Đề tài Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công cuộc đầu tư cho xóa đói giảm nghèo

Tạo điều kiện cho người nghèo có vốn để phát triển sản xuất bằng các biện pháp hỗ trợ tín dung (cho vay với lãi suất ưu đãi mà không cần thế chấp). Hiện nay vấn đề này đang trở thành bức thiết với mọi tầng lớp nông dân đặc biệt là nông dân nghèo. Trước đây những hộ nghèo để có vốn làm ăn thường phải đi vay từ khu vực phi chính thức với lãi suất cao, ngày nay nhờ có chính sách hỗ trợ từ chính phủ nên tỷ lệ này giảm rõ rệt, thay vào đó người nghèo đã biết tìm đến các tổ chức tín dụng hỗ trợ người nghèo để vay vốn.

 

Mở rộng công tác khuyến nông, hỗ trợ nông dân đưa kỹ thuật vào sản xuất. Đây chính là mấu chốt của vấn đề xoá đói giảm nghèo, nó quyết định tính hiệu quả của các chương trình tín dụng cũng như các chính sách hỗ trợ khác. Tổ chức lương thực thế giới FAO định nghĩa khuyến nông như sau:”Khuyến nông là dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân, giúp nông dân tự giải quyết vấn đề của nông hộ, phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập,cải thiện đời sống tinh thần và phát triển nông nghiệp nông thôn.” Như vậy khuyến nông rõ ràng góp phần nâng cao thu nhập giúp người dân xoá bỏ đói nghèo vươn lên làm giầu trên mảnh đất của mình. Việt Nam trong thời gian qua năng suất đạt 4.18 tấn / ha, tuy so với thế giới vẫn còn thấp (Trung Quốc 6,24tấn,Mỹ 6,96 tấn) nhưng vai trò của khuyến nông đã là rất lớn. Khuyến nông có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư thí điểm rồi nhân rộng, tổ chức phổ biến kiến thức và cách làm ăn cho từng nông hộ, đào tạo cán bộ khuyến nông cho từng xã.Công tác này lại đặc biệt có ý nghĩa với các hộ nông dân vùng sâu, vùng xa, nơi cách biệt tương đối với các khu vực khác. ở đây việc vay được vốn với nông dân đã là khó khăn nhưng nhiều khi vốn vay đựơc rồi mà không biết cách sử dụng, kết quả đã nông dân vẫn nghèo nay lại nghèo thêm vì nợ. Về công tác này trong thời gian qua các ngân hàng đã chưa quan tâm đúng mức, song bên cạnh đó phải kể đến các tổ chức phi chính phủ, là lực lượng có công rất lớn trong lĩnh vực này.

Phát triển đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn đặc biệt là những nghề truyền thống. Công tác này đồng nghĩa với đa dạng hoá thu nhập của nông dân tạo điều kiện cho nông dân tăng thu nhập từ đó tăng tích luỹ để đầu tư, góp phần tự vươn lên để xoá bỏ đói nghèo. Tình trạng chung của nông thôn Việt Nam trong thời gian qua là tỷ lệ thất nghiệp còn rất cao(năm 2001 là 29.12%,năm 2002 là 31.14%) đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo. Làm tốt được công tác này do vậy đóng một vai trò quan trọng vừa giảm tỷ lệ thất nghiệp vừa tăng thu nhập, vừa phát huy được tiềm lực của địa phương.

 

doc27 trang | Chia sẻ: lynhelie | Ngày: 08/03/2016 | Lượt xem: 265 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công cuộc đầu tư cho xóa đói giảm nghèo, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
triển kinh tế xã hội của đất nước. Công cuộc này không thể tiến hành trong thời gian ngắn, tuy nhiên lại không thể kéo dài vì như vậy sẽ làm người nghèo đánh mất nhiều cơ hội và ngày càng khó hoà nhập voi sự phát triển chung của đất nước.Đầu tư cho xoá đói giảm nghèo vì vậy được coi là một thách thức với Việt Nam trong tiến trình phát triển tiến tới hoà nhập với khu vực và thế giới. Những thành tựu chúng ta đã đạt được trong thời gian qua đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, đời sống của người dân đặc biệt là người nghèo đã được cải thiện, song trên thực tế để xoá bỏ đói nghèo đưa nông thôn theo kịp thành thị, vùng núi tiến kịp miền xuối còn là vấn đề hết sức khó khăn. Để làm được điều đó không có cách nào khác là đầu tư hơn nữa cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo trong thời gian tới. Làm được điều đó tức là chúng ta đã tạo được nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong tương lai, sự phát triển dựa trên sự cân đối và bình đẳng giữa các thành phần, các khu vực trong nền kinh tế. Đây còn là vấn đề chiến lược, một chương trình lớn của quốc gia, phục vụ rất hữu ích cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho việc thực hiện mục tiêu “dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh “. Nó thể hiện sâu sắc quan điểm nhân văn tất cả vì con người của chủ tịch Hồ Chí Minh: ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành, được sống vui tươi hạnh phúc. Phần hai Tình hình thực hiện đầu tư cho xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam trong thời gian qua Bối cảnh nông thôn Việt Nam sau khi chính phủ phát động chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo: Tình trạng đói nghèo: Bước vào thập niên 90, Việt Nam còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Chỉ tiêu kinh tế bình quân đầu người rất thấp, tỷ lệ người đói người nghèo cao. Hơn 90% hộ nghèo sống ở nông thôn dựa vào sản xuất thuần nông quy mô nhỏ và lạc hậu. Tỷ lệ này lại đặc biệt cao ở các vùng sâu, vùng xa, theo Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội tỷ lệ đói nghèo tại những vùng này bình quân là 40% có nơi lên tới 60%. Tính chung trong cả nước tỷ lệ người nghèo chiếm tới 28% trong đó tỷ lệ đói và đói gay gắt chiếm từ 6 – 8%. Sau gần 10 năm thực hiện chương trình đầu tư cho xoá đói giảm nghèo chúng ta đã làm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo trong cả nước: Từ 28% năm 1996 xuống 22,87% năm 1998, 20,3% năm 1995 và 11.8% năm 2004. Đây là kết quả rất đáng được khích lệ. Tuy nhiên nông thôn vẫn còn nghèo, điều đó được thể hiện qua bảng số liệu sau: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn qua các năm (%): 1997 1998 1999 2000 2003 2004 Khu vực nông thôn 22,14 20.19 18.62 17.73 15.96 14.3 Vùng núi và trung du bắc bộ 27,47 25.97 23.99 22.58 19.77 17.9 Đồng bằng sông Hồng 15.68 13.72 11.44 10.09 6.65 7.3 Duyên hải Nam trung bộ 19.64 18.35 17.16 16.58 16.43 15.8 Tây nguyên 34.68 32.53 30.50 28.52 26.57 25.0 Đông nam bộ 13.90 12.36 11.38 10.71 7.43 6.2 Đồng bằng sông Cửu Long 18.48 17.27 15.40 14.39 11.74 9.9 (Thời báo kinh tế Việt Nam - số 133 - 6/11/2004) Trên đây chỉ là con số cơ bản nhất phản ánh tình trạng đói nghèo ở nông thôn còn cụ thể cơ cấu sự đói nghèo này so với trước đây đã có nhiều thay đổi. Tình trạng đói lương thực vẫn còn tuy không gay gắt nhưng vẫn rất đáng kể: 300.000 hộ đói chiếm 2% trong tổng số hộ đói nghèo. Tiếp đến là các phương tiện sinh hoạt tối thiểu như nhà ở, điện, nước sạch cho sinh hoạt, giao thông, thông tin liên lạc...vẫn còn hết sức thiếu thốn.Hiện nay trong cả nước vẫn còn hơn 8 nghìn hộ không có nhà ở, 3,5 triệu hộ không có điện thắp sáng (chiếm 27.5%), số hộ có nước máy để dùng cho sinh hoạt rất hạn chế chiếm 1.9% tổng số hộ nông thôn, còn lại là dùng các nguồn nước khác như nước mưa, nước giếng...Riêng về cơ sở hạ tầng cơ bản như: điện, đường, trường, trạm...vẫn còn là thách thức lớn cho xoá đói giảm nghèo ở nông thôn đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa. Đầu tháng 6/ 2003 chính phủ đã tổng kết lại tình trạng này và cho biết hiện nay chúng ta vẫn còn 1715 xã đặc biệt nghèo đói trong đó có 1168 xã chưa có hệ thống cơ sở hạ tầng tối thiểu không có đường giao thông vào đến trung tâm xã. Như vậy có thể tổng kết lại nông thôn Việt Nam kể từ sau khi có chủ trương xoá đói giảm nghèo của chính phủ dù đã có những chuyển biến rất tích cực song vẫn còn nghèo. Để chống lại đói nghèo, giảm bớt sự nghèo khổ cần phải nhận diện được những đặc điểm và nguyên nhân của nó, từ đó có những chính sách hợp lí và kịp thời hơn nhanh chóng tiến đến mục tiêu xoá bỏ đói nghèo. Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo ở nông thôn Việt Nam: Có nhiều ý kiến khắc nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của đói nghèo. Trên thực tế không có nguyên nhân nào độc lập riêng rẽ mà nó tồn tại đan xen nhau, thâm nhập vào nhau để tạo nên đói nghèo trong đó có cả nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, có cả yếu tố cơ bản lâu dài lẫn yếu tố bất ngờ...Có thể đưa những nguyên nhân này vào những nhóm sau: Nhóm một: nguyên nhân chủ quan Là những nguyên nhân do bản thân người lao động, phổ biến như: không có kinh nghiệm làm ăn, thiếu hoặc không có vốn, đông con, ít lao động, đau ốm, lười lao động. Nhóm hai: những nguyên nhân khách quan: Gồm nguyên nhân về mặt tự nhiên như ít đất canh tác, đất cằn cỗi bạc mầu..thời tiết khí hậu không thuận lợi, điều kiện địa lí làm ngăn cách cản trở sự tiếp cận với những khu vực phát triển hơn.Và những nguyên nhân về mặt xã hội như xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức khuyến nông, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức của nông dân...đã đảm bảo hay chưa? Nhóm ba: do thiếu thị trường: Đây là nguyên nhân đặc biệt có thể tìm thấy nó trong những nguyên nhân khác như xa xôi hẻo lánh không có đường giao thông thì không có thị trường..Đây là một nguyên nhân quan trọng cho dù nó luôn ở dưới dạng tiềm ẩn và với trình độ của người nghèo thì không dễ gì nhận ra được. Tuy nhiên nó lại trùng hợp với quan điểm của Đảng về xoá bỏ đói nghèo giúp người dân tự vươn lên vượt qua đói nghèo để tự cứu mình.Tức là cần phải có thị trường để cung cấp vật tư nông nghiệp cho nông dân cũng là để nông dân có tiêu thụ sản phẩm một cách thoả đáng hơn. Ngoài ra cũng phải kể đến những nguyên nhân như bão,lũ, thiên tai, mất mùa,dịch bệnh.. Đặc điểm sự phát sinh và diễn biến đói nghèo ở nông thôn: Từ thực trạng đói nghèo trong thời gian qua như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận bước đầu vế sự phát sinh và diễn biến của đói nghèo ở Việt Nam như sau: Thứ nhất: hầu hết các hộ đói nghèo là những hộ thuần nông, độc canh cây lúa, tự cung tự cấp, thiếu việc làm ngoài nông nghiệp. Thứ hai: Đói nghèo ở nông thôn nước ta có quan hệ và là hậu quả của thiên tai, của điều kiện bất lợi về tự nhiên, của chiến tranh.. Thứ ba: hộ nghèo ở nước ta tuy thiếu thốn về đất canh tác,về tư liệu sản xuất..song không phải là người nông dân bị bần cùng hoá, bị tước đoạt tư liệu sản xuất như trong chế độ cũ. Do vậy nếu nỗ lực cùng với được sự quan tâm giúp đỡ của chính phủ thì các hộ nông dân nghèo hoàn toàn có khả năng để vươn lên thoát khỏi đói nghèo. Thứ tư: đây là hiện tượng có xu thế thay đổi theo thời gian. Do vậy với từng thời kì phải có những thước đo riêng, những giải pháp riêng đốivới vấn đề này. 2. Tình hình đầu tư xoá đói giảm nghèo thời gian qua: Tình hình chung: Kể từ sau khi có chủ chương của Đảng (năm 1996), công tác xoá đói giảm nghèo đã được triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh, nhất là ở các tỉnh nghèo, các tỉnh vùng sâu vùng xa, đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ và đạt được kết quả đáng khích lệ. Đại hội Đảng 9 vừa qua đã tổng kết tình hình đầu tư xoá đói giảm nghèo đã thực hiện như sau: tổng nguồn vốn đầu tư của nhà nước thông qua các chương trình quốc gia liên quan đến mục tiêu xoá đói giảm nghèo là 21.000 tỷ đồng, bên cạnh đó nhà nước tập trung đầu tư thêm cơ sở hạ tầng cho các khu vực đặc biệt khó khăn với số vốn lên tới 2000 tỷ đồng, tập trung chủ yếu trong hai năm qua (2003, 2004). Nguồn vốn này được huy động thông qua các kênh chủ yếu sau: Huy động từ ngân sách địa phương: chiếm tỷ trọng từ 1 – 2% tổng thu ngân sách hàng năm, có nơi trích ngân sách ở cả 3 cấp: tỉnh, huỵện, xã. Đây là một nguồn huy động lớn cho quĩ xoá đói giảm nghèo ở địa phương, nguồn vốn này cũng tạo điều kiện cho các địa phương sử dụng một cách linh hoạt tuỳ theo đặc điểm địa phương mình, ví dụ như như dùng quỹ này để bù cho chênh lệch lãi suất cho vay bình thường của ngân hàng với lãi suất ưu đãi cho người nghèo, nhằm tạo điều kiện cho người nghèo có vốn để phát triển sản xuất, Hà Bắc là địa phương đi đầu trong phong trào này. Huy động từ ngân hàng: Nguồn vốn này dành cho các hộ nghèo vay với lãi suất ưu đãi, chủ yếu huy động từ các ngân hàng như Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng công thương, Ngân hàng nông nghiệp, đặc biệt là Ngân hàng phục vụ người nghèo, ngoài ra các ngân hàng thương mại cổ phần cũng khuyến khích tham gia. Đây là nguồn vốn rất có ý nghĩa không chỉ với công cuộc xoá đói giảm nghèo mà hơn nữa còn giúp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung, tạo cơ sở vững chắc để xoá bỏ đói nghèo. Theo số liệu thống kê của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn(NHNN&PTNT) cho tới thời điểm tháng tám năm 2004 dư nợ cho vay ở khu vực nông thôn đã tăng 10.339 tỷ, chủ yếu là cho hộ nông dân vay để hỗ trợ sản xuất. Đạt được kết quả này là do NHNN&PTNT đã mạnh dạn cho vay 10 triệu với hộ gia đình mà không cần thế chấp. Đây được xem là biện pháp thông thoáng nhất tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận tín dụng để phát triển sản xuất. Nguồn vốn từ các tổ chức đoàn thể xã hội, hội nghề nghiệp: Đây được coi là thế mạnh của Việt Nam, các hội đều có trách nhiệm với hội viên của mình trong việc chăm lo cho đời sống kinh tế, huy động vốn từ các hội viên để cho các hộ nghèo vay. Một số hội đi đầu trong phong trào này phải kể đến như hội phụ nữ, hội cựu triến binh, đoàn thanh niên... Nguồn này không chỉ có ý nghĩa về vấn giải quyết vốn mà còn tạo điều kiện cho các hô nông dân đặc biệt là những hộ nghèo học tập kinh nghiệm sản xuất học cách làm ăn từ các hộ khá hơn. Huy động từ các nguồn hợp tác quốc tế: đây là nguồn vốn quan trọng, đóng vai trò to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Nguồn vốn này thường là vốn tín dụng ưu đãi hoặc viện trợ không hoàn lại, đặc biệt phải kể đến sự hỗ trợ về kỹ thuật của các chuyên gia để các nguồn vốn trên phát huy hết hiệu quả. Các tổ chức trong thời gian qua đã đầu tư hỗ trợ cho Việt Nam trong chương trình này gồm cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, đặc biệt như nhóm “ Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) “ gồm các tổ chức như FAO, UNDP, UNICEF, SIDA, WB, ADB, JICA, JBIC..và nhiều tổ chức khác. Trong thời gian qua các tổ chức này đã cam kết tài trợ cho chương trình xoá đói giảm nghèo lưọng vốn lên tới 13 tỷ $, trong đó đã kí thành các điều ước quốc tế khoảng 10.650 triệu $. Các tổ chức này thường làm việc với các bộ, ngành, trung ương, sau đó vốn được chuyển về các địa phương thông qua các chương trình hợp tác với chính phủ Việt Nam. Nguồn vốn trên đồng thời thực hiện lồng ghép với các chương trình khác của chính phủ được tập trung vào hai nhóm cơ bản sau: Đầu tư phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề xoá đói giảm nghèo, cụ thể như đầu tư cho cơ sở hạ tầng cơ bản ở nông thôn, đặc biệt là ở các vùng nghèo, các vùng sâu, vùng xa. Trước hết là trương trình đầu tư kết cấu hạ tầng cho các xã nghèo. Trước 2002 chúng ta tập chung cho 1309 xã yếu kém hoặc chưa có kết cấu hạ tầng(chiếm 15% tổng số xã), nhất là đường giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, y tế xã. Nhà nước đã huy động 4.237.3 tỷ đồng trong đó đầu tư cho một xã mất tối thiểu 3,27 tỷ đồng. Số vốn này được cơ cấu như sau: 50% từ nhà nước và các tổ chức quốc tế, 25% từ nhân dân chủ yếu được tính bằng ngày công, còn lại 25% vay vốn từ các chương trình quốc gia khác.Tiếp theo chương trình này, tháng 6/2003 chính phủ lại tiếp tục tập trung vốn cho chương trình 135 đầu tư cơ sở hạ tầng(điện, đường, trường, trạm..) cho 1715 xã đặc biệt khó khăn. Đây là một chương trình lớn mang tính quốc gia, nó được thực hiện trên nguyên tắc “ xã có công trình, dân có việc làm, dân có thu nhập”. Vốn thực hiện chương trình này chủ yếu là vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước, ngoài ra còn huy động từ ngân sách địa phương và vốn góp bằng ngày công của dân. Ngoài ra Bộ KHĐT còn tiến hành vay vốn từ các tổ chức quốc tế (năm 2004 đã tiến hành vay từ WB 200 triệu $, từ ADB 40 triệu $) cho một số tỉnh khó khăn, nơi nào nhận vốn từ các nguồn này thì thôi không nhận vốn từ chương trình 135 nữa, như vậy sẽ có nhiều vốn hơn cho các xã nghèo khác. Cơ cấu đầu tư chương trình 135(%) 1 2 3 4 5 6 7 8 Giao thông Thuỷ lợi Nước sinh hoạt Trạm y tế Chợ Khác Trường Điện 47 16.9 0.85 5.24 0.76 0.17 21.56 7.52 Bên cạnh việc đầu tư trực tiếp cho các xã nghèo,chủ trương phát triển nông nghiệp và nông thôn của nhà nước cũng một cách gián tiếp cũng góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, giúp người nông dân vươn lên làm chủ cuộc sống thoát khỏi đói nghèo. Đầu tư trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo tự vượt nghèo để phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn, hỗ trợ cách thức làm ăn, trợ giúp kịp thời khi gặp thiên tai, dịch bệnh. Đây được coi là nội dung trọng yếu của công tác xoá đói giảm nghèo do nó tác động trực tiếp và thường xuyên nhất đến các hộ trong diện này. Trong thời gian qua chúng ta đã tiến hành đầu tư dưới những hình thức như sau: Tạo điều kiện cho người nghèo có vốn để phát triển sản xuất bằng các biện pháp hỗ trợ tín dung (cho vay với lãi suất ưu đãi mà không cần thế chấp). Hiện nay vấn đề này đang trở thành bức thiết với mọi tầng lớp nông dân đặc biệt là nông dân nghèo. Trước đây những hộ nghèo để có vốn làm ăn thường phải đi vay từ khu vực phi chính thức với lãi suất cao, ngày nay nhờ có chính sách hỗ trợ từ chính phủ nên tỷ lệ này giảm rõ rệt, thay vào đó người nghèo đã biết tìm đến các tổ chức tín dụng hỗ trợ người nghèo để vay vốn. Mở rộng công tác khuyến nông, hỗ trợ nông dân đưa kỹ thuật vào sản xuất. Đây chính là mấu chốt của vấn đề xoá đói giảm nghèo, nó quyết định tính hiệu quả của các chương trình tín dụng cũng như các chính sách hỗ trợ khác. Tổ chức lương thực thế giới FAO định nghĩa khuyến nông như sau:”Khuyến nông là dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân, giúp nông dân tự giải quyết vấn đề của nông hộ, phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập,cải thiện đời sống tinh thần và phát triển nông nghiệp nông thôn.” Như vậy khuyến nông rõ ràng góp phần nâng cao thu nhập giúp người dân xoá bỏ đói nghèo vươn lên làm giầu trên mảnh đất của mình. Việt Nam trong thời gian qua năng suất đạt 4.18 tấn / ha, tuy so với thế giới vẫn còn thấp (Trung Quốc 6,24tấn,Mỹ 6,96 tấn) nhưng vai trò của khuyến nông đã là rất lớn. Khuyến nông có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư thí điểm rồi nhân rộng, tổ chức phổ biến kiến thức và cách làm ăn cho từng nông hộ, đào tạo cán bộ khuyến nông cho từng xã..Công tác này lại đặc biệt có ý nghĩa với các hộ nông dân vùng sâu, vùng xa, nơi cách biệt tương đối với các khu vực khác. ở đây việc vay được vốn với nông dân đã là khó khăn nhưng nhiều khi vốn vay đựơc rồi mà không biết cách sử dụng, kết quả đã nông dân vẫn nghèo nay lại nghèo thêm vì nợ. Về công tác này trong thời gian qua các ngân hàng đã chưa quan tâm đúng mức, song bên cạnh đó phải kể đến các tổ chức phi chính phủ, là lực lượng có công rất lớn trong lĩnh vực này. Phát triển đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn đặc biệt là những nghề truyền thống. Công tác này đồng nghĩa với đa dạng hoá thu nhập của nông dân tạo điều kiện cho nông dân tăng thu nhập từ đó tăng tích luỹ để đầu tư, góp phần tự vươn lên để xoá bỏ đói nghèo. Tình trạng chung của nông thôn Việt Nam trong thời gian qua là tỷ lệ thất nghiệp còn rất cao(năm 2001 là 29.12%,năm 2002 là 31.14%) đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo. Làm tốt được công tác này do vậy đóng một vai trò quan trọng vừa giảm tỷ lệ thất nghiệp vừa tăng thu nhập, vừa phát huy được tiềm lực của địa phương. Hoạt động cuối cùng không thể không kể đến trong nội dung của đầu tư cho xoá đói giảm nghèo là các hoạt động hỗ trợ kịp thời của chính phủ cho các hộ đặc biệt khó khăn, tránh tình trạng các hộ sống ở những khuvực có điều kiện tự nhiên hoặc kinh tế xã hội quá khắc nghiệt rơi vào tình trạng đói lương thực. Miền Trung là một điển hình cho khu vực có tỷ lệ nghèo đói cao do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.Trong thời gían gần đây Miền Trung liên tục gánh chịu bão lụt làm sức dân suy kiệt, an ninh lương thực thường xuyên bị đe doạ. Chính phủ đã đầu tư từ nguồn vốn quốc gia cho xoá đói giảm nghèo cùng các nguồn vốn của địa phương và đóng góp của nhân dân cả nước với tổng số tiền lên tới gần 1000 tỷ đồng để hỗ trợ cho khu vực này khôi phục cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực một cách bền vững. Một số chường trình đầu tư cho xoá đói giảm nghèo điểm hình trong thời gian qua Tình hình đầu tư cho xoá đói giảm nghèo ở nông thôn về cơ bản như đã được trình bầy ở trên, cụ thể nó bao gồm rất nhiều chương trình và dự án nhỏ ở từng địa phương, trong từng thời kỳ khác nhau. Dưới đây là một số chương trình mang tính chất minh hoạ. Chương trình đầu tư trực tiếp của chính phủ: Chính phủ được xem là đối tác quan trọng nhất trong công cuộc đầu tư cho xóa đói giảm nghèo. Các chương trình mà chính phủ đã tiến hành trong thời gian qua rất rộng lớn, ở đây xin được đơn cử một dự án nhỏ thuộc chương trình 135 để minh hoạ: “chương trình 135 ở Hà Giang “. Tỉnh Hà Giang có 191 xã, phường, thị trấn, là vùng có địa hình cao, phức tạp, bị chia cắt, có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt. Được sự quan tâm của Đảng Nhà nước, năm 2003 Trung ương đã đầu tư cho 120 xã thuộc 8 huyện, trong đó có 117 xã thuộc diện 135, với tổng số vốn là 47.150 triệu đồng và 1200 triệu đầu tư thêm cho 3 xã biên phòng. Năm 2004 lại tiếp tục đầu tư thêm 51.200 triệu cho 128/191 xã thuộc 9 huyện (vẫn với nguồn kinh phí 135). Trong hai năm qua, với sự nỗ lực của Ban quản lí Dự án, của nhân dân các dân tộc trên các địa bàn khó khăn này, cùng với sự trợ giúp của trung ương và các bộ ngành chương trình đã đạt được những kết quả khá tốt. Cụ thể: đã đầu tư xây dựng được 627 công trình với tổng kinh phí là 99.550 triệu. Chủ yếu tập trung vào các công trình sau: giao thông (178), thuỷ lợi (158), trường học và nhà lưu trú(151), trạm xá (21), điện (14), nước sinh hoạt(77), trụ sở UBNN xã (99), chự (9). Các công trình hoàn thành đã phục vụ thiết thực cho sản xuất và đời sống ở các xã đặc biệt khó khăn. Công trình thuỷ lợi hoàn thành đưa vào sử dụng nâng diện tích tưới tiêu tăng thêm 1293,7 ha ;xây dựng thêm 130 km đường dân sinh, đảm bảo 100% sấ xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 11.465m^2 trường học đưa vào sử dụng cho năm học mới 2003 – 2004; giải quyết nước ăn cho 8000 hộ gia đình vùng cao. Để đạt được kế quả trên ngay từ đầu khi triển khai kế hoạch, tỉnh đã chú trọng lồng ghép các dự án, các chương trình khác với chương trình 135 như chương trình “trung tâm cụm xã”, chương trình bổ sung cho các xã biên giới, dự án SIDA..đồng thời huy động vốn bổ sung từ nguồn vốn dự phòng ngân sách tỉnh,vốn xây dựng cơ bản. Tổng số vốn đầu tư lồng ghép trong hai năm qua lên tới 178.548 triệu đồng. Bên cạnh việc xây dựng các công trình hạ tầng cơ bản còn đầu tư hỗ trợ về giống (lúa, ngô, con..)cho các hộ gia đình bằng cách bán giá ưu đãi (60% hoặc 70% giá bán), hỗ trợ lãi suất cho vay với các hộ để tự tăng gia sản xuất. Chương trình còn mở các lớp đào tạo, tập huấn cho cán bộ xã, cán bộ các ngành có liên quan để tăng cường phát huy vai trò nòng cốt, chủ động trong các phương án. Đến nay tỉnh đã đạt được mục tiêu đề ra năm 2004 giảm số hộ nghèo xuống 20%, không còn hộ đói kinh niên. Kinh nghiệm của huyện trong trương trình này chính là thực hiện theo nguyên tắc:”dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa các chương trình lồng ghép, giữa các cấp các ngành để giám sát và kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc, thường xuyên duy trì phong trào thi đua quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của chương trình. Chương trình hợp tác với các tổ chức quốc tế: như chúng ta đã biết các tổ chức quốc tế đóng vai trò không kém phần quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam, nó có ý nghĩa không chỉ về vốn mà còn ở chỗ nó mở ra cho người nghèo một cung cách làm ăn mới hiệu quả hơn. Một tổ chức điển hình trong số này xin được lấy làm minh hoạ là “ Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP)”. UNDP được biết đến trước tiên với vai trò một nhà tư vấn cho chính phủ về chiến lược xoá đói giảm nghèo bằng cách cùng một nhóm các nhà tư vấn khác trong nhóm CG điều tra khảo sát mức sống dân cư ViệtNam sau đó tiến hành đánh giá hiệu quả các chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ góp ý kiến và gợi ý cho chiến lược quốc gia về xoá đói giảm nghèo trong những giai đoạn tiếp theo. Để làm được điều đó UNDP đã tiến hành những dự án mang tính trình diễn vừa nhằm có những hỗ trợ đúng đắn cho chính sách của chính phủ, vừa cung cấp cho chính quyền địa phương cũng như các cộng đồng người nghèo những công cụ và sự trợ giúp để thực hiện những phương thức tiếp cận mới nhằm khắc phục tình trạng nghèo đói. Trong năm 2003, ngay sau khi có chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và chương trình 1715 xã nghèo nhất (còn gọi là chương trình 133 và 135) phòng Phát triển Xã hội (SDU) thuộc văn phòng của UNDP đã khuyến khích sáu dứ án xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Quảng Bình,Quảng Trị, Trà Vinh và Bến Tre. Các dự án này tập trung tăng cường và hỗ trợ năng lực ở các xã nghèo nhất, đồng thời hỗ trợ các địa phương thực hiện có hiệu quả chương trình 133 và 135 của chính phủ. Tổng chi tiêu của UNDP trong năm 2002 là 17,4 triệu $ ; năm 2003 là 17,5 triệu $. Trong đó đầu tư cho phát triển xã hội và xoá đói giảm nghèo chiếm tỷ trọng như sau: Lĩnh vực phân bổ Năm 2002 % Năm 2003 % 1 Phát triển xã hội và xoá đói giảm nghèo 36 (6,3 triệu $) 34(6,0 triệu $) 2 Quản lí quốc gia 38 40 3 Môi trường và giảm nhẹ thiên tai 15 18 4 Các hoạt động hỗ trợ khác 11 8 Năm 2002 (hình 1) Năm 2003(hình 2) Một số vấn đề còn tồn tại: Nhìn chung bộ mặt nông thôn sau khi có chính sách quốc gia về xoá đói giảm nghèo đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ dân cư nông thôn sống trong tình trang đói nghèo hoặc khả năng bị tái nghèo còn rất lớn. Tình trạng trên có thể do nhiều nguyên nhân khắc nhau, song một trong những nguyên nhân đó phát sinh là trong quá trình thực hiện chủ chương của chính phủ còn có nhiều điều bất cập, chưa phát huy được hết tính ưu việt của chương trình. Chính quyền địa phương và các cấp các ngành được phân công xây dựng các công trình cũng như hỗ trợ nông dân nghèo trong việc xoá bỏ đói nghèo cần phải thực hiện đúng nguyên tắc mà chính phủ đã đề ra nhằm đảm bảo chương trình đạt kết quả cao nhất. Trong xây dựng cơ sở hạ tầng còn nhiều công trình chưa được thi công đúng tiến độ, còn lãng phí, đặc biệt chưa thực hiện đúng phường trâm của Đảng: tạo thêm việt làm và thu nhập cho dân từ công trình. Trong thưòi gian qua, đặc biệt là sau chương trình 135 của chính phủ một loạt các công ti xây dựng ra đời và phát triển mạnh nhờ nhận thầu các công trình 135. Đây có thể là vấn đề tích cực trên một khía cạnh nào đó, song vẫn nên để người dân trực tiếp tham gia xây dựng công trình của mình, có như vậy họ mới biết yêu quý và trân trọng nó, mặt khác lại có thêm thu nhập. Trong thực thi các chính sách ưu đãi về tín dụng cũng còn nhiều hạn chế. Mặc dù về lí thuyết các ưu đãi này đã rất thông thoáng và thuận lợi cho người nghèo tiếp cận để phát triển sản xuất, song trên thực tế còn vô vàn khó khăn nhất là về thủ tục. Điều này đã tạo tâm lí ngại và sợ khi đến ngân hàng vay vốn, làm chính sách của chính phủ kém hiệu quả hơn. Trong công tác khuyến nông cũng còn nhiều thiếu sót thậm chí còn chưa có được vai trò quan trọng như nó cần phải có. Những thiếu sót này cùng tất cả các nguyên nhân khác làm cho tình trạng đói nghèo ở Việt Nam còn chậm được cải thiện đều cần được xem xét nghiêm túc từ đó có nhũng giải pháp kịp thời và hiệu quả hơn. Dựới đây tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nhóm giải pháp trên cơ sở phương hướng chung của Đảng về vấn đề này cũng như những thành công và hạn chế của chương trình trong thời gian qua. Phần ba Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công cuộc đầu tư cho xoá đói giảm nghèo trong thời gian tới Phưong hướng chung của Đảng: Trong nghị quyết Đại Hội Đảng 9 vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từ năm 2005- 2010 như sau “ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá...Tạo nhiều việc làm, cơ bản xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân..” Trong đó nhấn mạnh mục tiêu xoá bỏ hộ đói, giảm hộ nghèo xuồng 10% vào năm 2005. Để thực hiện mục tiêu đó cần có những kế hoặch, chính sách, cơ chế và những biện pháp cụ thể vừa đảm bảo tính đúng đắn vừa đem lại hiệu quả cao. Nhằm đạt được điều đó Đản

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV0346.doc
Tài liệu liên quan