Đề tài Đa dạng hóa các hình thức Tín dụng ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chương 1: Các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường

 I. Tín dụng thương mại

 II. Tín dụng ngân hàng

 III. Tín dụng nhà nước

 IV. Tín dụng thuê mua

Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát triển các hình thức tín dụng ở Việt Nam

I. Tín dụng thương mại

 1.Thực trạng

2.Giải pháp phát triển

 II. Tín dụng ngân hàng

1.Thực trạng

 2.Giải pháp phát triển

 III. Tín dụng nhà nước

 1.Thực trạng

 2.Giải pháp phát triển

IV. Tín dụng thuê mua

 1.Thực trạng

2.Giải pháp phát triển

 

doc25 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 01/09/2015 | Lượt xem: 674 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đa dạng hóa các hình thức Tín dụng ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tièn gửi của các nhà doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu đó huy động vốn trong xã hội. Trái lại với tư cách là người cho vay ngân hàng cung cấp tina dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. 2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng. - Vốn tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ, vốn tín dụng đã được giải phóng ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh, là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi. - Quá trình vận động của vốn tín dụng ngân hàng tương đối độc lập so với quá trìh sản xuất kinh doanh; - Hoạt động sản xuất kinh doanh mở rộng, phát triển sẽ làm cho nhu cầu về vốn tăng dẫn đến hu cầu về vốn tín dụng cao và điều này tất yếu dẫn đến hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển theo; - Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Hoạt động của tín dụng thương mại sẽ tạo cơ sở để cung cấp tín dụng ngân hàng, điều này thể hiện thông qua việc cấp vốn tín dụng ngân hàng ttrên cơ sở thương phiếu của ngân hàng thươg mại. Trái lại hoạt động của tín dụng ngân hàng đã góp phần khắc phục các mặt hạn chế của tín dụng thương mại, đồng thời tạo điều kiện cho tín dụng thương mại phát triển. 3. Ưu nhược điểm của tín dụng ngân hàng. 3.1. Ưu điểm. - Có thể đáp ứng nhu cầu cả về khối lượng, thời hạn; - Không bị giới hạn bởi quy mô và chiều vận động; - Vai trò kiểm soát của các tổ chức tín dụng, ngân hàng phát huy được vai trò kiểm soát của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, tín dụng ngân hàng trở thành một hình thức chủ đạo trong nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa trước đây; - Tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn; - Mở rộng phạm vi hoạt đống sang các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. 3.2. Nhược điểm. - Rủi ro tín dụng: Những kết cục không mong muốn đối với ngân hàng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, dẫn đến phá sản, sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng, vì quy mô của tín dụng ngân hàng là rất lớn (lợi ích giảm theo quy mô và do đối tượng là tiền nên có thể sử dụng sai mục đích, sai hướng) . iii. Tín dụng nhà nước. 1. Khái niệm. Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa một bên là nhà nước và một bên là các thành phần khác của nền kinh tế và nhà nước là người đi vay. Chủ thể trong quan hệ tín dụng nhà nước (TDNN) bao gồm người đi vay là nhà nước trung ương, nhà nước địa phương. Người cho vaylà dân chúng, các tổ chức kinh tế và ngân hàng nước ngoài. Trong nền kinh tế nhà nước là một chủ thể có ngân sách riêng và kho bạc nhà nước là người đại diện thực hiện các khoản thu và chi ngân sách. Thu và chi ngân sách có thể diễn ra trong ba trường hợp sau: - Thăng bằng ngân sách, là trường hợp các khoản thu ngân sách đúng bằng các khoản chi ngân sách. Trong các khoản thu và chi này không tính các khoản vay nợ và trả nợ. - Thặng dư ngân sách: là trường hợp mà thu lớn hơn các khoản chi ròng. Phần thặng dư có thể có thể sử dụng để trả các khoản nợ đã vay trong các tài khoản trước hoặc gửi vào ngân hàng để dùng cho các mục đích sau này. - Thiếu hụt ngân sách: là các khoản thu nhỏ hơn các khoản chi ròng. Để bù đắp các khoản chi này kho bạc nhà nước phải đi vay phần thiếu hụt đó. Như vậy, mục đích đi vay của tín dụng nhà nước là bù đắp khoản bội chi ngân sách. 2. Phân loại. Tín dụng nhà nước phân ra hai loại: - Tín dụng ngắn hạn: Là khoản vay ngắn hạn của kho bạc nhà nươc để bù đắp các khoản bội chi tạm thời. Ví dụ, đầu năm ngân sách cần khoản chi ngay, nhưng tạm thời chưa có các khoản thu, cần phải đi vay để bù đắp, thời hạn vay thường dưới một năm. Tín dụng ngắn hạn của nhà nước được thực hiện bằng cách phát hành kỳ phiếu kho bạc. - Tín dụng dài hạn: Là các khoản vaydai hạn của kho bạc nhà nước. Thời hạn thường từ năm năm trở lên, viêc đi vay dài hạn được thực hiện bằng việc phát hành công trái 3. Ưu thế của tín dụng Nhà Nước - Đâylà hình thưc tín dụngcó ưu thế tuyệt đối, là con đường tốt nhất không dẫn đến lạm phát và các vấn đề kinh tế xã hội - Góp phần ổn định kinh tế xã hộivà nâng cao phúc lợi xã hội - Đây là hình thưc tín dụng mà nhà nước không bao giờ phải trả nợ, việc thanh toán bằng cách phát hành ra đợt mới để trả nợ cũ - Việc mua công trái đem lại cho người nông dân những khoản thu nhập và cóp thể giầu lên mộtcách nhanh chóng, hơn nữa mua công trái tương tự như gửi tiết kiệm nhưng có thể giầu lên một cách nhanh chóng mà không phải chịu rủi ro 4. Nguyên nhân mà người nông dân Việt nam không thích mua công trái - Việc mua bán trái phiếu chính phủ là quan hệ kinh tế vì vậy mang lại lợi ích kinh tế. Nhưng ở Việt nam lại mang tính chính trị hơn kinh tế nên việc mua công trái như việc hiến tiền cho nhà nước do tốc độ lạm phát lớn. - Chi tiêu của ngân sách nhà nước Việt nam lãng phí, chưa hợp lí - Mua công trái và gửi tiết kiệm không có sự khác biệt, nhưng người nông dân lại có thói quen gủi tiết kiệm hơn. iV. Tín Dụng Thuê Mua 1. Khái niệm Tín dụng là quan hệ tín dụng giữa các công ty tài chính với người sản xuất kinh doanh được thể hiện dưới hình thức cho thuê tài sản cố định Sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi những khoản đầu tư và phải có năng suất lao động cao, vì vậy phải đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp có vốn tích luỹtự có là không đầy đủ để đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ. Do đó phải đi thuê tài sản cố định. Nó giúp cho các nhà sản xuất doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ. 2. Đặc điểm ở Việt Nam tín dụng thuê mua được thể hiện dưới hình thức: công ty cho thuê tài chính, thực chất là công ty tài chính thực hiện việc cho thuê đối với tài sản cô định. Tín dụng thuê mua có hai hình thức. Người cho thuê đã có tài sản cố định cho thuê, Cho thuê theo kiểu vận hành vốn: mọi chi phí về sửa chữa, bảo dưỡng, tài vận hành sản cố định sẽ do người cho thuê chịu. Cho thuê theo kiểu thuê tài chính: người đi thuê tìm kiếm trên thị trường những tài sản cần thuê, sau đó yêu cầu người cho thuê mua tài sản đó. 3. Tác dụng và hạn chế của tín dụng thuê mua. 3.1. Đối với nền kinh tế. - Đây là hình thức huy động vốn cho đầu tư phát triển, đặc biệt là từ nước ngoài đặc biệt là những ngành có công cụ sử dụng rất đắt. - Tiếp thu được thường xuyên tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới. - Giá trị các tài sản thuê không tính vào hạn mức nợ quốc gia, do đó không ảnh hưởng đến việc sử dụng các hạn mức nợ từ các chính phủ, các tổ chức quốc tế. 3.2. Đối với người cho thuê. - Là hình thức đầu tư để thu lợi nhuận, đầu tư có độ an toàn cao. Vì người thuê tài sản có mục đích rõ ràng, có địa chỉ sử dụng rõ ràng và cụ thể. Người cho thuê bao giờ cũng nắm cơ sở pháp lý để chứng minh sở hữu nguồn gốc cho thuê. - Làm đa dạng và phong phú thêm những hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, đặc biệt là hệ thống các ngân hàng thương mại. 3.3. Đối với người đi thuê. Có tác dụng lớn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trường hợp tổ chức kinh tế thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh mà khả năng và điều kiện tiếp cận đến nguồn vốn ngân hàng không thể đảm bảo được. Và khi vay vốn ngân hàng gặp phải khó khăn là phải có tài sản thế chấp, hoặc bị khống chế bởi giới hạn vốn cho vay. Có tác dụng đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ và nhu cầu sử dụng tài sản không nhiều. Các doanh nghiệp có thể luôn luôn đổi mới và tiếp cận được với tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên hạn chế của tín dụng thuê mua đó là chi phí cho thuê tài sản cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng. Chương ii Thực trạng và giảI pháp phát triển các hình thức tín dụng ở việt nam i. Tín dụng thương mại. 1. Thực trạng: 1.1. TDTM quốc tế với những vấn đề cần tháo gỡ Sự bùng nổ hình thức TDTM quốc tế trong mấy năm gần đây đặt nước ta vào tình trạng hết sức khó khăn vì một mặt, TDTM quốc tế là công cụ thuận lợi cho kinh doanh quốc tế, nó làm tăng đáng kể khối lượng xuất nhập khẩu, khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu cũng như các ngành sản xuất có đầu vào là nguyên liệu ngoại nhập, mặt khác nó cũng gây những hậu quả cho nền kinh tế với hiện trạng. 1.1.1.Quản lý TDTM quốc tế đang bị thả lỏng - Do thiếu hiểu biết, người ta ngộ nhận rằng nguồn vốn thu hút từ việc mở L/c trả chậm là nguồn vốn rẻ tiền và có thể dùng thoải mái tới mức họ quên đi những rủi ro đáng lo ngại và hậu quả xấu cho đất nước và các ngân hàng lao vào nghiệp vụ này một cách phiêu lưu. Nguyên nhân chính ở đây là việc quản lý hình thức tín dụng này hầu như bị thả nổi. Quỹ tiền tệ quốc tế khuyên ta nên hạn chế doanh nghiệp vay nước ngoài cho phù hợp với khả năng trả nợ nhưng con số vẫn không ngừng gia tăng. Người ta cảnh báo rằng, nguy cơ đáng lo ngại là có những công ty TNHH với số vốn trong TNHH chỉ có 3 tỷ đồng nhưng đã mở tổng số L/c trả chậm là 41 triệu USD. Như vậy chỉ cần một sơ suất nhỏ hay giá hàng nhập theo L/c đó giảm 1% là doanh nghiệp lỗ vốn 410.000USD, vượt số vốn tự có. Khối lượng TDTM quốc tế lớn như vậy nhưng chủ yếu để nhập khẩu hàng tiêu dùng, sau đó chính cán cân thanh toán quốc tế sẽ phải gánh chịu việc trả nợ này khi đáo hạn. Về phía quy định, việc bảo lãnh cho mỗi L/c hầu như không có thể lệ hướng dẫn thi hành, ghi chép ngoại bảng không kiểm soát nổi đến chỗ thắt chặt gần như cấm hoàn toàn. Nó thường xuyên bị lợi dụng để làm ăn phi pháp. Lúc đầu nó chỉ là nhập hàng trả chậm nhưng một số công ty móc ngoặc được với các cán bộ ngân hàng biến chất, rút được hàng hóa thế chấp cho L/c trả chậm đem bán phá giá lấy vốn quay vòng. Đến khi việc kinh doanh gặp rủi ro, ngân hàng là người gánh chịu những khoản này. Mặc dù đã có những biện pháp ngăn ngừa như ban hành tỷ lệ ký quỹ là 80% mà thực chất là cấm mở L/c trả chậm nhưng rồi L/c vẫn tăng đáng kể. Nguyên nhân là do các công ty cần nhập nguyên liệu cho sản xuất kiến nghị đồng loạt nên việc mở L/c lại trở về lỏng lẻo như cũ. Chẳng hạn, phân bón là mặt hàng thường xuyên được nhập về để bán phá giá lấy vốn quay vòng lại thuộc loại nguyên liệu cho nông nghiệp nên các ngân hàng vẫn tăng L/c trả chậm. Vì vậy khối lượng L/c trả chậm đầu năm 1996 khoảng 1200 triệu USD; đến tháng 6/1996 đã tăng đến hơn 1400 triệu USD. Trong vụ Epco và Minh Phụng, người ta mới thấy hết tai họa của việc bảo lãnh mở L/c trả chậm không được quản lý: riêng 2 công ty này đã hút được tới 44 triệu USD vốn đem quay vòng từ các L/c trả chậm, trong đó quá hạn chiếm 31,3% hay 13,8 triệu USD. 1.1.2. Thông tin thiếu thốn: Do vậy, có khách hàng mở L/c ở nhiều ngân hàng tới vài chục triệu USC. Trung tâm thông tin tín dụng của ta không thể cung cấp số L/c mà khách hàng mở ở nhiều ngân hàng khác nhau. 1.1.3. NHTM hoạt động kém hiệu quả, nghiệp vụ yếu kém, đội ngũ cán bộ trình độ hạn chế, chưa được thanh lọc, phẩm chất chưa tốt. Từ đó dẫn đến những vi phạm nguyên tắc một cách vô tình hay cố ý, tham ô, hối lộ gây những thiệt hại lớn cho đất nước. Nghiệp vụ ngân hàng chưa cao nên không theo dõi và không có đủ thông tin về doanh nghiệp, không kịp thời can thiệp được khi có sai trái. 1.1.4. Chưa có hiểu biết đầy đủ về TDTM quốc tế Chúng ta tiếp cận và sử dụng TDTM quốc tế như là một công cụ hiệu quả cho xuất nhập khẩu mà chưa hiểu rõ bản chất của nó. Thêm vào đó, chúng ta thiếu một hệ thống pháp luật cụ thể và hiệu quả, dẫn đến những rủi ro cho nền kinh tế. Do ham lợi trước mắt, các ngân hàng và doanh nghiệp làm sai quy tắc. Do thiếu kiến thức, nhiều L/c bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ không hợp lệ. 1.1.5. Ngân hàng nhà nước chưa ban hành chế độ mở L/c trả chậm. Việc thiếu vắng một thể lệ có tính pháp quy như vậy đã tạo kẽ hở cho một số ngân hàng đua nhau hạ thấp các điều kiện mở L/c để thu hút khách hàng và sẵn sàng lao vào nuôi những công ty mở L/c tràn lan không có vốn đảm bảo. 1.1.6. Không có sự phối hợp giữa Vụ chức năng và Vụ kế toán của NHTW để quản lý bằng một chế độ hoạch toán kế toán chặt chẽ, đây là lỗ hổng lớn cho một số kẻ xấu tha hồ tiền hành những bút toán không thực. 1.1.7. Khối lượng TDTM quốc tế đã chiếm thị phần lớn của tín dụng trong nước nên nó là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thừa vốn ở các doanh nghiệp. Tóm lại, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn giữa sự cần thiết của TDTM quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế của nước ta. 1.2. TDTM trong nước 1.2.1. TDTM chưa được thừa nhận chính thức, hoạt động bất hợp pháp, đầy rẫy rủi ro vì quyền lợi của người kinh doanh chưa được bảo đảm dẫn đến sự phá sản hàng loạt khi một khâu kinh doanh đổ bể. TDTM ở nước ta hiện nay chỉ dựa trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa những người mua - người bán dẫn đến tình trạng quỵt nợ, nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp. Chẳng phải ngẫu nhiên mà một số người cho rằng vụ cháy chợ Rồng ở Thanh Hóa và chợ Đồng Xuân ở Hà Nội là do có kẻ muốn thủ tiêu giấy tờ ghi nợ. Phải nhìn nhận rằng việc bán chịu hàng ở chợ gần như thành luật lệ của giới buôn bán. Thường thường, các cơ sở sản xuất phải giao hàng đợt sau mới lấy được tiền hàng đợt trước. Nơi bán buôn ở các chợ đầu mối cũng phải cũng phải giao hàng trả chậm cho các mối bán lẻ và cả các mối ở địa phương khác. Khối TDTM lên đến hàng ngàn tỷ đồng như vậy lại không có gì bảo đảm gây thiệt thòi lớn cho các chủ nợ. Như ta đã biết, TDTM di chuyển rất nhanh. ở một số tỉnh khối lượng TDTM lớn đã làm lệch cân đối tín dụng của các ngân hàng địa phương. Ví dụ khi giá cao sự tăng thu hút khách hàng đổ xô vào ứng tiền cho các công ty cao su. Số dư nợ khổng lồ đối với khối ngân hàng địa phương của công ty này đã giảm sút lớn dẫn đến đầu vào các các ngân hàng lớn hơn đầu ra. Theo như thống kê, TDTM chiếm đến 40% tổng số vốn lưu động của các doanh nghiệp. Con số này còn lớn hơn nhiều với những doanh nghiệp ít vốn hơn. Họ thường xuyên sử dụng hình thức này để giải quyết vấn đề tiền vốn kinh doanh hạn hẹp. Những người thường xuyên mua chịu là những người buôn bán ở chợ, bán lẻ... Các mặt hàng cho mua bán chịu cũng thật là đa dạng: quần áo, vải vóc, đồ lưu niệm, thiết bị trường học... nó tùy thuộc vào tiềm năng về vốn của người bán cũng như quy luật chung của thị trường đó. Nhiều khi người bán phải chấp nhận bán chịu như một hình thức khuyến mại, khuyến khích mua hàng của họ. Sau đây là một vài số liệu về mặt hàng vải ở chợ Đổ (Hải Phòng). Theo điều tra sơ bộ, tất cả các hiệu vải ở đây đều sử dụng hình thức TDTM dưới hình thức này hay hình thức khác. Lý do cơ bản là vì nguồn vốn kinh doanh có hạn, người bán buôn phải chấp nhận một thời hạn nào đó để người bán giải phóng hàng, gom tiền trả nợ. Người kinh doanh cho biết, đây là giải pháp hữu hiệu để duy trì hoạt động kinh doanh liên tục, đồng thời họ cũng than phiền là nhiều khi không đòi được tiền, bị quỵt nợ mà không biết kêu ai. Cùng với sự tăng lên của khối lượng TDTM, rủi ro nó mang đến cũng tăng lên đáng kể. Lẽ dĩ nhiên, buôn bán phát triển, lợi nhuận hấp dẫn, người ta quan tâm đến điều đó chứ không phải những giao ước bằng lời. Như vậy TDTM là một mảng không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh, nhất là trong hoàn cảnh thiếu vốn của ta hiện nay. 1.2.2. Chưa có những quy định cụ thể cho TDTM Trước đây, dù nhà nước có cấm ngặt TDTM thì nó vẫn ngấm ngầm tồn tại. Cho đến nay vẫn chưa có luật lệ cụ thể nào về thương phiếu, nghiệp vụ chiết khấu bị bỏ ngỏ, lại chưa có thị trường cổ phiếu... gây nhiều cản trở cho TDTM phát huy tác dụng. 1.2.3. Rủi ro đầy rẫy trong TDTM ở Việt Nam do chưa được thừa nhận và bảo đảm bởi pháp luật. - Hiện tượng di chuyển mạnh mẽ của loại hình tín dụng này làm lệch cân đối. Tín dụng của ngân hàng địa phương. Nó làm di chuyển nguồn vốn vay ngân hàng vì ngân hàng cho doanh nghiệp vay, doanh nghiệp lại bán chịu cho nơi khác nên vốn ngân hàng cho vay gồm luôn phần TDTM của doanh nghiệp và di chuyển luôn sang nơi mua chịu hàng hóa của doanh nghiệp. Hiện tượng này còn có thể làm lệch cung cầu vốn trong từng khu vực hay từng ngành, ảnh hưởng mạnh mẽ tới lãi suất thị trường. - TDTM gây rủi ro cho TDNH Ngay cả khi cấm TDTM, nó vẫn tồn tại dưới hình thức chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, không trả lãi và không có kỳ phiếu nhận nợ. Điều này dẫn đến tình trạng công nợ dây dưa khó đòi mà trong giai đoạn I năm 1995 đã lên tới 10.000 tỷ đồng lớn hơn tổng số dư nợ vay toàn bộ hệ thống ngân hàng thời kỳ đó. Nhiều khi ngân hàng bị mất trắng do chủ nợ chặn hàng siết nợ hoặc đẩy ngân hàng đến chỗ cho vay không có vật tư bảo đảm. Mặt khác, nhiều khoản vay ngân hàng bị sử dụng sai mục đích vì phải trang trải cho các món nợ TDTM đã vay vì TDTM mang tính bắt buộc, người mua buộc phải trả tiền vô điều kiện khi đến hạn. Nếu không có khả năng thanh toán, để khỏi vỡ nợ, các doanh nghiệp bù đắp TDTM bằng các khoản vay khác. - Hiện tượng quỵt nợ, công nợ dây dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau là phổ biến vì không có thương phiếu bảo đảm. Do đó trong vụ vỡ nợ Soái Kình Lâm, thiệt hại lên tới 100 tỷ đồng. 1.3. Vai trò của TDTM trong nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu ở Việt Nam 1.3.1. Tăng nguồn vốn kinh doanh Nền kinh tế nước ta còn nghèo, vốn cho kinh doanh hạn chế, đòi hỏi phải có những hình thức tạo vốn. Vấn đề này càng bức thiết hơn với các đơn vị buôn bán nhỏ. Nhờ có TDTM, sản xuất kinh doanh ổn định và mở rộng. Tuy nhiên không nên lạm dụng TDTM vì thời hạn tín dụng thương mại và dễ dẫn đễn vỡ nợ hàng loạt. 1.3.2. Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ TDTM với công cụ là thương phiếu được coi là hình thức lưu thông không dùng tiền mặt. Nó tiết kiệm chi phí lưu thông và giảm bất trắc trong việc chuyển tiền. 1.3.3. Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh Nhờ có TDTM, quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, không ngắt quãng. Nhờ đó hiệu quả của sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể. 1.3.4. Khuyến khích sản xuất kinh doanh Trong thực tế, TDTM chiếm hơn 40% vốn lưu động của các doanh nghiệp. Với khối lượng tín dụng đó, các doanh nghiệp có thể mở rộng kinh doanh, có nhiều cơ hội kiếm lời. Mặt khác nó còn khuyến khích sản xuất kinh doanh vì hoạt động đó được bí mật tương đối, không phản ánh trên thương phiếu nên rất được ưa chuộng. Như vậy, TDTM đặt chúng ta trước sự lựa chọn khó khăn. Nên chẳng hợp pháp hóa TDTM ở Việt Nam. 2. Giải pháp: Như đã đề cập, bên cạnh những ưu thế, TDTM còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Từ năm 1932, Liên Xô (cũ) đã xóa bỏ TDTM, coi đó là sự phá vỡ việc phân bổ tín dụng theo kế hoạch. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, việc cấm hay hợp pháp hóa TDTM đặt ra nhiều tranh cãi. Dù vậy, TDTM là một đặc trung của cơ chế thị trường, chúng ta đã chấp nhận cơ chế thị trường tại sao không coi TDTM là một tất yếu? Hơn nữa TDTM bổ sung rất hoàn hảo cho các hình thức tín dụng khác và chưa hề chịu tác động của các lệnh cấm. Giờ đây, vấn đề là ở chỗ phải làm gì để khắc phụ những khiếm khuyết của nó mà thôi. Trong tình hình hiện nay, với sự bung ra của TDTM, việc hợp pháp hóa hình thức tín dụng này là đòi hỏi cấp thiết để giảm rủi ro cho người kinh doanh, xóa bỏ thị trường ngầm và lại khuyến khích phát triển sản xuất. Để phát huy vai trò của TDTM thật hoàn hảo cần có những biện pháp sau: 2.1. Với TDTM quốc tế - Hạn chế các doanh nghiệp vay nước ngoài. - Quy định cụ thể về thể lệ mở L/c trả chậm, tránh trường hợp công ty bán phá giá hàng nhập lấy vốn kinh doanh mục đích khác. Hiện quy chế bảo lãnh cho khách hàng vay vốn nước ngoài chỉ là 1 quy chế chung chung, không thể là một thể lệ cụ thể để quản lý nghiệp vụ mở thư tín dụng trả chậm. - Giảm tối đa việc mở L/c trả chậm cho việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, hàng xa xỉ. Nước ta còn nghèo, việc nhập khẩu hàng tiêu dùng không làm tăng sức sản xuất trong nước, gây áp lực bên cán cân thanh toán quốc tế. Khối lượng hàng nhập khẩu quá nhiều tấn công hàng sản xuất trong nước, hàng nội địa không có sức cạnh tranh dẫn đến sự phá sản của các doanh nghiệp trong nước. - Phải xây dựng được một chế độ kế toán phù hợp. Trong TDTM quốc tế, cần bám sát UCP500 để bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước tránh những sai lầm về chứng từ không đáng có dẫn đến việc không được thanh toán. - Vụ chức năng phải phối hợp với vụ kế toán Ngân hàng để quản lý bằng một chế độ kế toán hợp lý, chặt chẽ, hạch toán thống nhất. - Xây dựng hệ thống thông tin hiện đại qua ngân hàng hoặc các công ty tư vấn, tránh trường hợp một công ty mở quá nhiều L/c trong khi vốn có hạn. - Hỏi cơ quan phụ trách chung của các ngân hàng về các quy định trong luật hối phiếu áp dụng ở mỗi nước, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong pháp luật của mỗi nước. - Yêu cầu ngân hàng của người mua bảo lãnh để tránh rủi ro khi không biết cặn kẽ về đối tác. - Sử dụng các công cụ kỹ thuật hiệu quả như kỹ thuật tín dụng chứng từ. 2.2 Với TDTM trong nước 2.2.1. Hợp pháp hóa TDTM nên làm dần từng bước cùng với sự hoàn thiện hệ thống luật. Cụ thể: - Sớm ban hành pháp luật về thương phiếu, hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp cùng các thương nhân biết rõ tính chất của từng loại thương phiếu hay nhận diện được thương phiếu, đưa TDTM vào quỹ đạo thanh toán sòng phẳng. - Ban hành pháp lệnh điều chỉnh nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu từ điều 21 đến 24 quyết định 198 quy định chứng từ có giá còn chung, việc hướng dẫn thủ tục nghiệp vụ, hạch toán kế toán, chiết khấu chưa đầy đủ. Để thi hành điều luật 57 luật các tổ chức tín dụng, NHNN nên tách ra xác lập riêng thể lệ chiết khấu, cầm cố thương phiếu. - Chống thất thu thuế. Việc giao dịch trong TDTM không thể hiện rõ trên thương phiếu, dẫn đến nhà nước không thu được thuế: nên tiến hành thu thuế trên giá trị thương phiếu. - Thực hiện kiểm toán nội bộ giúp điều hành thanh tra, giám sát hoạt động hối phiếu của các ngân hàng thành viên. 2.2.2. Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng - Nâng cao nghiệp vụ của ngân hàng nhất là nghiệp vụ chiết khấu, đảm bảo cho TDTM thuận lợi, đồng thời phải có cơ chế để các doanh nghiệp không thể chiếm dụng vốn lẫn nhau. - Sử dụng nhiều loại cho vay để kiểm soát chặt chẽ ảnh hưởng của TDTM. Có nhiều loại cho vay với TDTM như cho vay chiết khấu thương phiếu cho vay theo chứng từ gửi hàng theo tàu, cho vay động sản hóa các khỏan TDTM, cho vay bao thu nợ, cho vay nhà thầu về các khoản phải đòi ngân sách trong thời gian chờ kinh phí, cho vay thương phiếu ghi băng từ... Thực chất, khoản nợ phải đòi người mua là khoản có tính rủi ro cao. Nó nằm trong phạm vi vốn lưu động của doanh nghiệp. Cho vay bằng nhiều loại vào khoản này tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát sâu các khoản TDTM để sàng lọc những gì cho vay được và biết mục đích sử dụng vốn. - Đơn giản hóa thủ tục hành chính. ở nước ta, thủ tục hành chính rất rườm rà, làm cho chất lượng tín dụng không bảo đảm, hơn nữa nhiều khi chúng chồng chéo lên nhau tạo những kẽ hở đáng lo ngại. Vì vậy, phải tiến hành cải cách hành chính sao cho việc giao dịch với khách hàng chiết khấu đơn giản mà vẫn đảm bảo tính nguyên tắc, an toàn. - Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngân hàng. Hiện nay đa số cán bộ ngân hàng không có trình độ và năng lực cần thiết. Mặt khác, chúng ta thiếu trầm trọng những chuyên viên am hiểu về hoạt động ngân hàng. Vì vậy cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ mới, đủ năng lực đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của ngành ngân hàng. - Trong sạch hóa đội ngũ cán bộ ngân hàng. Đây là đòi hỏi bức thiết vì hàng loạt những vị tham nhũng, vay ngân hàng không có thế chấp hoặc không có khả năng trả nợ đều do cán bộ ngân hàng làm sai nguyên tắc, ăn hối lộ như vụ Minh Phụng, Epco... 2.2.3. Xây dựng thị trường cổ phiếu Việc này làm tăng khả năng lưu thông và hoán chuyển của thương phiếu giảm rủi ro cho người bán chịu. Trong trường hợp người bán cần vốn, họ dễ dàng đem bán quyền sở hữu thương phiếu để lấy tiền trước thời hạn. Thông qua thị trường với sự cạnh tranh, thương phiếu được bán với giá cao nhất có thể nên nó khuyến khích được người kinh doanh. 2.2.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và báo cáo lại Nhờ hoạt động này, thông tin về doanh nghiệp tương đối đầy đủ và cập nhật, giúp khách hàng tránh rủi ro, góp phần ổn định kinh tế, xã hội. Tín dụng ngân hàng (TDNH) . 1. Thực trạng: Tín dụng ngân hàng là một lĩnh vực khá rộng, bao quát một không gian nhiều chiều (ngang, dọc; trên, dưới; trong, ngoài) của chính sách tiền tệ quốc gia. Hệ quả của hoạt động hệ tín dụng có quan hệ biện chứng với tiến trình vận hành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, và hội nhập thế giới. Xét về tầm quản lý vĩ mô, tín dụng là một phạm trù gắn chặt với xu hướng tạo tiền, sự tạo tiền này sẽ được xoá đi khi hoàn trả tín dụng đến hạn. Tất nhiên, trong một nền kinh tế phát triên mạnh thì thường xảy ra tình trạng còn đọng lại một lượng tiền nhất định trong lưu thông nên không kiểm soát được sẽ sinh ra lạm phát làm ảnh hưởng đến mặt bằng giá cả, gây phức tạp cho môi trường cạnh tranh. Nói hẹp về lĩnh vực tín dụng, hoạt động của tổ chức tín dụng là kinh doanh theo nguyên tắc “đi vay để cho vay” tức là xoay quanh vấn đề giữ vững thế cân bằng giữa “ đầu vào ” và “ đầu ra”. Một sự chệch khớp nào đó, từ chủ thể này hay chủ thể khác, bất kể xuất phát từ nguyên nhân nào đều tác động dây truyền đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Các NHTM khi cung ứng tín dụng cho khách hàng đều có thể gặp rủi ro từ hiện tượng người vay mất khả năng thanh toán hoặc ít nhất là do khoản tín dụng đó không được ho

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docL0767.doc
Tài liệu liên quan