Đề án Phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Khơi dậy và phát huy được ý chí làm giàu của nhân dân,hình thành đội ngũ doanh nhân:Phát triển kinh tế tư nhân theo chủ trương,chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước đã khơi dậy và cổ vũ được tinh thân doanh nghiệp,ý chí làm giàu va tăng thêm lòng tin của người đầu tư và kinh doanh vào đường lối đổi mới của Đảng,luật pháp và chính sách của Nhà nước;doanh nhân,doanh nghiệp đầu tư,kinh doanh đúng pháp luật được xã hội tôn vinh.

Hình thành được tầng lớp doanh nhân và ngày càng lớn mạnh.Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 13-10 hàng năm là “Ngày doanh nhân Việt Nam”.Điều đó thể hiện sự thay đổi trong tư duy của Đảng,coi trọng và đề cao vai trò của những doanh nhân,doanh nghiệp.

 

doc18 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 824 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề án Phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng ta cần trải qua những gian lao, thậm chí vấp ngã để trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống. 2.Cỗ máy tạo việc làm: Các nhà tài trợ quốc tế đã gọi kinh tế tư nhân Việt Nam là “cỗ máy tạo việc làm”. Báo cáo phát triển Việt Nam 2006, Báo cáo chung của các Nhà tài trợ khẳng định khu vực kinh tế tư nhân trong nước có hiệu quả lớn nhất trong việc tạo việc làm với chi phí thấp. Có thể thấy dễ dàng là tính số vốn trung bình cho một công nhân trong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và khu vực kinh tế tư nhân trong nước sẽ thấy hàm lượng vốn là cao nhất trong các doanh nghiệp FDI, và thấp nhất trong khu vực tư nhân trong nước. Nhìn lại 9 năm thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương-CIEM), nhận xét nổi bật là khu vực kinh tế dân doanh ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế thông qua cơ cấu vốn đầu tư và tạo việc làm. Cơ cấu vốn đầu tư trung bình một dự án giai đoạn 1996-2003 tăng từ 4,5 tỷ đồng lên 8,5 tỷ đồng, lao động bình quân của một dự án tăng từ 87 lên 123 lao động. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân trên 120.000. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập trung bình hàng năm hiện gấp 3,75 lần so với trung bình của thời kỳ 1991-1999. Ước tính trong 4 năm trở lại đây, các doanh nghiệp đã tạo ra khoảng 1,6 triệu việc làm mớI 3.Gia tăng cạnh tranh: Sự xuất hiện của thành phần kinh tế tư nhân đã chấm dứt chuỗi thời gian “một mình một chợ” của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Ông Vũ Quốc Tuấn (Ban Nghiên cứu của Thủ tướng) nhận xét, một vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân là “nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh của nền kinh tế” (Hội thảo Phát triển kinh tế nhiều thành phần Việt Nam - CIEM). Trên thực tế, đã có nhiều dịch vụ mới xuất hiện, trong đó doanh nghiệp dân doanh đóng vai trò chủ đạo như phần mềm, Internet, bất động sản… Thậm chí, nhiều doanh nghiệp dân doanh còn vượt qua các doanh nghiệp nhà nước trong cùng lĩnh vực và tạo được tên tuổi, uy tín trên thị trường như công ty Kinh Đô, Hoà Phát, Trung Nguyên. “Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực tư nhân luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng ngành công nghiệp cả nước. Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 20%-30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong nhiều lĩnh vực, kinh tế tư nhân có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới như thuỷ sản, may mặc, da giày” - TS Lê Xuân Bá, Phó Viện trưởng CIEM nói. 4.Vai trò mới của KTTN: Một số nhà phân tích đến từ các nước châu Á dự báo rằng triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới sẽ sáng sủa, mà một trong những nhân tố cốt lõi, là do Việt Nam có chính sách ngày càng cởi mở và đúng đắn hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân. Dựa vào các nguồn tư liệu của các trung tâm phân tích kinh tế nổi tiếng trên thế giới và các số liệu thống kê của Việt Nam,nhiều nhà phân tích nước ngoài đã có những nhận xét, bình luận khá thống nhất về những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự tăng trưởng của Việt Nam:   Một là, do Chính phủ Việt Nam đã coi trọng vai trò và có những chính sách định hướng đúng cho kinh tế tư nhân phát triển, khẳng định khu vực này là một trong những động lực của nền kinh tế.   Hai là, do các chính sách tự do hoá, khuyến khích sự phát triển đa dạng của các loại hình doanh nghiệp mới, tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDL), chú trọng cải cách đối với thị trường vốn...    Ba là, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tạo môi trường và động lực mới cho kinh tế tư nhân phát triển; đồng thời thúc đẩy cải cách và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá mở rộng thị trường lao động mở rộng nguồn vốn phát triển để nhiều ngành có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế…    Nhìn sâu hơn vào khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam, một số nhà phân tích cho rằng tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực này trong khoảng 5 năm gần đây đạt trên 10% (cao hơn so với 8% của cả nền kinh tế); đặc biệt đã có rất nhiều công ty tư nhân có mức tăng trưởng về doanh thu lên tới trên 50%/năm. Và trong hơn một thập kỷ vừa qua, chính sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển chung của Việt Nam.    Theo đánh giá của cácnhà phân tích,trong năm 2006, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã chiếm hơn một nửa GDP của cả nước. Trong giai đoạn 2001-2005. khu vực tư nhân đã tạo ra 6,75/7,5 triệu việc làm (chiếm khoảng 90%). Nhiều nhà phân tích cho rằng, để giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chính phủ Việt Nam cần khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn nữa C.Thực trạng phát triển của KTTN ở VN hiện nay 1.Quá trình hình thành và phát triển ĐạI hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 mở ra bước phát triển cho nền kinh tế nhiều thành phần.Tiếp theo đó,Nghị định 221,222 của Chính phủ cho phép tư nhân hoạt động,năm 198 cho kinh doanh vàng bạc,nhập khẩu phi mậu dịch,chấp nhận cá nhân xây nhà,các cải cách thị trường về giá,tỷ giá,kinh tế hộ gia đình phát triển.tháng 12 năm 1990,Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp được thông qua,chính thức khai sinh cho doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân.Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua tháng 6 năm 1999,có hiệu lực từ tháng 1 năm 2000 là bước đột phá quan trọng. Kể từ năm 2000,số lượng doanh nghiệp của tư nhân mới đăng ký liên tục tăng nhanh.Năm 2000,số doanh nghiệp được đăng ký là 14.413 ,đến năm 2004 con số này là 36.795.Theo ước tính vủa Bộ Kế hoach và Đầu tư trong 5 năm 2001-2005 có 151.004 doanh nghiệp của tư nhân đăng ký kinh doanh đưa tổng số doanh nghiệp của tư nhân ở nước ta đén cuốI năm 2005 đạt 20 vạn. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh,các thành phố trực thuộc Trung ương,có khỏang 80% đến 85% số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động.Theo Tổng cục Thuế,đến hết tháng 7 năm 2003 trên cả nươc có khỏang 1.650 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng không còn hiện diện nơi đăng ký(chiếm khoảng 2,3% tổng số doanh nghiệp đã đăng ký) Số doanh nghiệp không hoạt động gồm nhiều nguyên nhân,chủ yếu là:mất cơ hội kinh doanh,dự tính sai cơ hội kinh doanh,tự ý rút khỏi thị trường không báo cáo.mốt số doanh nghiẹp thành lập để thực hiện mua bán hóa đơn giá trị gia tăng. Như vậy,tỷ lệ doanh nghiệp giải thể,không hoạt động sau đăng ký của nước ta không cao so với các nước khác.Hoa Kỳ có 10% số doanh nghiệp giải thể trong năm đầu hoạt động.Các nước thành viên của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) có từ 20-40% số doanh nghiệp giải thể trong 2 năm đầu hoạt động.Số doanh nghiệp kinh tế tư nhân có đến 31 tháng 12 năm 2003 do Tổng cục Thống kê công bố là 60.374,trong khi đó con số của Bộ kế hoạch đưa ra tại cùng thời điểm là 12 vạn.Như vậy sự chênh lệch số doanh nghiệp tư nhân có đến cuối năm 2003 giữa 2 cơ quan công bố là gần một nửa.Mức độ chênh lệch này không chỉ việc sử dụng các quá trình thu nhập dữ liệu khác nhau mà các con số này dùng để đánh giá các hiện tượng khác nhau: số lượng đăng ký do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố và doanh nghiệp đang hoạt động do Tổng cục Thống kê công bố. 2.KTTN những cơ hội và thách thức : Cơ hội lớn:Từ năm 2000 trở lại đây, KVKTTNTN nói chung, DNTN nói riêng, đang phát triển mạnh, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đang ngày càng khẳng định vai trò động lực của mình. Với việc thi hành Luật Doanh nghiệp và hàng loạt các biện pháp cải cách khác, môi trường kinh doanh ở nước ta trong mấy năm gần đây đã có những cải thiện quan trọng theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của người dân trên nguyên tắc doanh nghiệp và người dân được tự do kinh doanh tất cả những lĩnh vực mà luật pháp không cấm, khuyến khích người dân làm ăn, kinh doanh làm giàu cho mình và cho đất nước, khuyến khích mọi doanh nghiệp tham gia các ngành xuất khẩu, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa... Chính trong môi trường đó, KVKTTNTN và đặc biệt là DNTN đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước trên các mặt: tạo công ăn việc làm, tăng vốn đầu tư phát triển, mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy phát triển các thị trường, đổi mới kinh tế và hành chính... KVKTTNTN phát triển nhanh chóng trong thời gian qua còn do tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, khởi đầu từ khi chúng ta đổi mới, và đặc biệt phát triển từ giữa thập kỷ 1990, khi nước ta lần lượt tham gia ASEAN, ASEM, APEC và không ngừng mở rộng quan hệ song phương với các nước khác trên thế giới. Thị trường các nước mở rộng dần cho các sản phẩm của Việt Nam đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN), trong đó có KVKTTNTN phát triển sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của mình trên các thị trường khu vực và quốc tế. Khi nước ta tham gia WTO, các cơ hội này lại càng mở rộng, những rào cản sẽ được dỡ bỏ, các DNVN sẽ có vị trí bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trên thị trường các nước. Họ sẽ có quyền không chỉ xuất nhập khẩu, tiếp nhận đầu tư, mà còn mở rộng nhiều phương thức hợp tác khác và đầu tư ra các thị trường nước ngoài, khai thác tối đa những lợi thế cạnh tranh của mình và tận dụng sự phân công lao động quốc tế, tham gia mạng lưới kinh doanh và chuỗi giá trị toàn cầu theo cách có lợi nhất cho mình. Tham gia WTO cũng thúc đẩy nước ta cải thiện mạnh mẽ môi trường pháp lý, chính sách cho kinh doanh, tạo thuận lợi cho cạnh tranh và phát triển của mọi doanh nghiệp. Thách thức không nhỏ:Tuy nhiên, trong bước đường phát triển vừa qua cũng như trong thời gian tới, khu vực kinh tế này còn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, trở ngại: Một là, bản thân KVKTTNTN và các DNTN của nước ta nhìn chung còn nhỏ, yếu, mới hình thành, rất thiếu các nguồn lực cần thiết cũng như thiếu sự liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển. Trong DNTN của chúng ta có tới 95% thuộc quy mô nhỏ và vừa (theo tiêu chí của nước ta là có dưới 300 lao động và/hoặc dưới 10 tỉ đồng vốn), trong đó khoảng 50% thuộc quy mô nhỏ hoặc cực nhỏ (dưới 100 lao động và/hoặc dưới 5 tỉ đồng vốn). Cái yếu của DNTN ở nước ta thể hiện rõ nhất ở năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhìn chung còn thấp so với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp các nước xung quanh. Họ cũng yếu hơn phần lớn các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong cùng lĩnh vực về quy mô, về khả năng tiếp cận các nguồn lực và kinh nghiệm thương trường. Do nhỏ, yếu, DNTN nước ta vừa rất khó đương đầu với cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường trong nước và quốc tế, vừa dễ bị tổn thương trước những biến động thị trường. Hơn 80% DNTN ở nước ta mới ra đời sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được thi hành nên họ còn rất thiếu kinh nghiệm thương trường, chưa đủ thời gian để trưởng thành, trong khi đã phải đối phó với áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh. Hầu hết các DNTN ở nước ta đều thiếu những nguồn lực cơ bản cần thiết cho họ: nguồn vốn, đất đai, công nghệ, kỹ năng quản lý, nhân lực có chất lượng, thị trường, thông tin... và cả mối quan hệ với các đối tác quan trọng. Bản thân họ không thể có đủ nguồn lực, lại gặp khó khăn rất lớn trong việc tiếp cận với các nguồn lực có sẵn ở bên ngoài doanh nghiệp, kể cả những nguồn đã được Nhà nước cam kết hỗ trợ, ưu đãi hoặc giành quyền bình đẳng khi tiếp cận. Tình trạng thiếu nguồn lực của DNTN bị kéo dài đã hạn chế rất lớn sự phát triển của họ. Tuy trong thời gian qua, DNTN đạt tốc độ phát triển nhanh trên một số lĩnh vực, nhưng điều đó cũng do điểm xuất phát của họ rất thấp. Nếu tính tới hàm lượng tăng trưởng, DNTN khó sánh được với DNNN, còn tính cả về hàm lượng và chất lượng, họ khó sánh được với FDI, nhất là trong phát triển công nghiệp và các lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn. Do vậy, DNTN vừa khó cạnh tranh, vừa khó là đối tác bình đẳng với DNNN, FDI và doanh nghiệp các nước khác. Cho tới nay, số DNTN trưởng thành, đạt quy mô kinh tế hiệu quả còn chiếm tỷ lệ rất thấp trong DNTN ở nước ta. Ngay trong số DNTN đã trưởng thành cũng không ít doanh nghiệp đang lúng túng về chiến lược và nguồn lực để tiếp tục phát triển trong thời gian tới. DNTN cũng chưa thiết lập được sự liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với nhau trong từng ngành, giữa các ngành liên quan, hoặc trong từng vùng để tạo thế mạnh của tính hệ thống và hiệu quả của sự phối hợp. Từng DNTN mới chỉ dựa vào sức mình là chính, chưa khai thác, sử dụng được sức mạnh của sự liên kết vốn rất cần thiết, nhất là đối với các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa. Thực tế đây cũng là vấn đề chung của các doanh nghiệp Việt Nam, với những mạng lưới kinh doanh chưa được hình thành đầy đủ, thiếu những doanh nghiệp thật mạnh có khả năng làm trụ cột, đầu đàn tạo sự liên kết, hợp tác vững chắc để nhân thêm sức mạnh trong cạnh tranh quốc tế. Hai là, môi trường kinh doanh trong nước còn nhiều khó khăn và thiếu bình đẳng. Tình trạng này kéo dài đã lâu nhưng chậm được khắc phục, khiến cho môi trường kinh doanh luôn là thách thức lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát của DN. Trong môi trường kinh doanh ở nước ta hiện nay, trở ngại lớn nhất của KVKTTNTN và DNTN là ở 5 mặt sau: + Việc gia nhập thị trường tuy đã được cải thiện nhiều do Luật Doanh nghiệp nhưng vẫn còn đòi hỏi chi phí cao về tiền của và thời gian. Do vậy, vẫn còn có khó khăn cho nhiều người, nhiều vùng khi muốn lập thêm DN mới. Hiện nay, ngoài khâu đăng ký kinh doanh là nhanh chóng và ít tốn kém nhất, các DN mới ra đời còn phải qua 3 khâu (khắc dấu, đăng ký mã số thuế, mua hóa đơn) trước khi có thể bắt đầu hoạt động, với tổng thời gian 50 - 60 ngày và chi phí khoảng 3 - 5 triệu đồng, tương đương với 49% thu nhập bình quân đầu người trong 1 năm ở nước ta. Ngoài ra, quyền kinh doanh của DNTN trong một số lĩnh vực cũng còn bị hạn chế, + Còn những rào cản lớn về pháp lý và hành chính trong quá trình hoạt động của DN. Hệ thống luật pháp và chính sách của nước ta còn những nhược điểm: thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu ổn định, khó tiên liệu; tổ chức thực thi lại kém. Hệ thống hành chính của ta kém hiệu quả, với tình trạng can thiệp hành chính vào hoạt động của DN phổ biến và kéo dài. Sự yếu kém, nhũng nhiễu của không ít công chức đã làm vô hiệu hóa những chính sách tốt và cam kết cải cách của Nhà nước. Nhiều vướng mắc của DN trong lĩnh vực thanh tra, kiểm tra, thuế, phí, hải quan, đất đai... kéo dài đã lâu nhưng rất chậm được giải quyết. + Tiếp cận các nguồn lực rất khó khăn và tốn kém. Như đã nêu trên, DNTN rất khó tiếp cận với các nguồn lực cần thiết, và họ phải trả giá rất cao để tiếp cận với các nguồn lực đó. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại được tiếp cận dễ dàng hơn, với những điều kiện ưu đãi và chi phí thấp hơn nhiều. Thực tế này gây nên sự bất bình đẳng lớn cho DNTN, làm cho họ mất đi nhiều cơ hội thị trường, tăng rủi ro và giảm đáng kể khả năng đầu tư của họ. + Chi phí kinh doanh ở nước ta khá cao so với các nước trong khu vực, khiến cho DNTN của ta khó có thể giảm giá thành để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời chi phí cao cũng hạn chế khả năng sinh lời, làm giảm động lực và nguồn lực trong kinh doanh, cản trở nhiều người đi vào hoạt động thương trường hoặc tích lũy thêm vốn cho đầu tư mới.Các dịch vụ hạ tầng như đất đai, nhà xưởng, điện, thông tin liên lạc, giao thông vận tải... đều có mức giá cao, chất lượng dịch vụ lại thấp, khiến cho chi phí thực tế đối với DN càng lớn. Chi phí vốn cao về lãi suất, phí tiếp cận, lại khó vay trung hạn, dài hạn nên thêm đắt đỏ cho các DN cần vốn để đầu tư. Chi phí hành chính, chi cho các dịch vụ cần thiết... càng làm tăng chi phí thực tế của DN. Những nguyên nhân cơ bản của tình trạng chi phí kinh doanh cao ở nước ta như quản lý yếu kém, độc quyền kinh doanh của một số DNNN trong một số lĩnh vực... chậm được khắc phục, nên tình trạng này kéo dài và trở thành gánh nặng lớn đối với DNTN. + Thiếu hệ thống dịch vụ và tổ chức hỗ trợ DN. Hệ thống dịch vụ phát triển kinh doanh, hệ thống tổ chức hỗ trợ DN rất cần thiết đối với KVKTTNTN, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa, các DN phi hình thức. ở nước ta, cả 2 hệ thống này đều chưa được phát triển, vừa thiếu, vừa yếu, vừa kém về chất lượng. D.Đánh giá 1.Kết quả đạt được: Khơi dậy và phát huy được ý chí làm giàu của nhân dân,hình thành đội ngũ doanh nhân:Phát triển kinh tế tư nhân theo chủ trương,chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước đã khơi dậy và cổ vũ được tinh thân doanh nghiệp,ý chí làm giàu va tăng thêm lòng tin của người đầu tư và kinh doanh vào đường lối đổi mới của Đảng,luật pháp và chính sách của Nhà nước;doanh nhân,doanh nghiệp đầu tư,kinh doanh đúng pháp luật được xã hội tôn vinh. Hình thành được tầng lớp doanh nhân và ngày càng lớn mạnh.Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 13-10 hàng năm là “Ngày doanh nhân Việt Nam”.Điều đó thể hiện sự thay đổi trong tư duy của Đảng,coi trọng và đề cao vai trò của những doanh nhân,doanh nghiệp. Góp phần hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:Luật Doanh nghiệp với sự hiện diện của các loạI hình doanh nghiệp đã ghi nhận được những quyền cơ bản của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường:quyền tự do cạnh tranh,tự quyết định các công việc của mình,quyền được bình đẳng trước pháp luật khi gia nhập thị trường.Đồng thời,bước đầu tạo lập đươc khung quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu cơ bản của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế nhằm tạo động lực và tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trước pháp luật. Hình thành tưông đối đồng bộ hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh và hệ thống cơ quan tài phán kinh doanh góp phần đưa việc quản lý nhà nước đối vớI việc tham gia,tổ chức lại,rút khỏi thị trường có nền nếp hơn và bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.Thay đổi tu duy quản lý,tôn trọng và bảo đảm quyền “người dân được tự do kinh doanh trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm” và thực hiện nguyên tắc: “Công chức trong bộ máy công quyền chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định;chuyển từ cơ chế “quản lý đến đâu cho mở đến đó” từng bước sang “quản lý nhà nước phảI theo kịp sự phát triển” Đóng góp ngày càng nhiều hơn cho phát triển kinh tế xã hội Năm 2004,GDP khu vực kinh tế tư nhân đạt 274.473 tỷ đồng,chiếm 38,5% tổng GDP cả nước.(trong đó có 76,7% kinh tế hộ gia đình,các thể tiểu chủ;23,3% doanh nghiệp tư nhân) Từ năm 2001 đến 2004 tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung của các doanh nghiệp tư nhân đạt 197.122 tỷ đồng.Nhờ đó tăng tye trọng vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân từ 23,5% năm 2001 lên 27,4% năm 2004 Công bố của Ban Chỉ đạo điều tra lao động TƯ cho thấy lao động làm việc tại thời điểm 1-7-2005 trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước tập trung chủ yếu trong khu vực kinh tế tư nhân 38,355 triệu người ,chiếm 88,2%lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước… 2.Những yếu kém: Cơ cấu kinh tế hộ nông dân chậm được cải thiện với tỷ trọng nông nghiệp đóng góp 79%.Tốc độ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn rất chậm,làm cho thu nhập của người nông dân tuy có tăng khá nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng một dãn ra. Đến cuối năm 2005 lao động nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 56,8% trong tổng lượng lao động toàn xã hội chỉ tạo ra 21%GDP.Con số này cho thấy GDP do lao động làm việc trong nông nghiệp tạo ra chỉ bằng 1/3 công nghiệp và dịch vụ.Mặt khác chi phí cho sản xuất kinh doanh lại lớn (thông thường khoảng 80% tổng thu nhập)nên thu nhập của nông dân chủ yếu là công lao động,thu nhập ròng rất thấp.Hơn nữa,chi phí cho giáo dục y tế ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu chi của hội nông dân,nên đời sống của họ càng khó khăn hơn.Chỉ cần trong gia đình có nguời bệnh và con học đại học thì nguời nông dân đã đứng trước “ngưỡng nghèo”.Thực tế này đang trở thành vấn đề gay gắt ở nông thôn,trong nông dân và có nguy cơ mất ổn định. Đồng thời,sự chậm chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ làm cho tinh trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn rất nghiêm trọng.Theo công bố cảu ban chỉ đạo Điều tra lao động-việc làm,đến ngày 1-7-2005 tỷ lệ thờI gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn chưa có hoặc thiếu việc làm. Doanh nghiệp tư nhân phần lớn có qui mô nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lí yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu.Vốn sản xuất, kinh doanh bình quân năm 2003 của một doanh nghiệp tư nhân là 1,34 tỷ đồng, trong đó dưới 1 tỷ đồng chiếm 66% ; con số tương ứng của công ty trách nhiệm hữu hạn là 1,47 tỷ đồng và 38% ; công ty cổ phần là 5,09 tỷ đồng và 25%. Bình quân một doanh nghiệp thu hút trên 30 lao động. Quản trị doanh nghiệp yếu kém, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm của bản thân hoặc của gia đình. Phần lớn chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lí chưa qua đào tạo. Quản lí tài chính còn thiếu minh bạch, số liệu báo cáo chưa phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, độ tin cậy chưa cao. Các doanh nghiệp tư nhân ít đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất, tập trung nhiều vào những ngành nghề đòi hỏi ít vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh, chưa đủ sức đầu tư lâu dài; tính hợp tác, liên kết còn thấp; một bộ phận vi phạm pháp luật, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, chưa thực hiện tốt chính sách đối với người lao động. Về vi phạm của doanh nghiệp hoàn thuế giá trị gia tăng: theo báo cáo của Chính phủ ( trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XI , tháng 11 và 12 năm 2002 tại Hà Nội ) thì từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 9 năm 2002 các cơ quan thuế đã hoàn thành thuế VAT cho 16361 đơn vị với số tiền là 14916 tỷ đồng và mới chỉ kiểm tra 3521 đơn vị đã phát hiện khoảng 1/2 số đơn vị kiểm tra đựoc hoàn thuế sai, trong đó có doanh nghiệp của tư nhân, gây thất hoát cho ngân sách nhà nước 540 tỷ đồng. Bên cạnh một bộ phận doanh nghiệp của tư nhân lợi dụng Luật doanh nghiệp để chiếm đoạt hoàn thuế VAT, phải kể đến không ít công chức thuế và hải quan đã lợi dụng những doanh nghiệp ảo do họ dựng lên để làm công cụ rút ruột ngân sách nhà nước thông qua việc hoàn thuế VAT Các doanh nghiệp thường có định mức lao động cao, thời gian lao động kéo dài, đa số không áp dụng các chế độ phụ cấp hiện hành của nhà nước, thiếu điều kiện bảo hộ và an toàn lao động, chưa thực hiện đầy đủ chế độ bảo hiểm xã hội, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm vài chục phần trăm tổng số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội, thường kí hợp đồng lao động ngắn hạn để tránh nộp bảo hiểm xã hội. E.Phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển KTTN ở Việt Nam 1.Phương hướng: Phát triển năng lực con người Kinh tế tư nhân có cội nguồn từ cá nhân, vì vậy phát triển kinh tế tư nhân phải dựa trên nền tảng phát triển các giá trị cá nhân, phát triển năng lực cá nhân, phát triển con người. Có thể nói, không có sự phát triển năng lực cá nhân thì sẽ không có sự phát triển kinh tế tư nhân. Một trong những yếu tố cạnh tranh của một cộng đồng xã hội chính là tính đa dạng của sự sáng tạo, mà tính đa dạng của sự sáng tạo là hệ quả tất yếu của sự đa dạng của những năng lực cá nhân. Sự đa dạng của năng lực cá nhân là kết quả trực tiếp của sự tôn trọng các giá trị cá nhân. Như vậy, có thể nói lý thuyết phát triển kinh tế tư nhân bắt nguồn từ lý thuyết phát triển con người. Phát triển các quyền cá nhân Sự phát triển xã hội gắn liền với sự phát triển ngày càng phong phú các quyền cá nhân. Sự phát triển của các quyền cá nhân đến lượt nó sẽ thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ. Không có các quyền cá nhân làm tiền đề thì không thể có các quyền của kinh tế tư nhân. Trong thực tế, hiện nay, những hiện tượng can thiệp vào đời sống cá nhân diễn ra tràn lan ở khá nhiều quốc gia. Khi chúng ta không xây dựng, không tôn trọng các quyền cá nhân, có nghĩa là các giá trị cá nhân không được pháp chế hóa, định chế hóa, hoặc chúng ta không nhận thức các quyền cá nhân như những động lực của sự phát triển cá nhân, như những không gian xã hội cần thiết cho một cá nhân phát triển thì không thể phát triển khu vực tư nhân lành mạnh được. Chừng nào một xã hội chưa tôn trọng các quyền cá nhân, kèm theo đó là sở hữu cá nhân thì xã hội đó không thể xây dựng khu vực kinh tế tư nhân một cách chuyên nghiệp được. Tóm lại, kinh tế tư nhân là hình thức kinh tế tự nhiên của quá trình phát triển xã hội, tồn tại và phát triển ngoài ý muốn chủ quan của những nhà chính trị cho dù họ đại diện cho bất kỳ lực lượng xã hội nào, hoặc nhân danh ai, hoặc với mục đích nhân đạo hay cao cả đến đâu chăng nữa. Chừng nào con người còn cần đến kinh tế tư nhân như là một phương tiện hữu hiệu để xây dựng và kiến tạo cuộc sống của mình và đồng loại, thì kinh tế tư nhân còn tồn tại như một hành trang của con người trong tiến trình đi tới tương lai. 2.Các giải pháp: Chuyển đổi chức năng của Nhà nước: Một: Chuyển từ quản lý vi mô sang vĩ mô Hai: Chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp tách bạch giũa Nhà nước với doanh nghiệp Ba: Chuyển từ quản lý theo Bộ sang quản lý theo nghành nghề Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế: Một: Thể chế kinh tế phảI đảm bảo thúc đẩy sự hình thành,phát triển và từng bước hoàn thiện của các loại thị trường (thị trường tà

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPh432417ng h4327899ng v cc gi7843i php nh7857m pht tri.doc
Tài liệu liên quan