâu dài cần rất nhiều các yếu tố, song một trong yếu tố rất quan trọng đó là HTKSNB trong doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ hữu hiệu nguồn lực, tài chính, rủi ro, thiết lập cơ chế giám sát hữu hiệu công ty nhằm giảm nâng cao hiệu quả quản lý giảm thiểu sai sót ảnh hưởng kinh doanh của doanh nghiệp. Ở Việt Nam số lượng do mỗi loại hình doanh nghiệp thường có cơ chế KSNB khác nhau phù hợp từng doanh nghiệp trong điều kiện cụ thể. + Theo điều 149 LDN quy định: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”. Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung: “Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con”. Vậy tập đoàn kinh tế là tổ chức lớn cần có biện pháp hữu hiệu để có thể kiểm soát được. Vì thế đối với những tập đoàn kinh tế họ phải thiết lập HTKSNB cho doanh nghiệp mình để quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Ở Việt Nam có rất khá nhiều tập đoàn lớn như Đồng Tâm, FPT, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Kinh Đô, … từ ngày 1/7/2008 mô hình tổ chức mới được áp dụng ở các tập đoàn gồm có: : Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng Quản trị (có các Ủy ban chức năng giúp việc); Ban Kiểm soát và hình thành các Khối chức năng. HTKSNB được xuyên suốt từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. những tập đoàn kinh tế có quy mô lớn nên HTKSNB của họ được thiết kế rất chặt chẽ, có quy trình đầy đủ để tránh sai sót. Bên cạnh những mặt được, hoạt động và tổ chức của HTKSNB ở các tập đoàn kinh tế còn bộc lộ nhiều yếu kém: - Một là môi trường kiểm soát mặc dù được các tập đoàn này đầu tư rất nhiều nhưng vẫn chưa tạo được một môi trường lành mạnh làm nền tảng tốt cho HTKSNB hoạt động có hiệu quả. Sự phân cấp, phân quyền hội đồng quản trị và ban kiểm soát còn chưa rõ ràng chồng chéo nhau. Cơ cấu tổ chức ở một số tập đoàn còn chưa hài hòa dẫn tới chưa phát huy hết tiềm năng của tập đoàn. Các nhà quản lý chưa chú trong vấn đề đạo đức cũng như tác phong làm việc của nhân viên. - Hai là do tập đoàn là một nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, cho nên hệ thống kế toán ở các công ty thường không thống nhất, nên khi lập báo cáo thường không khớp và nhiều sai sót ở báo cáo tài chính toàn tập đoàn. Sự minh bạch trong các báo cáo tài chính ở tập đoàn ở Việt nam thường chưa cao. Kiểm toán viên nộ bộ của các tập đoàn hoạt động ở mức độc lập chưa cao phụ thuộc nhiều ý kiến chủ quan của lãnh đạo cấp cao và thường chưa có sự độc lập một các nhất định với bộ phận kế toán và các bộ phận khác được kiểm tra. - Ba là các hoạt động kiểm soát của HTkSNB được thực hiện nhưng hiệu quả không đạt hiệu suất cao vì rất khó kiểm soát ở nhiều nơi do các công ty trong tập đoàn hoạt động độc lập và thường ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Các thủ tục kiểm soát không được diễn ra thường xuyên và liên tục dễ gây ra những sai sót - Bốn là kiểm soát nộ bộ thường chỉ chú ý tới công tác phát hiện những sai phạm đã xảy ra rồi, bảo vệ tài sản mà chưa làm tốt công tác ngăn ngừa có thể xảy ra trong tương lai. - Năm là đối với tập đoàn hoạt động với quy mô lớn, rộng, hệ thống thông tin là rất cần cho các nhà quản lý có thông tin đầy đủ kịp thời chính xác, nhưng hiện nay hệ thống thông tin chưa quan tâm hoặc nếu có thì không sử dụng hết công suất gây lãng phí. + với những vấn đề gặp ở trên, đối với những tập đoàn kinh tế lớn, là đầu tầu của nền kinh tế việt nam. Các tập đoàn nên sớm hoàn thiện HTKSNB để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Một số giải pháp - Thứ nhất nên sớm hoàn thiện môi trường kiểm soát nội bộ. giải các vấn đề giữa công ty chủ và công ty thành viên. Các thanh viên phải được công bố rộng rãi kiểm soát nội bộ của công ty và bất cứ thành viên nào cũng phải tuân thủ. - Thứ hai tiếp tục hoàn thiện mô hình hoạt động của hội đồng quản trị và ban kiểm soát nhằm đạt được sự hài hòa thống nhất không gây chồng chéo. Tăng cường kiểm soát các thủ tục kiểm soát mà doanh nghiệp đề ra. - Tăng cường ứng dụng công nghê thông tin vào bộ máy để tăng khả năng sử lý thông tin. + Hiện nay trong ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam, như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng công thương, ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam … . Những ngân hàng có quy mô và tổ chức lớn như vậy, HTKSNB đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình vận hành hiệu quả bộ máy của BIDV hướng đến mục tiêu “Hiệu quả, an toàn, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”. Tuy nhiên HTKSNB của các ngân hàng nay thực tế hoạt động và tổ chức của nó vẫn chưa thực sự hoàn hảo đáp ứng nhu cầu quản lý nhất là các ngân hàng do bắt đầu chuyển sang hoạt động theo mô hình tổng công ty chưa lâu cùng với sự phát triển quá nhanh về quy mô và tổ chức nên cơ chế kiểm soát nội bộ của các ngân hàng đang dần bộc lộ một số yếu kém.  - Một là, môi trường kiểm soát còn nhiều yếu tố không thuận lợi cho công tác kiểm soát nội bộ. Mặc dù được tổ chức theo mô hình tổng công ty nhưng mức độ độc lập của các chi nhánh và các công ty trực thuộc của các ngân hàng còn tương đối hạn chế. Sự phân cấp, phân quyền giữa Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, giữa các giám đốc Ban ở Hội sở chính với giám đốc các đơn vị thành viên đã có nhưng chưa rõ ràng và chưa gắn với trách nhiệm cụ thể. Sự chồng chéo trong điều hành và tác nghiệp giữa các bộ phận vẫn diễn ra thường xuyên, cơ chế tập thể quyết định vẫn tồn tại phổ biến. Chính vì thế, trong nhiều trường hợp quyền hạn đã phân cấp không được sử dụng hết hoặc bị lạm dụng.  Hội đồng quản trị là đại diện sở hữu của Nhà nước tại các ngân hàng này nhưng xét về thực chất chưa được trao quyền tương ứng. Đa số các vấn đề phát sinh của ngân hàng đều phải báo cáo và xin phép Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát quản lý bởi trách nhiệm quyết định đã không thuộc phạm vi nội bộ của ngân hàng.  Ban kiểm soát trực thuộc Hội đồng quản trị được trao trách nhiệm thực hiện toàn diện hoạt động kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, Ban kiểm soát về thực chất vẫn chưa có được sự độc lập tương đối với bộ phận được kiểm tra, đặc biệt là Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. Hơn nữa, sự hạn chế về nguồn lực con người và thiết bị đã hạn chế rất nhiều khả năng kiểm soát nội bộ của Ban kiểm soát. Vì lẽ đó, chức năng của Ban kiểm soát thuộc Hội đồng quản trị mới chỉ dừng lại ở việc kiểm tra, đánh giá các báo cáo tài chính cuối kỳ và xử lý các vấn đề đã phát sinh.  Ban kiểm tra nội bộ thuộc Tổng giám đốc được tổ chức thống nhất từ Hội sở chính đến các đơn vị thành viên. Tuy vậy, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động cũng chưa được triển khai thực hiện, tính độc lập của các cuộc kiểm tra không cao, chưa đạt được mục tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Điều này có nguy cơ dẫn đến rủi ro kiểm soát - tức là báo cáo kiểm toán hoặc không đủ, không đúng, không kịp thời hoặc không đưa ra được biện pháp ngăn chặn và giải quyết phù hợp.  - Hai là, hệ thống kế toán - bộ phận cấu thành quan trọng của cơ chế kiểm soát nội bộ của các ngân hàng này vẫn đang ở trong quá trình chuyển đổi. Hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực đặc thù, các ngân hàng áp dụng một hệ thống kế toán tương đối khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống chuẩn mực kế toán VN đã được ban hành chưa tính đến những yếu tố đặc thù này và vẫn có sự khác biệt xa so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Hệ thống kế toán của các ngân hàng đã được hình thành tương đối đầy đủ gồm hệ thống chứng từ ban đầu, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Chức năng ghi nhận, tính toán, kết chuyển của hệ thống kế toán đã được thực hiện tương đối tốt nhưng chức năng tổng hợp và lập báo cáo các nghiệp vụ phát sinh gần như chưa được đề cập. Mặc dù tổ chức hoạt động theo mô hình tổng công ty nhưng hệ thống kế toán chưa lập được các báo cáo bộ phận và báo cáo tổng thể bằng cách sử dụng phương pháp kế toán hợp nhất. Vì lẽ đó, vai trò k

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.doc
Tài liệu liên quan