Đề tài Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân – nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân trong ngành tư pháp

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1.Tính cấp bách của đề tài 1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài. 1

3. Cơ sở và phương pháp nghiên cứu đề tài: 2

PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT. 3

I. Khái niệm chung về khiếu nại, tố cáo. 3

1. Khái niệm khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo. 3

2. Khái niệm tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. 3

II. Mục đích, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. 3

III. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Nhà nước. 4

1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại. 5

2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo. 6

IV. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếunại, tố cáo thuộc thẩm quyền. 6

1. Trình tự giải quyết khiếu nại. 6

2. Trình tự giải quyết tố cáo. 8

PHẦN II: CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN TRÊN CẢ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA 10

I. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng công dân đi khiếu nại, tố cáo 10

II. Những kết quả đã đạt được 10

III. Những tồn tại 12

PHẦN III: NGHIỆP VỤ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA NGÀNH TƯ PHÁP. 14

I. Những quy định chung 14

II. Tiếp nhận, xử lý ban đầu đơn khiếu nại, tố cáo. 15

1. Nguồn đơn gửi đến 15

2. Tiếp nhận đơn 15

3. Phân loại đơn, đăng ký vào sổ theo dõi và sổ thụ lý. 16

4. Các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết. 17

5. Các trường hợp tố cáo không xem xét giải quyết. 18

II. Nghiên cứu đơn. 18

III. Xử lý, giải quyết đơn. 18

1. Đơn khiếu nại. 18

1.1. Các đơn thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng. 18

1.2. Các đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các đơn vị thuộc Bộ. 22

1.3. Các đơn thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp địa phương. 22

1.4. Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức. 23

1.5. Thẩm quyền của Chánh Thanh tra trong việc chấp nhận và xử lý khiếu nại. 24

IV. Đơn tố cáo. 24

1. Xử lý đơn tố cáo. 24

2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo. 25

3. Thời hạn thụ lý, giải quyết tố cáo và hồ sơ giải quyết tố cáo 27

V. Thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo 29

VI. Hình thức thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo: 29

VII. Nội dung việc thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo: 30

VIII. Các bước tiến hành thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo: 30

IX. Phân tích, tổng hợp tình hình, viết dự thảo báo cáo kết quả thanh tra. 32

PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

I.KẾT LUẬN 35

II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ: 35

1. Kiến nghị đối với Nhà nước 35

2. Kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ Nội vụ và Thanh tra Chính phủ. 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

 

 

doc39 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/01/2014 | Lượt xem: 10148 | Lượt tải: 102download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân – nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân trong ngành tư pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vai trò trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của các cán bộ làm công tác tiếp dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân. Song song với việc ban hành các văn bản pháp quy về công tác này nhà nước ta cũng đã quan tâm hơn đến công tác tiếp công dân bằng cách trích nguồn kinh phí đáng kế cho hoạt động xây dựng công sở, mua sắm các trang thiết bị (Bàn ghế làm việc, quạt điện….) cho phòng tiếp công dân, cơ sở vật chất dành cho công tác này so với trước đây có sự quan tâm hơn, tiến bộ hơn. Nhận thức của cán bộ làm công tác tiếp dân giải quyết đơn thư Khiếu nại, tố cáo ngày càng nâng cao, chế độ đãi ngộ có phần ưu đãi, nên họ yên tâm, ổn định trong công tác. Công tác giải quyết đơn thư Khiếu nại, tố cáo của công dân được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo từ trung ương đến địa phương. Các cơ quan hành chính nhà nước đã có chuyển biến rõ rệt, tỉ lệ giải quyết đơn thư Khiếu nại, tố cáo của công dân đạt được hiệu quả cao hơn số đơn thư Khiếu nại, tố cáo vượt cấp giảm, các “điểm nóng” về Khiếu nại tố cáo không còn nhiều. Nhờ làm tốt công tác tiếp công dân và giải quyết Khiếu nại, tố cáo của công dân nên hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước nâng lên, niềm tin của nhân dân về Đảng về công cuộc đổi mới đất nước ngày càng tăng. III. Những tồn tại Mặc dù đã được cải thiện đáng kể cơ sở vật chất nhưng nhiều đơn vị, cơ quan, địa phương vẫn chưa bố trí được phòng tiếp công dân, để tạo điều kiện cho công dân phản ánh kiến nghị, Khiếu nại, tố cáo. Tình trạng bố trí phòng tiếp công dân kiêm phòng làm việc vẫn còn. Nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương không trang bị hoặc trang bị quá sơ sài cho phòng tiếp công dân gây tâm lý, thái độ không hài lòng cho người dân. Vẫn còn tình trạng thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương bố chí chưa đủ ngày tiếp công dân theo quy định hoặc nếu bố chí thì cũng qua loa, hình thức trên các bảng phân công nhiệm vụ sau đó lại giao cho cấp dưới tiếp. Đây là tình trạng xảy ra khá phổ biến ở Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường ở một số địa phương trong cả nước. Điều đó thể hiện trong nhận thức và hành động của một số ít cán bộ lãnh đạo vẫn còn chưa đúng. Tình trạng tổ chức tiếp công dân chưa nghiêm túc, thái độ tiếp công dân thiếu khiêm tốn, thiếu lịch sự, gây phiền hà, xách nhiễu nhân dân vẫn còn trong một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức của các ngành các cấp. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân thiếu chính xác thiếu khách quan, không áp dụng đúng quy định của pháp luật chậm, kéo dài thời gian vẫn còn. Tất cả những tồn tại, hạn chế đó ít nhiều ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân khi đến trụ sở tiếp công dân tại các cơ quan đơn vị, địa phương. Đó là những tồn tại mà lâu nay chúng ta vẫn nói nhiều, phê phán nhiều mà vẫn chưa giải quyết triệt để. Vì vậy nhà nước ta cần phải có những giải pháp để khắc phục những tình trạng trên. PHẦN III NGHIỆP VỤ TIẾP NHẬN, XỬ LÝ, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA NGÀNH TƯ PHÁP. I. Những quy định chung Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định theo tại điều 74 Hiến pháp 1992, được cụ thể hoá trong Luật Khiếu nại, tố cáo 1998, các luật sửa đổi, bổ xung một số điều Luật Khiếu nại, tố cáo. Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo một mặt giúp cơ quan, tổ chức, công dân bảo vệ được các quyền lợi ích hợp pháp của mình; mặt khác, đây cũng chính là một trong những biện pháp góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tình hình khiếu nại tố cáo có lúc, có nơi diễn biến rất phức tạp. Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như: Pháp lệnh thi hành án dân sự; Luật dân sự; Nghị định số 158/2005/NĐ- CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, Luật công chứng năm 2006…. Ngoài ra, các Thông tư, Công văn của Thanh tra Chính phủ, Bộ tư pháp và các Bộ, ban, ngành là những văn bản chuyên ngành điều chỉnh về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, ngoài các văn bản pháp lý như Hiến pháp, Luật khiếu nại, tố cáo….. gần đây Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đưa ra những chủ trương, chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy một bước hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể, năm 2000 Bộ chính trị đã ra Chỉ thị số 53/CT – TW về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000; Nghị Quyết 08/NQ – TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; chỉ thị 09/CT – TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về một số vấn đề cấp bách trong giải quyết khiếu nại tố cáo hiện nay, nghị quyết chuyên đề của Quốc hội năm 2004 giao Chính phủ chỉ đạo các cấp, các ngành nâng cao hiệu quả, có những biện pháp hữu hiệu chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo…. Ngành Tư pháp theo nghĩa rộng bao hàm nhiều cơ quan tham gia tố tụng như công an, toà án, viện kiểm soát, thi hành án…. Trong chuyên đề này, khái niệm Ngành Tư pháp được hiểu là gồm các cơ quan có chức năng thực hiện công tác thi hành án dân sự và các công việc có tính chất bổ trợ tư pháp và hành chính tư pháp như công chứng, hộ tịch, bán đấu giá tài sản….Đó là một hệ thống cơ quan do Bộ Tư Pháp- Cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước thống nhất về công tác tư pháp trong toàn quốc từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và các Phòng Tư pháp. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có một vị trí, vai trò rất quan trọng. Để khái quát nội dung quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo trong ngành Tư Pháp, chúng tôi mô hình hoá quy trình bằng sơ đồ sau: II. Tiếp nhận, xử lý ban đầu đơn khiếu nại, tố cáo. 1. Nguồn đơn gửi đến Đơn của công dân, tổ chức gửi đến ngành Tư Pháp, thông qua các nguồn sau: Qua đường bưu điện; Gửi trực tiếp tại Phòng tiếp công dân cơ quan; Do các đồng chí Lãnh Đạo Đảng, Nhà nước, Đại biểu, Đoàn đại biểu, các cơ quan của quốc hội; Đại biểu hội đồng nhân dân; Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các cơ quan Trung ương; cơ quan báo chí….chuyển đến. 2. Tiếp nhận đơn Những trường hợp người khiếu nại, tố cáo đến Phòng tiếp công dân của Bộ Tư pháp trình bày thì trước hết, công chức thường trực tiếp dân yêu cầu những người này xuất trình các giấy tờ tuỳ thân cần thiết, trường hợp không có đủ giấy tờ theo quy định như chứng minh thư, giấy uỷ quyền…thì kiên quyết không tiếp. Trên cơ sở đó, công chức thường trực tiếp công dân thông báo tới các đơn vị chức năng để cử người tiếp công dân, nếu chưa có đơn, thì yêu cầu, hướng dẫn viết đơn khiếu nại, tố cáo và yêu cầu người đó ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản; nếu khiếu nại không đúng thẩm quyền thì hướng dẫn công dân đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết (Trừ tố cáo). Cán bộ tiếp dân phải thực hiện và yêu cầu công dân thực hiện đúng các quy định trong Quy chế và Nội uy tiếp công dân của Chính phủ và của cơ quan. Việc tiếp công dân khiếu nại, tố cáo chỉ được tiến hành tại phòng tiếp công dân, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ trưởng cơ quan chỉ đạo tiếp tại phòng họp nhất định. Đơn gửi đích danh Bộ Trưởng thì Thư ký Bộ trưởng có trách nhiệm nghiên cứu, báo cáo để Bộ trưởng quyết định việc xử lý. Đơn gửi Thứ trưởng thì chuyên viên giúp việc có trách nhiệm nghiên cứu, báo cáo để Thứ trưởng xử lý; Thanh tra Bộ tiếp nhận các đơn vị gửi Bộ Tư pháp, Thanh tra Bộ, đơn do Lãnh đạo Bộ giao. Sau khi nhận đơn, Thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu, phân loại, vào sổ theo dõi và xử lý từng trường hợp. Các đơn vị thuộc Bộ, sở Tư pháp tuỳ theo chức năng, chuyên môn của mình, sau khi nhận được đơn của tổ chức, công dân gửi đến, do Thanh tra hoặc các nguồn khác chuyển tới cũng phải tiến hành nghiên cứu, phân loại vào sổ theo dõi. 3. Phân loại đơn, đăng ký vào sổ theo dõi và sổ thụ lý. Căn cứ nội dung đơn, thư gửi đến ngành Tư pháp được phân thành hai loại: a1. Đơn khiếu nại, tố cáo gồm: Đơn khiếu nại; Đơn tố cáo; Đơn có cả nội dung khiếu nại và tố cáo. a2. Đơn, thư khác gồm: - Đơn, thư phản án, kiến nghị: - Thư cảm ơn; - Đơn đề nghị giải đáp pháp luật…. Trong phạm vi cuyên đề này chỉ đề cập đến quy trình xử lý đơn có nội dung khiếu nại, tố cáo, các đơn, thư khách tuỳ từng trường hợp, thủ trưởng các cấp quyết định việc xử lý. - Các đơn vị nhận được đơn đều phải vào sổ theo dõi theo mẫu chung thống nhất, phân rõ các loại khiếu nại, tố cáo và các loại khác. Riêng đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì đơn vị nhận đơn xử lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 5, điều 6 và xử lý nội dung tố cáo theo quy định tại Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ – CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật khiếu nại, tố cáo. - Các trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền thì vào sổ thụ lý và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo được biết. 4. Các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết. Theo khoản 8 điều 1, Luật sửa đổi bổ xung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 thì “Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý để giải quyết: (1). Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. (2). Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp. (3). Người đại diện không hợp pháp. (4). Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp đã hết. (5). Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. (6). Việc khiếu nại đã được Toà án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định toà của toà án”. 5. Các trường hợp tố cáo không xem xét giải quyết. - Tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký; - Tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết, nay tiếp tục tố cáo nhưng không có bằng chứng mới. - Trường hợp tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển đơn đến cơ quan điều tra, viện kiểm soát theo quy định tại Điều 71 Luật Khiếu nại, tố cáo. II. Nghiên cứu đơn. Sau khi đã qua việc xử lý đơn ban đầu, cần tập trung nghiên cứu để có hướng xử lý tiếp những đơn thuộc thẩm quyền. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đi sâu về nội dung trình bày trong đơn và các tài liệu gửi kèm theo. Đây là công việc đòi hỏi phải hết sức cẩn thận và kỹ càng theo trình tự: - Đọc và tóm tắt nội dung; - Ghi chép, đánh dấu nội dung quan trọng. Giai đoạn này phải xác định cho được những yêu cầu sau: + Nội dung đơn đề cập, khiếu nại hay tố cáo: Nghiên cứu, đọc và tìm ra bản chất của vấn đề, chọn lọc vần đề nào là chủ yếu. + Xác định yêu cầu mấu chốt của đơn: Nếu trong đơn có nhiều nội dung, nhiều yêu cầu thì phải phân chia rạch ròi từng nội dung thuộc lĩnh vực nào và cơ quan nào giải quyết, đã giải quyết đến cấp nào của từng nội dung…..và cuối cùng rút ra vấn đề nào là mấu chốt được nêu trong đơn yêu cầu. III. Xử lý, giải quyết đơn. 1. Đơn khiếu nại. 1.1. Các đơn thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng. Cán bộ xử lý phải xác định thẩm quyền giải quyết của cơ quan, đơn vị trên cơ sở các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng được quy định trong Luật Khiếu Nại, tố cáo; Điều 60 pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Cụ thể, Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết đối với: - Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, của cán bộ, công chức do Bộ trưởng quản lý trực tiếp. Trường hợp này, Bộ trưởng căn cứ vào nội dung, tính chất vụ việc để khiếu nại để Giao Chánh thanh hoặc Thủ trưởng đơn vị khác thuộc Bộ hoặc giao Chánh Thanh tra chủ trì, phối hợp cùng thủ trưởng đơn vị khác tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết - Các khiếu nại mà thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại. - Khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại. - Khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Bộ trưởng ban hành; khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức do Thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ ban hành, của Giám đốc sở ban hành và đã được cấp này giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại. trường hợp này, Bộ trưởng giao Chánh Thanh tra hoặc Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết. + Thủ tục giải quyết. Điều 34, Điều 41 Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành quy định về thời hạn thụ lý đơn khiếu nại, Trong thời gian 10 ngày từ khi nhận đơn có đủ điều kiện để thụ lý, Thanh tra hoặc các đơn vị nhận được đơn phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Đơn vị được Bộ trưởng giao giải quyết sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết để xác minh, báo cáo với Bộ trưởng về kế hoạch giải quyết; dự thảo quyết định xác minh và sau đó chuẩn bị để Bộ trưởng gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, ngời bị khiếu nại. Bước tiếp theo là tiến hành xác minh, dự thảo quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận, kiến nghị việc giải quyết, thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, kết luận, kiến nghị việc giải quyết, thông báo kết quả giải quyết khiếu nại và lưu trữ hồ sơ. * Người được giao xác minh, giải quyết khiếu nại phải tổ chức việc đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết trước đó (nếu có), người có quyền nghĩa vụ liên quan. Pháp luật quy định việc đối thaọi là bắt buộc khi giải quyết khiếu nại lần đầu, đối với việc giải quyết khiếu nại lần hai, việc gặp gỡ, đối thoại chỉ thực hiện khi thấy cần thiết. Khi đối thoại, những ngời tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra bằng chứng liên quan đến vụ việc mà những người yêu cầu của mình, việc đối thoại phải lập thành biên bản. * Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại. Đơn vị, người được giao thực hiện có trách nhiệm tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để xác minh, làm rõ và kết luận những nội dung đơn nêu, báo cáo kiến nghị, biện pháp giải quyết, dự thảo quyết định giải quyết khiếu nại trình thủ trưởng. * Hồ sơ giải quyết khiếu nại. Việc giải quyết khiếu nại phải được lập hồ sơ, gồm có: - Đơn khiếu nại hay văn bản ghi lời khiếu nại; - Văn bản trả lời của người bị khiếu nại. - Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định, biên bản gặp gỡ, đối thoại. - Quyết định giải quyết khiếu nại. - Các tài liệu có liên quan. Hồ sơ giải quyết khiếu nại được lưu trữ theo quy định về lưu trữ hồ sơ, phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu. Trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án thì hồ sơ này được chuyển cho Toà án khi có yêu cầu. * Thông báo kết quả giải quyết. Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại, kết quả giải quyết khiếu nại phải được thông báo công khai cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền nghĩa vụ liên quan. Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết có thể lựa chọn một hoặc một số hình thức để thực hiện công khai: + Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng; + Đưa lên trang thông tin điện tử; + Tổ chức công bố công khai; + Phát hành ấn phẩm. * Thời hạn giải quyết khiếu nại. Theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo hiện hành thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý, đối với những vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Thời hạnh giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý, những vụ việc phức tạp thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết theo quy định tại Điều 36 của Luật Khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết, hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toàn án, đối với cùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 43 của Luật Khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết, hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại toà án, đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày. Riêng đối với khiếu nại về nghiệp vụ chuyên ngành tư pháp thi hành án dân sự, công chứng, chứng thực; công tác hộ tịch…. Thời hiệu giải quyết đươc áp dụng theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành tư pháp. 1.2. Các đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các đơn vị thuộc Bộ. Căn cứ vào Điều 24 Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về thẩm quyền giải quyết khiéu nại của Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; theo chức năng, thẩm quyền qản lý nhà nước được giao, các đơn vị: Cục Thi hành án dân sự, Cục trợ giúp pháp lý, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Trường Đại Học luật Hà Nội, Học viện Tư Pháp, Báo pháp Luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Viện Khoa học pháp lý, Cục con nuôi, Trung tâm tin học, Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ,công chức do mình quản lý trực tiếp. Những trường hợp này, Thủ trưởng các đơn vị vận dụng thực hiện các nội dung trong quy trình giải quyết đã được nêu trên. 1.3. Các đơn thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp địa phương. Nếu đơn gửi đến cơ quan Bộ Tư Pháp, Thanh tra Bộ vào sổ theo dõi và chuyển đến các đơn vị có chức năng giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về lĩnh vực đó để xử lý. Các đơn vị này có trách nhiệm đăng ký vào sổ và làm phiếu chuyển đến cơ quan tư pháp địa phương có thẩm quyền để giải quyết. Việc giải quyết đơn khiếu nại ở các cơ quan tư pháp địa phương được thực hiện như sau: + Đơn thuộc thẩm quyền Theo điều 22 Luật Khiếu nại tố cáo, Giám đốc sở tư pháp có thẩm quyền: - Giải quyết khiếu nại với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình trực tiếp quản lý; - Giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Sở đã giải quyết nhưng còn khiếu nại. * Báo cáo đề xuất việc xác minh giải quyết khiếu nại. Trên cơ sở xác định đúng những trường hợp thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan mình, đơn vị chức năng hoặc cán bộ được phân công trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được đơn phải báo cáo thủ trưởng để quyết định việc thụ lý giải quyết. Giám đốc Sở căn cứ nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại để giao Chánh Thanh tra Sở hoặc thủ trưởng phòng, ban chuyên môn trực thuộc hoặc giao Chánh Thanh tra chủ trì, phối hợp cùng thủ trưởng phòng, ban chuyên môn tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết. + Các đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền. Khi nhận được đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền, các cơ quan, đơn vị xử lý như sau: - Đối với khiếu nại đã có quyết định giải quyết lần hai thì không báo cho người khiếu nại biết và yêu cầu thực hiện quyết định đó, việc thông báo chỉ thực hiện một lần; - Đối với đơn khiếu nại đề gửi nhiều nơi, trong các nơi đó đã gửi đúng cơ quan thẩm quyền giải quyết thì lưu đơn; - Đối với các đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết, có văn bản hướng dẫn người khiếu nại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và chỉ hướng dẫn một lần. Trường hợp các Sở, Phòng Tư pháp nhận được đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng thuộc thẩm quyền của cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện ở địa phương thì vào sổ theo dõi và làm thủ tục chuyển đến các cơ quan đó để giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết. 1.4. Giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức. Trình tự giải quyết khiếunại quyết định kỷ luật cán bộ công chức về cơ bản được áp dụng như giải quyết khiếu nại hành chính. Tuy nhiên, cần chú ý về thời hiệu khiếu nại, đối với khiếu nại quyết định kỷ luật lần đầu là 15 ngày kể từ khi nhận được quyết định, còn đối với quyết định hành chính là 90 ngày. Phòng Tư pháp không có chức năng giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức vì theo quy định của pháp luật về quản lý cán bộ, công chức, Trưởng phòng không có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. 1.5. Thẩm quyền của Chánh Thanh tra trong việc chấp nhận và xử lý khiếu nại. Chánh Thanh tra các cấp khi nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp mình có trách nhiệm xem xét và báo cáo để Thủ trưởng quyết định việc thụ lý và giải quyết khiếu nại đó. IV. Đơn tố cáo. 1. Xử lý đơn tố cáo. Theo Điều 38, Nghị định số 136/2006/NĐ – CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ, các đơn vị và Thanh tra sau khi tiếp nhận đơn tố cáo phải khẩn trương xử lý như sau: - Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền của cấp mình, cán bộ tiếp nhận đơn phải làm biên nhận, vào sổ thụ lý trình thủ trưởng có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 10 ngày. Cũng trong thời hạn đó, nếu không thuộc thẩm quyền thì phải chuyển đơn và các tài liệu liên quan đến người có thẩm quyền giải quyết; - Trường hợp tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển đơn đến cơ quan điều tra, viện kiểm sát theo quy định tại Điều 71 Luật khuyến mại, tố cáo; - Không xem xét, giải quyết nững trường hợp tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc đã được cấp có thẩm quyền giải quyết, nay tiếp tục tố cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ mới. Khi người tố cáo đến trụ sở cơ quan trình bày trực tiếp thì người tiếp phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ người tố cáo, khi cần thiết thì ghi âm lời tố cáo. Văn bản được đọc lại cho người tố cáo nghe và ký tên xác nhận. 2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo. Việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức ngành Tư pháp được áp dụng theo quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết cần lưu ý về phân cấp và uỷ quyền quản lý cán bộ, công chức thi hành án địa phương; về công tác phối hợp khi đối tượng bị tố cáo là những người có chức danh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm như: Công chứng viên, giám định viên…. Theo những quy định hiện hành, Trưởng phòng Tư pháp không có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuộc Phòng vì Phòng tư pháp là cơ quan sử dụng công chức, chứ không phải là cơ quan quản lý công chức; trưởng hợp này, thẩm quyền giải quyết là của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. * Thẩm quyền của Bộ trưởng. - Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng các đơn vị thuộcBộ và cán bộ, công chức do Bộ trưởng bổ nhiệm và quản lý trực tiếp; - Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư Pháp. - Giải quyết tố cáo mà Thủ trưởng các đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đã giải quyết, Giám đốc Sở Tư pháp đã giải quyết trong phạm vi uỷ quyền quản lý của Bộ trưởng về một số mặt về công tác tổ chức, cán bộ thi hành án ở địa phương nhưng còn tố cáo tiếp và có cơ sở để thụ lý giải quyết. Căn cứ tính chất, mức độ của đơn tố cáo, trên cơ sở báo cáo đề xuất của Thanh tra hoặc Vụ tổ chức cán bộ được giao, Bộ trưởng ra quyết định xác minh; trong quyết định này ghi rõ đơn vị, người tiến hành xác minh, nội dung cần xác minh và thời gian tiến hành. Sau khi kết thúc; đơn vị, người đượcgiao nhiệm vụ tiến hành xác minh phải có văn bản kết luận rõ về những nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý; Trên cơ sở kiến nghị của bản kết luận, Bộ trưởng ra quyết định xử lý tố cáo và Giao Thanh tra hoặc Vụ tổ chức cán bộ tiến hành thông báo kết quả xử lý đến các cá nhân, tổ chức có liên quan để biết và thực hiện. b. Thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ. Thủ trưởng các đơn vị có thẩm quyền giải quyết tố cáo, căn cứ Điều 59, 60 Luật Khiếu nại, tố cáo, Thủ trưởng các đơn vị: Cục Thi hành án dân sự, Cục Trợ giúp pháp lý, Cục đăng ký Quốc gia giao dịch bảo đảm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học Viện tư Pháp, báo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Viện khoa học pháp lý, Cục con nuôi, Trung tâm tin học, Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp có thẩm quyền giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức thuộc đơn vị mình quản lý (Trừ cấp phó). c. Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Bộ. Căn cứ Điều 62 Luật Khiếu nại, tố cáo; Chánh Thanh tra Bộ có thẩm quyền: - Xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trưởng khi được giao; - Xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng các đơn vị đã nêu ở mục b trên đây đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật, trong trường hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại. d. Thẩm quyền của Giám đốc Sở: Giám đốc Sở có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng p

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc68152.DOC
Tài liệu liên quan