Đề tài Tăng cung – kích cầu hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

 

CHƯƠNG I :LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

 

I- Tổng quan về thị trường chứng khoán. 3

1.1. Nguồn gốc ra đời của thị trường chứng khoán. 3

1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán. 4

1.3. Đặc điểm của TTCK. 4

1.4. Phân loại TTCK. 5

1.4.1. TTCK sơ cấp. 5

1.4.2. TTCK thứ cấp. 5

 

II- Vai trò, chức năng và mục tiêu của TTCK. 6

2.2. Chức năng của TTCK. 8

2.3. Mục tiêu của TTCK 9

 

III- Cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của TTCK. 11

3.1. Cơ cấu của TTCK. 11

3.2. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK. 12

 

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13

I- Tình hình cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán thời gian qua13

1.1 Cung chứng khoán trên thị trường: 13

1.2 Về khả năng cầu chứng khoán : 14

 

II- Một số nguyên nhân: 15

 

III- Đánh giá chung về thị trường chứng khoán Việt nam thời gian qua: 16

3.1- Những mặt đạt được trong hoạt động của TTCK Việt Nam trong thời gian qua. 17

3.2- Những mặt còn hạn chế trong hoạt động TTCK 20

 

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP “TĂNG CUNG – KÍCH CẦU” CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC TA HIỆN NAY 25

 

doc33 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/10/2013 | Lượt xem: 1397 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tăng cung – kích cầu hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ị trường muốn vậy thực hiện điều hành công băng TTCK cần đảm bảo: + Các cơ quan điều hành thị trường phải xác lập các quy chế đảm bảo sự cạnh tranh tự do, bình đẳng trên thị trường. Các nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán được tự do tham gia và rút lui khỏi thị trường. + Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư thông qua việc duy trì thị trường hoạt động lành mạnh, chống lại các trường hợp lũng đoạn thị trường và bóp méo giá gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư. Phát triển ổn định TTCK. Để đảm bảo cho TTCK phát triển ổn định và lành mạnh cần chú trọng phát triển và loại trừ các khả năng xảy ra, khủng hoảng của thị trường do mất khả năng thanh khoản hoặc do biến động giá cả quá lớn. Trên TTCK do nhiều khi người mua hoạt động biết rõ người bán và khả năng thanh toán của họ nên có thể gây ra khủng hoảng của toàn bộ thị trường. Để giải quyết vấn đề này cần có một cơ chế giao dịch đảm bảo thông suốt, thành lập các tổ chức tài trợ chứng khoán hỗ trợ thị trường nhằm ngăn ngừa khả năng, mất khả năng thanh khoản đối với các TTCK của các công ty vẫn hoạt động tốt. III- Cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của TTCK. 3.1. Cơ cấu của TTCK. Nghiên cứu về cơ cấu TTCK là phân tích xem TTCK bao gồm những bộ phận nào và tìm hiểu mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch trên thị trường chứng khoán có thể dược chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường phái sinh. + Thị trường cổ phiếu là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và giao dịch. Thị trường cổ phiếu gồm thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp. + Thị trường trái phiếu là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành và giao dịch. Thị trường trái phiếu bao gồm thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường trái phiếu thứ cấp. + Thị trường các sản phẩm phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng tương lai, các hợp đồng lựa chọn. Căn cứ vào luân chuyển các nguồn vốn: TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. + Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các loại chứng khoán lần đầu được phát hành. Sự hoạt động của thị trường sơ cấp tạo ra một “kênh” thu hút huy động nguồn tiền nhàn rỗi của dân chúng chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế. Thông qua thị trường này nhà phát hành được thực hiện việc bán các chứng khoán mới cho nhà đầu tư thu được tiền về tăng thêm một lượng vốn mới. + Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Sự hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện trao đổi chứng khoán tthành tiền. Trên thị trường, diễn ra việc mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từ việc bán chứng khoán không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán nhường lại quyền sỡ hữu chứng khoán cho các nhà đầu tư khác. 3.2. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK. Nguyên tắc cạnh tranh tự do: TTCK phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do. Nghĩa là các nhà phát hành, các nhà đầu tư tự do tham gia và rút khỏi thị trường. Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Nguyên tắc giao dịch công bằng: có nhiều người tham gia TTCK với những mục đích khác nhau. Để đảm bảo lợi ích cho những người này, TTCK phải hoạt động dựa trên nguyên tắc giao dịch công bằng, những người tham gia thị trường đều bình đẳng trong việc thực hiện những quy định này. Nguyên tắc công khai: để hoạt động của TTCK có hiệu quả và công bằng thì các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả của TTCK cần phải công khai cung cấp cho các nhà đầu tư nhằm tạo cơ hội đầu tư như nhau, đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán, lũng đoạn trên thị trường. Các thông tin được công khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng của SGDCK, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác. Nguyên tắc trung gian mua bán: trên TTCK, các giao dịch được thực hiện thông qua các tổ chức môi giới để đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực tế và hợp pháp, tránh sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch. Các công ty chứng khoán bằng việc thực hiện các nghiệp vụ của mình đảm nhận vai trò trung gian cho cung và cầu chứng khoán gặp nhau. Chương II: Thực trạng của thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện Nay Như đã biết, TTCK là một thể chế tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, nhưng ở nước ta nó còn đang ở trinh độ sơ khai và quy mô bé. Sau hơn hai năm xây dựng và trưởng thành bắt đầu từ tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam mới chỉ bước đầu tạo lập một thị trường vốn mới và là bước đột phá trong tiến trình đổi mới nền kinh tế thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam theo hướng hội nhập với khu vục và quốc tế. Đối với nước ta - một nước non trẻ, nền kinh tế đang bước đầu phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế nên TTCK bước đầu đã mở một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù thời gian ra đời của TTCK còn quá ngắn để đánh giá một cách chính xác những hoạt động của thị trường này. Cùng với sự nỗ lực của các cơ quan quản lý vận hành TTCK hoạt động từ TW đến địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của TTCK. Qua đó chúng ta có thể thấy được những gì đã đạt được và những điểm còn hạn chế trong hoạt động của TTCK hiện nay. I- Tình hình cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán thời gian qua 1.1 Cung chứng khoán trên thị trường: Việc ra đời trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7 năm 2000 đã đánh dấu một bước phát triển rất quan trọng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ một thị trường ban đầu chỉ có 4 loại cổ phiếu với số lượng: 38.708.000 cổ phiếu, tổng giá trị niêm yết là 387,008 tỷ đồng và hai loại trái phiếu với tổng giá trị niêm yết 600 tỷ đồng, nay đã đưa tổng giá trị hàng hoá niêm yêt trên toàn thị trường đạt trên 20.000 tỷ đồng. Trong gần năm năm hoạt động của thị trường, số tài - khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng được mở tại các công ty Chứng khoán là gần 20.000, tăng gấp 7 lần. Trong đó, có hơn 200 nhà đầu tư có tổ chức (chiếm tỷ lệ 0,95%) và gần 190 nhà đầu tư nước ngoài chiếm (0,87%), điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua chưa có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài tham gia mà chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Do vậy qui mô giao dịch còn rất nhỏ bé. Tuy nhiên, nếu xem xét về khả năng cung ứng chứng khoán cho thị trường thì còn rất hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng. Mặc dù hàng hoá trên thị trường tuy đã tăng về số lượng nhưng thực tế là chưa nhiều, chưa đa dạng chỉ có 2 loại hàng hoá là cổ phiếu và trái phiếu, trong đó chủ yếu là trái phiếu chính phủ. Còn cổ phiếu hiện tại tổng cộng chỉ có được 30 công ty niêm yết cổ phiếu. Trên một khía cạnh nào đó, với con số 30 có thể coi đó là sự thắng lợi và cố gắng lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng 30 là con số quá nhỏ bé so với số lượng các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn và nếu so với tổng số doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế thì con số đó lại càng không đáng kể. Mặt khác, phần lớn các công ty niêm yết có qui mô rất nhỏ, sản phẩm của các công ty này giá thành còn cao nên khả năng cạnh tranh thấp ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, dẫn đến chất lượng nguồn cung ứng chứng khoán trên thị trường chưa cao, sức cầu chứng khoán thấp là điều không tránh khỏi. 1.2 Về khả năng cầu chứng khoán : So với thời gian đầu, số lượng nhà đầu tư, khối lượng giao dịch và tổng giá trị thị trường được tăng dần song cũng rất hạn chế. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại chủ yếu các nhà đầu tư cá nhân vốn ít, sự hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán còn rất hạn chế nên trong đầu tư còn dè dặt, đầu tư theo phong trào, theo tin đồn, và còn rất ít các nhà đầu tư chuyên nghiệp có tổ chức, đầu tư với qui mô lớn và dài hạn. Chỉ có 0,87% nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động mua bán chứng khoán của họ cũng còn gặp một số khó khăn như: Trong các văn bản pháp qui hiện hành chưa qui định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, chưa có sự thống nhất về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài khi đầu tư cổ phiếu ở thị trường sơ cấp và khi mua bán giao dịch trên thị trường thứ cấp… Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có qui mô nhỏ, thiếu vốn kinh doanh nên không có khả năng tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Một số ít doanh nghiệp kinnh doanh có hiệu quả có vốn nhà rỗi, có thể sử dụng để đầu tư kiếm lời song do đầu tư vào chứng khoán là một lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, độ rủi ro cao và còn mới mẻ đối với các doanh nghiệp nước ta nên nhiều doanh nghiệp không mạnh dạn tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán dẫn đến sức mua cầu chứng khoán trên thị trường còn thấp. II- Một số nguyên nhân: Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng khả năng cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn thấp, có nhiều nguyên nhân, có thể nêu ra những nguyên do chủ yếu, đó là: + Sự hiểu biết của công chúng đầu tư về chứng khoán và thị trường chứng khoán còn hạn chế nên chưa tin tưởng vào thị trường chứng khoán như tính công bằng, khả năng thanh toán của thị trường… Do vậy, thị trường chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư. + Các yếu tố để đảm bảo cho sự vận hành an toàn, công bằng, minh bạch, và có hiệu quả của thị trường như qui chế về công khai thông tin, cơ chế quản lí, giám sát hoạt động thị trường… còn nhiều bất cập nên chưa tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư. + Các chính sách hỗ trợ và khuyến khích nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán chưa đồng bộ, chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. + Thị trường chưa có sự tham gia của các công ty, các tập đoàn kinh tế mạnh nên chất lượng nguồn cung ứng chứng khoán trên thị trường còn thấp, cầu chứng khoán không cao. + Thị trường còn thiếu vắng các tổ chức tài chính mạnh về cầu chứng khoán như Quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty Tài chính… + Môi trường pháp lí cho hoạt động thị trường chứng khoán chưa đầy đủ‎, đồng bộ, thậm chí còn mâu thuẫn nhau. + Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn rất hạn chế, nhiều doanh nghiệp chưa có chiến lược đầu tư hoặc huy động vốn đầu tư dài hạn qua thị trường chứng khoán nên khả năng cung chứng khoán trên thị trường thấp. + Việc mở rộng đối tượng được cung cấp tín dụng ưu đãi của Nhà nước với lãi suất thấp cũng làm cho các doanh nghiệp này ỷ lại Nhà nước không phát hành trái phiếu ra thị trường. + Chưa có nhiều công ty chứng khoán mạnh để giúp các doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra thị trường và tạo thị trường cho khách hàng ở khắp các địa phương trên cả nước. + Các Ngân hàng Thương mại chưa đảm nhận được vai trò vừa là trung gian Tài chính, vừa là nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường chứng khoán. Những vấn đề trên đang cản trở rất lớn đến khả năng cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở nước ta những năm qua. III- Đánh giá chung về thị trường chứng khoán Việt nam thời gian qua: 3.1- Những mặt đạt được trong hoạt động của TTCK Việt Nam trong thời gian qua. TTCK ra đời đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng và tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong đó hoạt động của TTCK đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Một là, trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay nước ta đã phải đối mặt với những khó khăn, thử thách trước những vấn đề đặt ra trong quá trình mở cửa, TTCK ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình phát triển thị trường tài chính Việt Nam, thể hiện quyết tâm xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta. Hai là, về cơ bản nước ta đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn hoạt động, quản lý thị trường tương đối đầy đủ,đảm bảo cho sự vận hành năng động của TTCK. Như thông báo số 91/ TP/TW, ngày 28/9/1991 của thường vụ Bộ chính trị về việc chuẩn bị thành lập TTCK ở Việt nam, Nghị định số 48/ 1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về TTCK và chứng khoán, quyết định số 128/1998/QĐ - UBCK5 ngày 1/8/1998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) về quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK), đây là hệ thống văn bản pháp luật cơ sở bước đầu cho hoạt động TTCK Việt Nam. Chúng ta đã có thêm nhiều bộ luật mới, tiến hành sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống luật hiện hành. Đây là môi trường pháp luật thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của TTCK. Ba là, hoạt động TTCK Việt Nam đã tổ chức và vận hành được TTGDCK tập trung bán tự động với hơn 600 phiên giao dịch hoàn toàn suôn sẻ kể từ ngày 30/07/2004. Hệ thống giao dịch của TTGDCK ban đầu cho phép đấu lệnh 500.000 lệnh/phiên với thời hạn giao dịch là 4 ngày (T+4), cho đến nay đã được nâng cấp làm giảm thời gian thanh toán xuống 3 ngày (T+3). Bốn là, hoạt động quản lý,vận hành thị trường của UBCKNN và TTGDCK TP.HCM đã có nhiều cải tiến và từng bước hoàn thiện trên cơ sở rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn. UBCKNN đã đề ra biện pháp, chính sách, biện pháp thích hợp kịp thời nhằm đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, công khai, công bằng và hiệu quả. Bên cạnh đó, UBCKNN tham gia, phối hợp với Bộ tài chính trong việc xây dựng các chính sách, chế độ phát triển TTCK trong dài hạn như “định hướng phát triển TTCK ”, “lộ trình phát triển thị trường vốn ”. Tại thị trường giao dịch chứng khoán TP.HCM đã đạt được đáng kể, thực hiện được 900 phiên giao dịch với tổng khối lượng chứng khoán đạt tổng giá trị giao dịch 13.082 tỷ đồng. Thời gian đầu TTGDCK áp dụng biên độ dao động giá (+/-) 2 sau đó tăng lên (+/-) 7 và (+/-) 3%, dự kiến năm 2003 sẽ áp dụng biên độ dao động giá là (+/-) 5 nhằm ổn định thị trường và bảo vệ các nhà đầu tư trong thời kỳ hoạt động ban đầu của TTCK. Năm là, với sự tham gia của các chủ thể trên TTCK như TTGDCK, công ty niêm yết (CTNY), công ty chứng khoán (CTCK), các nhà quản lý và các nhà đầu tư đã bắt đầu trưởng thành một bước, tham gia vào thị trường với vai trò ngày càng tích cực và hiệu quả. Trong năm 2004 hoạt động của TTCK Việt Nam có sự đóng góp của 10 công ty cổ phần được cấp phép phát hành, một công ty phát triển vốn và đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 11 công ty, nâng tổng giá trị cổ phiếu trên TTCK lên 17.000 tỷ đồng. Ngoài ra trong thị trường trái phiếu đã thực hiện được 40 đợt đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành trái phiếu cổ phần đạt 1.362 tỷ đồng. Đến nay có 41 loại trái phiếu niêm yết trên TTCK trong đó có 39 loại trái phiếu Chính Phủ và 2 trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị trái phiếu niêm yết trên thị trường đạt 4.276,338 tỷ đồng. Tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2004 số tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại các công ty chứng khoán là trên 20.000 trong đó có hơn 200 nhà đầu tư có tổ chức và 191 nhà đầu tư nước ngoài. Sáu là, hiện nay TTCK từng bước có sự phát triển, so với thời gian đầu khá khiêm tốn đến nay đã có được 30 CTNY và 9 CTCK tham gia vào TTCK Việt Nam. Điều đáng chú ý là một số công ty niêm yết đã hoặc đang có đề án phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn mở rông sản xuất kinh doanh thông qua TTCK. Để huy động được vốn thì mở cửa TTCK là cơ hội quan trọng để thu hút được nguồn vốn đầu tư, nhất là vốn nước ngoài. TTCKVN tuy có điểm xuất phát chậm hơn nhưng cũng đã nhận được sự hưởng ứng của một số nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước. Bên cạnh đó, cũng tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động của TTCK ra rộng khắp, ngoài Hà Nội và TP.HCM, hiện nay TTCK được mở rộng ra các tỉnh như Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Long An. Bảy là, Nhà nước ta đã chú trọng tới công tác và đào tạo và tuyên truyền sâu rộng trong công chúng, cung cấp những kiến thức cơ bản cũng như hiểu biết về chứng khoán và TTCK làm cho hoạt động này ngày càng phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Tám là, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp kinh doanh, của các công ty tham gia vào sản xuất theo chiều hướng tốt. Vì vậy các công ty chứng khoán đang được triển khai, mở rộng phạm vi hoạt động. Ngoài ra, cơ cấu doanh thu của các công ty chứng khoán đã có sự thay đổi đáng kể nó làm tiền đề cho sự phát triển của TTCK Việt Nam còn non trẻ. Với những thành tựu đã đạt được trong tình hình hoạt động của TTCK trong thời gian qua đã thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đồng thời đưa kinh tế của đất nước phát triển theo kịp và hoà nhập vào thị trường thế giới. 3.2- Những mặt còn hạn chế trong hoạt động TTCK Được mở cửa ngay từ khi thị trường mới đi vào hoạt động khi mà các nhà đầu tư và các nhà quản lý còn quá ít kinh nghiệm thì việc TTCK phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập là một điều tất yếu. Nên bên cạnh những mặt đạt được trong hoạt động của TTCK vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong tình hình kinh tế hiện nay. Trước hết, nói về hoạt động của TTCK phải nói về các quy định của nhà nước đối với hoạt động này, được quy định bằng các văn bản pháp lý. Cho đến nay, văn bản pháp lý cao nhất của TTCK Việt Nam là nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ được soạn thảo và ban hành trong điều kiện TTCK ở Việt Nam chưa đi vào hoạt động, do vậy sau khi đưa TTCK vào vận hành một số nội dung trong nghị định không còn phù hợp với hoạt động của thị trường hiện nay cũng như với nôị dung mới của Luật doanh nghiệp. Mặt khác các quy định này chưa rõ ràng làm cho các nhà đầu tư thường hiểu sai lệch về các quy định hoặc hệ thống pháp luật của nước ta chưa có văn bản giải thích rõ những trường hợp vi phạm nghị định 48 của Chính Phủ. Mặc dù trong quá trình vận hành thị trường UBCKNN đã ban hành, sửu đổi, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với các yêu cầu của thị trường nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ưng được đòi hỏi của hoạt động TTCK. Thứ hai, loại hàng hoá hoạt động trên TTCK tuy đã tăng nhưng chưa nhiều, chưa đa dạng về chủng loại. Như chúng ta đã biết trên thị trường hiện nay chỉ có 2 loại hàng hoá là cổ phiếu và trái phiếu. Sự biến động của 2 loại hàng hoá này rất phức tạp trên TTCK làm cho hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết có tỷ lệ doanh thu cao nhưng quy mô vốn lại nhỏ, sản phẩm của các công ty có khả năng cạnh tranh nhưng còn khiêm tốn trên thị trường nhất là thị trường ngoài nước. Thực tế cho thấy, qua hơn hai năm hoạt động chỉ số giao dịch chứng khoán phong phú TTCK đã bộc lộ sự biến động thăng trầm và thể hiện tính đặc trưng cơ bản của quy luật thị trường. Trong giai đoạn đầu, khi mới ra đời TTCK Việt Nam đã phát triển quá nhanh, giá cổ phiếu tăng lên một cách “chóng mặt”, nhiều nhà đầu tư hám lợi đã bỏ tiền mua cổ phiếu ở mức giá quá cao (giá ảo). Hiện tượng này xảy ra là do trên TTCK có sự khan hiếm về hàng hoá, tình trạng chênh lệch cung- cầu chứng khoán quá lớn, số lượng công ty niêm yết còn ít, lượng đặt mua cổ phiếu thường lớn gấp nhiều lần lượng cổ phiếu bán ra khiến giá cổ phiếu liên tục tăng. Trong khi đó các loại trái phiếu lại không có giao dịch hay nếu có thì chỉ là số lượng không đáng kể. Sự “háo hức” này cộng với tâm lý của các nhà đầu tư khi mới tham gia vào thị trường. Khi giá cổ phiếu liên tục tăng, các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách mua bằng được để hưởng chênh lệch giá mà họ đi rằng giá cổ phiếu phản ánh tương đối chính xác tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân thúc đẩy giá cổ phiếu của các công ty niêm yết tăng quá cao. Sự tăng giá này hoàn toàn không dẫn đến sự tăng giá trị doanh nghiệp của những công ty niêm yết mà chỉ cho thấy một “bong bóng” tài chính đang được hình thành trên TTCKVN. Cụ thể tại phiên giao dịch ngày 25/6/2001 với chỉ số giao dịch Việt Nam-Index của TTCK Việt Nam là 571,04 điểm sau đó rớt xuống điểm đáy 174,62 điểm tại phiên giao dịch ngày 07/11/2002. Cho đến những tháng đầu năm 2003 chỉ số giá giao dịch có nhích lên một chút, tại phiên giao dịch tháng 1 năm 2003 chỉ còn 30.300 cổ phiếu với khối giao dịch khớp lệnh chỉ còn 651 triệu so với 2.479,80 triệu, cuối tháng 8 năm 2000 chỉ có hai loại cổ phiếu giao dịch. Tại phiên giao dịch ngày 14/01/2003 giá giao dịch nhích lên một chút đạt 870 triệu với 37.700 cổ phiếu. Nhưng chỉ số giao dịch gần đây giảm đáng kể, kết thúc phiên giao dịch ngày 11/3/2003 Việt Nam-Index đã giảm xuống lập kỷ lục đáy mới là 162,86 điểm thấp nhất từ trước cho đến nay, tổng giá trị giao dịch của toàn thị trường đạt 1.399.620.000 đồng. So với chỉ số Việt Nam-Index đỉnh cao nhất trong các phiên giao dịch với giá trị giao dịch là 23 tỷ, điều này chứng tỏ TTCK Việt Nam hiện nay đang rơi vào tình trạng “ngủ gật”. Tình trạng này là vì trong năm vừa qua trên thị trường vốn ở Việt Nam, tỷ giá ngoại tệ, lãi suất huy động vốn, giá vàng và giá bất động sản tăng. Cụ thể, trong năm 2002 tỷ giá đôla Mỹ (USD) so với VND tăng 2,1% (15.085 đồng/USD-16.043 đồng/USD), lãi suất tiết kiệm USD loại kỳ hạn 12 tháng bình quân trong năm 2002 là 2,2%, lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND loại kỳ hạn 12 tháng từ 0,555/tháng, tăng lên 0,67%/tháng, giá vàng tăng 26,9% ( 796.000 đồng-805.000 đồng/chỉ), giá bất động sản tại thành phố và khu đô thị có nơi có lúc tăng 60-75%. Các nhà đầu tư trên TTCK hiện nay phần lớn là do cán bộ hưu trí, học sinh, “nhà đầu tư chuyên nghiệp ” chiếm tỉ lệ thấp. Bên cạnh đó, chiến lược của các nhà đầu tư còn mang tính chất “thử nghiệm”, chủ yếu là đầu tư ngắn hạn, mua nhanh, bán nhanh. Hiện nay trên thị trường vẫn chịu áp lực lớn từ phía cầu, chênh lệch cung - cầu lớn, số lượng và chủng loại hàng hoá chưa đáp ứng được nhu cầu của công chúng đầu tư. Hiệu quả của sự khan hiếm hàng hoá là giá cổ phiếu trên thị trường tăng một cách giả tạo, giá cổ phiếu không phản ánh được giá trị hiện thực của công ty phát hành. Đây cũng chính là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho hoạt động đầu cơ, “làm giá” trên thị trường. Các hiện tượng tiêu cực trên đang là mối đe doạ lớn đối với một thị trường mới đi vào hoạt động như TTCKVN hiện nay. Ba là, cơ chế quản trị hoạt động của các CTCK, CTNY chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, quy định đối với hoạt động TTCK chưa sâu rộng nên ý thức thực hiện chưa cao do đó đã hạn chế hiệu quả hoạt động của TTCK. Mặt khác, cơ chế vận hành của TTCK tạo ra môi trường hết sức thuận lợi cho hoạt động đầu cơ phát triển. Nhưng các nhà đầu cơ đã lợi dụng triệt để các yếu tố tiêu cực của TTCK để khai thác các mặt trái của nó và dẫn đến việc các giao dịch chứng khoán không công bằng. Ngoài ra còn dẫn đến khả năng mất giá đồng nội tệ, gây ra các hiện tượng lạm phát mà Chính Phủ không thể kiểm soát được. Các CTNY còn e ngại khi phải công bố thông tin trên thị trường, thực hiện chế độ kiểm toán nghiêm ngặt cũng như các mối đe doạ vì khả năng cạnh tranh. Bản thân các doanh nghiệp đã được niêm yết trên thị trường với số lượng chứng khoán thực tế được đưa vào giao dịch còn hạn chế. Các CTCK chưa được thực hiện nghiệp vụ tự kinh doanh. Mà nghiệp vụ này các CTCK có thể thực hiện chức năng để ổn định thị trường, cân đối cung cầu thông qua việc mua bán chứng khoán khi có sự chênh lệch qúa lớn trên thị trường. Về mặt vĩ mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, môi trường đầu tư kém hấp dẫn nên các CTNY chưa có nhu cầu phát hành thêm trái phiếu mới, bên cạnh đó chưa tạo ra được nhu cầu lớn về vốn. Thứ tư, TTCK còn là một khái niệm mới mẻ đối với công chúngViệt Nam. TTGDCK đi vào hoạt động còn quá non trẻ với đội ngũ cán bộ chưa có nhiều kinh nghiệm, hàng hoá trên thị trường còn nghèo nàn trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài am hiểu và nhạy cảm trong lĩnh vực này lại đang thiếu vắng. Thực tế cho thấy TTCK Việt Nam vẫn còn ít nhà đầu tư có tổ chức, đầu tư có quy mô lớn và dài hạn. Có thể nói rằng hoạt động của TTCK Việt Nam thời gian qua chưa tác động một cách mạnh mẽ đến nền kinh tế đất nước, chưa chiếm một vị thế như mong muốn của Đảng và Nhà nước ta trong hệ thống tài chính với tư cách là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Nhất là trong xu thế mở cửa TTCK hiện nay chính là sự dịch chuyển của các dòng tiền nóng mà các luồng vốn, lãi suất này cực kỳ nhạy cảm với các mức lãi suất khác nhau, với sự tăng trưởng của nền kinh tế và lợi nhuận kỳ vọng từ việc nắm giữ cổ phiếu. Như vậy tại sao nhiều nhà đầu tư nước ngoài chưa tham gia vào TTCK Việt Nam? Câu trả lời được căn cứ vào quyết định số 145/1999/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28-06-1999 ban hành về quy chế bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài, quyết định này được áp dụng cho việc mua bán cổ phiếu của những công ty không niêm yết. Còn đối với công ty niêm yết thì việc mua bán của các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện theo quyết định 139/1999/ QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10-06-1999 quy định các công ty niêm yết đã có cổ phần của người đầu tư nước ngoài trên 20% thì chỉ được tham gia bán mà không được phép mua. Vì vậy TTCK Việt Nam chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ năm, vấn đề đưa thông tin về TTCK còn hạn chế, hầu như cả cơ quan quản lý lẫn người tham gia vào TTCK đều chưa nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thông tin trong hoạt động của TTCK do đó không bảo đảm được yêu cầu kịp thời, chính xác thông tin trên thị trường. Thứ sáu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doca22.doc