Đề tài Một số biện pháp khắc phụ những lỗi sai thông thường khi viết và nói tiếng Anh

i) Trường hợp 8: Dùng tell thay vì say và ngược lại:

 

The Teacher said the student to stand up.

 

* Nhận xét: Cả hai động từ trên cùng có nghĩa là " nói ", nhưng cách dùng thì khác nhau. To say ( said/said ) có "to" theo sau dùng với thoai trực tiếp (direct speech ); còn to tell ( told/told ) không có "to" theo sau, dùng với thoại ngữ trực tiếp ( direct speech ) hoặc gián tiếp ( indirect speech ).

Ví dụ: - Peter said " I am feeling ill "

hay: Peter said to me " I am feeling ill "

- Peter told me " I am feeling ill "

hay: Peter told ( that ) he was feeling ill.

 

Câu đúng: The Teacher told the student to stand up.

 

 

doc10 trang | Chia sẻ: netpro | Ngày: 10/05/2013 | Lượt xem: 2851 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp khắc phụ những lỗi sai thông thường khi viết và nói tiếng Anh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Ngày nay, tiếng Anh là một ngôn ngữ phổ biến và thông dụng trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, tiếng Anh ngày càng được chú trọng và là một môn học gây được nhiều hứng thú đối với học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình học tiếng Anh, các em học sinh thường hay mắc các lỗi khi nói và viết. Những lỗi hay mắc phải do một số nguyên nhân như: thói quen, thiếu hiểu biết về văn phạm. Do đó giáo viên cần dạy cho học sinh hiểu đúng , thực hành đúng nhưng kiến thức nền tảng. Nếu không hiểu đúng ,thực hành đúng thì vốn tiếng Anh của các em không có tác dụng trong quá trình học tập. Từ viết đúng, nói đúng các em dễ phát triển các kĩ năng khác như nghe ,đọc ..... II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Việc dạy và học ngoại ngữ khác với các môn học khác là thời gian thực hành ở lớp cần nhiều sau mỗi phần bài mới . Trong thực tế, khi học tiếng Anh thì học sinh rất ít khi thực hành đúng ngay lần đầu và nhìn chung giáo viên khó có thể phát huy được đối tượng học sinh vì thường là học sinh trong một lớp đông, thời gian có hạn. Hơn nữa việc khắc phục sửa lỗi cho học sinh khi thực hành tại lớp mỗi giáo viên có những phương pháp khác nhau. Có người cho rằng không bao giờ để học sinh mắc lỗi,nếu mắc lỗi thì dừng lại và sửa chữa ngay cho học sinh,có người cho rằng phải liên tục sửa nhưng chỉ gợi ý hoặc có những người dùng phương pháp lấy chính học sinh sửa cho học sinh...Có rất nhiều phương pháp nhưng không phương pháp nào là vạn năng mà trong quá trình dạy học tiếng Anh phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau ứng với mỗi tình huống và nội dung khác nhau. Từ cơ sở lí luận và thực tiễn, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình tôi đã viết sáng kiến kinh nghiệm về " Một số biện pháp khắc phụ những lỗi sai thông thường khi viết và nói tiếng Anh" nhằm hỗ trợ cho bài giảng thêm phong phú, đa dạng và có chất lượng hơn,giúp các em học sinh khắc phục những lỗi sai thường gặp khi nói và viết tiếng Anh , tạo cho các em sự hứng thú và tự tin khi giao tiếp bằng tiếng Anh, củng cố thêm kiến thức ,góp phần giúp các em học tập tốt môn tiếng Anh. B-GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH: Trong nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy việc học tiếng Anh của học sinh là rất khó, học sinh thường hay mắc những lỗi trong lúc nói và viết tiếng Anh. Qua quá trình học và rèn luyện của học sinh, tôi chú ý lắng nghe cách học sinh sử dụng từ trong lúc nói và viết sau đó tôi chọn lọc các lỗi mà các em thường hay mắc phải. Tương tự như vậy tôi tiến hành ở nhiều lớp cũng với những câu và cấu trúc như nhau để tìm ra cách giải quyết từng lỗi một cách dễ nhớ nhất. Năm học 2010 - 2011 là năm học tiếp tục áp dụng phương pháp mới trong việc giảng dạy và soạn giảng, đã tạo cho học sinh cơ hội nói và diễn đạt nhiều, nên giúp cho tôi nhận thấy lỗi ở các em một cách dễ dàng hơn những năm trước và học sinh cũng có cơ hội tự sửa lỗi mình mắc phải ngay lập tức thông qua sửa lỗi của bạn hoặc bài tập thực hành ngay tại chỗ qua các hoạt động cặp nhóm. 1. Những lỗi học sinh mắc phải và cách giải quyết: - Nêu ra trường hợp mắc lỗi. - Nhận xét. - Cách giải quyết. a) Trường hợp 1: Dùng " you " thay vì " friend " và ngược lại: I am Peter. This is my you. * Nhận xét: Hầu hết các em học sinh lớp 6 thường nhầm lẫn "my you" là "bạn của tôi". Do các em chưa phân biệt được you là ngôi thứ hai - chỉ người nói chuyện trực tiếp với mình, còn friend là bạn - người không trực tiếp nói chuyện với mình. Câu đúng: I am Peter. This is my friend. * Cách giải quyết: Dùng bảng nhỏ hoặc hai tấm bìa viết hai từ you và friend, yêu cầu học sinh chọn you hay friend cho hai câu sau: His friend is nice. How are you ? b)Trường hợp 2: Dùng nhầm giữa động từ số ít và động từ số nhiều: Their daughter are from England. * Nhận xét: khi thấy their thì các em đã cho là số nhiều, vì vậy các em thường dùng động từ đi theo sau là số nhiều. Người giáo viên cần lưu ý cách sử dụng động từ theo sau là số ít hay số nhiều phụ thuộc vào danh từ đóng chức năng chủ ngữ của câu. Câu đúng: Their daughter is from England. * Cách giải quyết: Đưa ra các cụm từ hoặc từ sau để các em xác định danh từ hoặc cụm danh từ này là số nhiều hay số ít: -Daughter - Daughters -Their Daughter -Their Daughters -His Daughter -His Daughtes c) Trường hợp 3: Dùng nhầm in với on: The plane is flying on the sky. The boys are swimming on the river . * Nhận xét: Theo tiếng Việt của chúng ta là bay trên trời, đi hoặc chạy trên đường, nhưng trong tiếng Anh là: in the sky; in the river. Câu đúng: The plane is flying in the sky The boys are swimming in the river . * Cách giải quyết: Giáo viên chúng ta cần phải lưu ý cách nói và viết tiếng Anh cho học sinh khi sử dụng giới từ. * Phụ chú: Một số thành ngữ và cụm giới từ với in và on: + In short, in brief : Tóm lại In other words : Nói cách khác In one word : Nói tóm lại In all : Tổng cộng In general : Nói chung In particular : Nói riêng In the tree : Trên cây In the middle of : ở giữa In front of : ở phía trước + On the branch : Trên cành cây On the left : Bên trái On the right : Bên phải On the wall : Trên tường On the floor : Trên sàn nhà d) Trường hợp 4: Dùng nhầm o'clock thay vì hour và ngược lại: I always go to school at 7 hours . * Nhận xét: Cả hai từ trên đều có nghĩa là giờ, nhưng o'clock: là giờ đúng chỉ trên đồng hồ, còn hour : là khoảng thời gian. Câu đúng: I always go to school at 7 o'clock . * Cách giải quyết: Cho học sinh thực hành bài tập: Chọn True (T): đúng hoặc False (F): sai. (T) He works at 10 o'clock. (T) She works 3 hours a day (F) I do my homework 1 o'clock a day e). Trường hợp 5: Dùng nhầm make thay vì do và ngược lại: Tom did a ruler yesterday. * Nhận xét: " make " và " do " đều là hai động từ có nghĩa là: làm. To do: làm ( nói chung ), còn To make: làm ( tạo ra sản phẩm ). Câu đúng: Tom made a ruler yesterday. * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập chọn do hay make để điền vào ô trống: 1. Can you ............... the shopping ? 2. Please .................. a copy of this letter. 3. Don't ............... a noise. 4. My father and I ..................a boat. 5. I hope I ................. a lot of money. 6. He doesn't want to ................. his homework. 7. Wait ! I must ................. a phone call 8. You should .................. morning exercise * Phụ chú: Tuy nhiên do và make còn được dùng trong rất nhiều thành ngữ thông dụng, chúng ta cần phải học thuộc vì không dựa vào ngữ nghĩa và qui tắc nào cả. To make a mistake : phạm lỗi lầm To make a promise : hứa To make a speech : phát biểu To make an excuse : xin lỗi To make a noise : làm ồn To do evil ¹ To do good : làm điều ác ¹ thiện To do one's best : làm hết sức mình g) Trường hợp 6: Dùng after thay vì behind và ngược lại: He comes behind me The sun rises after the cloud * Nhận xét: Các em chưa phân biệt được hai giới từ đồng nghĩa: "sau". Thật sự cách dùng chúng khác nhau, after vừa có nghĩa là "đằng sau", vừa có nghĩa là "sau khi"; còn behind có nghĩa là " ở đằng sau " ( không hiểu theo thời gian ). Câu đúng: -He comes after me -The sun rises behind the cloud * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập: chọn after hay behind để điền vào chỗ trống thích hợp: - I arrive ..................he had left - Who's the girl standing ................Richard ? - A small street .................our house. - He got stronger...............his holidays. - The sun disappeared..................the cloud. - Your name comes................mine in the list. h) Trường hợp 7: Dùng hear thay vì listen và ngược lại: -Tôi nghe thấy ai đó cười. I listen to somebody laughing. - Tôi quá mệt để nghe bài học. I was too tired to hear the lesson. * Nhận xét: Hai động từ trên đều có nghĩa là "nghe". hear ( heard/ heard): nghe thấy (không cần chú ý ); còn listen ( listened/listened ): lắng nghe ( có chủ tâm chú ý ). Câu đúng: I hear somebody laughing. I was too tired to listen to the lesson. * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập: chọn hear hay listen điền vào chỗ trống thích hợp: - He.....................carefully. - Have you ever.....................that song sung in Italia ? - You're not ...................to what I'm saying. - I've only just ............about Jane's sickness. i) Trường hợp 8: Dùng tell thay vì say và ngược lại: The Teacher said the student to stand up. * Nhận xét: Cả hai động từ trên cùng có nghĩa là " nói ", nhưng cách dùng thì khác nhau. To say ( said/said ) có "to" theo sau dùng với thoai trực tiếp (direct speech ); còn to tell ( told/told ) không có "to" theo sau, dùng với thoại ngữ trực tiếp ( direct speech ) hoặc gián tiếp ( indirect speech ). Ví dụ: - Peter said " I am feeling ill " hay: Peter said to me " I am feeling ill " - Peter told me " I am feeling ill " hay: Peter told ( that ) he was feeling ill. Câu đúng: The Teacher told the student to stand up. * Phụ chú: " To say " dùng trong thoại ngữ trực tiêp với điều kiện không có túc từ theo sau. Ví dụ: Jane said (that) her parents were very well + Tell somebody Say somebody -Nếu trong câu trực tiếp, động từ tường thuật ( reporting verb ) là "say to" thì trong câu gián tiếp phải đổi thành " tell" ; còn " Say " thì không đổi. Ví dụ: She said to me " I met your brother yesterday " She told me that she had met my brother yesterday. -Nên quen thuộc với những thành ngữ dùng Say và tell . To say one's prayess : cầu nguyện To say a good word for :nói tốt về ( ai ) To say one's opinion : phát biểu ý kiến To tell the truth : nói sự thật To tell a lie : nói dối To tell a story : kể chuyện To tell secret : tiết lộ bí mật To tell the price : nói giá To tell one's name : xưng tên * Cách giải quyết: Cho học sinh thực hành bài tập: Chọn " Say " hoặc ”Tell " để điền vào chỗ trống: -.................me where you live. - I could ................. a thing or two about him. - The doctor ................ to me " Stay in bed a few days ". - I .............. Don't shout ". - She ............... that she was going to learn to drive. II. KẾT QUẢ: Sau một thời gian áp dụng sáng kiến vào việc giảng dạy, tôi đã tiếp tục tiến hành khảo sát, kiểm tra thực tế cho các học sinh trong việc áp dụng phương pháp trên trong năm học 2010-2011 tại các lớp 8A,9B . Kết quả cho thấy so với thực tế của năm học trước ( 2009-2010 ) tôi đã thấy các em có nhiều tiến bộ đáng khích lệ, các em học sinh đã biết tự nhận ra lỗi sai và tự sửa sai cho nhau một cách tự nhiên trước lớp. Số lượng học sinh khắc phục được lỗi tăng lên rõ rệt. Số liệu cụ thể được thể hiện ở các bảng sau: Năm học 2009 -2010 Lớp Sĩ số Số HS mắc lỗi Số HS khắc phục được lỗi 7A 34 15 7 8B 32 13 6 Năm học 2010 -2011 Lớp Sĩ số Số HS mắc lỗi Số HS khắc phục được lỗi 8A 34 10 8 9B 32 9 7 Với kết quả đã đạt được, tôi sẽ tiếp tục vận dụng sáng kiến này cho những năm học tiếp theo và hy vọng sẽ đạt được những kết quả khả quan hơn. III. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG: - Để tiến hành tốt "một số biện pháp khắc phục những lỗi sai thông thường khi viết và nói tiếng Anh" cần nghiên cứu các phương pháp tối ưu để giáo viên có thể áp dụng khi cho học sinh thực hành tại lớp có hiệu quả. - Nghiên cứu sửa lỗi sai về ngữ pháp khi nói và viết, chứ không nặng về cách phát âm và nét chữ vì để phát âm chuẩn thì đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài mới có được. - Tiến hành nghiên cứu và xem xét các trường hợp mắc lỗi tự nhiên của các em học sinh trong quá trình các em nói và viết tiếng Anh tại lớp. - Giáo viên : Tập hợp nhanh nhưng lỗi sai và tìm ra những phương pháp sửa lỗi phù hợp và hiệu quả nhất - Học sinh : Nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trong của bộ môn,tích cực thực hành giao tiếp cũng như trao đổi qua các bài viết . IV.BÀI HỌC KINH NGHIỆM: - Qua quá trình vận dụng " phương pháp sửa lỗi sai thông thường khi nói và viết tiếng Anh" tôi rút ra một số kinh nghiệm sau: - Giáo viên phải lựa chọn cách giải quyết phù hợp với mỗi câu ,cụm từ mà các em mắc phải . Chủ động điều khiển sửa lỗi nhanh, nếu không sẽ mất nhiều thời gian mà phần bài trên lớp chưa hết, nhiều học sinh khác không có cơ hội thực hành. - Động viên khuyến khích học sinh tập trung vào những gì học sinh đúng nhiều hơn chứ không thiên về những điều sai, chỉ nên lấy cái sai ra để so sánh và tránh lặp lại lỗi sai đó. - Tránh miệt thị học sinh làm học sinh cảm thấy việc đặt câu hoặc việc trả lời sai là việc rất tồi tệ. - Khích lệ những câu trả lời đúng của học sinh, thậm trí cả những câu chưa đúng hoàn toàn bằng những phương pháp này học sinh sẽ cảm thấy hiểu và đang hoàn thiện dần. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ I. KẾT LUẬN: Tiếng Anh cũng như các ngôn ngữ khác, việc viết và nói đúng ngữ pháp, dùng từ đúng là điều hết sức quan trọng, để người đọc, người nghe hiểu chính xác ý của người trình bày. Trên đây là một số trường hợp học sinh hay mắc lỗi khi viết và nói tiếng Anh mà trong quá trình giảng dạy tôi đã phát hiện ra. Tôi hy vọng sáng kiến nhỏ này sẽ góp phần giúp các em học sinh khắc phục được những lỗi thông thường khi viết và nói tiếng Anh, giúp các em học môn tiếng Anh đạt kết quả tốt hơn. Trong quá trình viết và vận dụng sáng kiến chắc chắn còn có những hạn chế và thiếu sót nhất định, tôi rất mong sự góp ý của thầy cô giáo và đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện hơn. II. KIẾN NGHỊ: Tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến và cần thiết trong cuộc sống hiện đại ngày nay, do đó nó là một môn học quan trọng đối với học sinh trung học cơ sở . Chính vì lẽ đó tôi hy vọng sự đầu tư và quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo ngành và Nhà nước trong việc trang bị cơ sở vật chất ( như máy nghe, phòng nghe nhìn, đồ dùng dạy học...) cũng như việc nâng cao trình độ chuyên môn cho các thầy cô giáo để giúp cho chúng tôi ngày càng hoàn thiện hơn, chất lượng giảng dạy môn Tiếng Anh được tốt hơn, mục đích cuối cùng là giúp cho các em học sinh học tốt hơn nữa cho môn Tiếng Anh . Mục lục A. Đặt vấn đề I. Cơ sở lí luận II. Cơ sở thực tiễn B.Giải quyết vấn đề I. Phương pháp nghiên cứu II.Kết quả III. Điều kiện áp dụng IV.Bài học kinh nghiệm C. Kết thúc vấn đề I.Kết luận II. Kiến nghị *********************

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCách dùng từ tiếng anh 11.doc
Tài liệu liên quan