Di sản thừa kế- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

I. Một số vấn đề lý luận về di sản thừa kế 2

1. Quan niệm về di sản và di sản thừa kế. 2

1.1 Quan niệm về di sản. 2

1.2 Di sản thừa kế. 3

 Một trong những vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh cãi đó là di sản thừa kế có bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại hay không. 3

 Khi bàn đến vấn đề di sản thừa kế thì còn có một vấn đề cần xem xét đó là thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế. 5

 Về di sản thừa kế, một vấn đề quan trọng có liên quan đến việc xác định di sản thừa kế là những tài sản phát sinh sau khi người có tài sản chết, có thuộc di sản thừa kế hay không? 6

2. Mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và di sản thừa kế. 8

3. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di sản thừa kế. 10

3.1 Di sản thừa kế là tải sản riêng của người chết. 10

3.2 Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. 11

3.3 Không thuộc di sản thừa kế. 12

4. Ý nghĩa của những quy định trong pháp luật dân sự về di sản thừa kế. 13

II. Thực trạng giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về di sản thừa kế. 14

1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc xác định di sản thừa kế. 14

1.1 Những thuận lợi căn bản trong việc xác định di sản thừa kế. 14

2.1 Những khó khăn căn bản khi xác định di sản thừa kế trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân. 15

2. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về di sản thừa kế. 19

2.1 Về khái niệm di sản thừa kế 19

2.2 Về thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người hưởng di sản 20

III. Kết luận. 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

 

 

doc22 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 06/07/2013 | Lượt xem: 3740 | Lượt tải: 34download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Di sản thừa kế- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ, nếu quan niệm nghĩa vụ tài sản là di sản thừa kế thì trong mọi trường hợp chủ nợ đều có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện việc trả nợ. Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn sống phát sinh từ những hành vi pháp lý của họ. Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là của chình bản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán. Nếu sau khi thanh toán nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến di sản mà vẫn còn di sản để chia cho người có quyền hưởng di sản, thì phần di sản còn lại này mới được gọi là di sản thừa kế. Như vậy, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết mà chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập trên những căn cứ hợp pháp mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế. Hiểu một cách tổng quan nhất thì di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại cho những người có quyền hưởng thừa kế, mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản của người đó. Khi bàn đến vấn đề di sản thừa kế thì còn có một vấn đề cần xem xét đó là thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế. Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai thời điểm khác nhau. Nếu quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản diễn ra cùng một thời điểm (mở thừa kế) chỉ đúng trong một phạm vi rất hẹp, đó là di sản “đang nằm trong tay”, “đang nằm trong sự chiếm hữu một cách hợp pháp của người hưởng di sản” và loại tài sản này không bị phân chia và không phải đang ký quyền sở hữu. Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người hưởng thừa kế có quyền hưởng di sản, tuy nhiên, thời điểm này những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế. Mặc dù về nguyên tắc, người có quyền hưởng di sản có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế bất cứ lúc nào, kể từ thời điểm mở thừa kế, nhưng việc chia thừa kế thực tế không thể diễn ra ngay sau khi người có tài sản chết vì những lí do như: phải có thời gian để tổ chức tang lễ cho người chết, để bàn bạc các vấn đề liên quan, giải quyết các tranh chấp..v.. Bên cạnh đó, có những di sản thừa kế thuộc phạm vi đăng kí quyền sở hữu thì chỉ khi hoàn tất thủ tục pháp lý mới xác lập quyền sở hữu đối với di sản cho người hưởng di sản. Tóm lại, tại thời điểm mở thừa kế, người thừa kế cũng như người được di tặng (nếu có) có quyền thừa kế (có quyền nhận tài sản). Từ thời điểm mở thừa kế, những người này chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế, di sản thừa kế chưa thuộc về họ, di sản thừa kế sẽ thuộc quyền sở hữu của họ kể từ khi nhận được hoặc từ khi hoàn thành thủ tục đang ký quyền sở hữu đối với di sản thừa kế (nếu pháp luật quy định) Về di sản thừa kế, một vấn đề quan trọng có liên quan đến việc xác định di sản thừa kế là những tài sản phát sinh sau khi người có tài sản chết, có thuộc di sản thừa kế hay không? Về nguyên tắc, di sản thừa kế được xác định tại thời điểm mở thừa kế. Vì theo nguyên lý chung, một người phải còn sống mới xác lập thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật về sở hữu. Tuy nhiên, quan hệ thừa kế là quan hệ có tính đặc thù của nó, chỉ phát sinh khi có cái chết của một con người. Ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc làm chấm dứt sự tồn tại của người đó. Các nhà làm luật đá lấy khoảnh khắc đó làm mốc thời gian để xác định sự phát sinh thừa kế và các quan hệ thừa kế và xác định di sản. Có quan điểm cho rằng, tất cả các tài sản, kể cả hoa lợi, lợi tức từ di sản mà phát sinh sau thời điểm mở thừa kế thuộc quyền sở hữu của người hưởng thừa kế. Cách hiểu này cũng có tính hợp lý của nó vì “di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại” di sản thừa kế phải là tài sản được xác lập quyên sở hữu cho người chết trước khi mở thừa kế. Khi người này chết thì chấm dứt mọi khả năng thực hiện quyền của họ. Tuy nhiên, vấn đề này cần được hiểu là, mặc dù những tài sản này phát sinh sau khi người có tài sản chết, nhưng tài sản này có được từ các quan hệ pháp luật mà khi còn sống họ tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền, hoặc là những tài sản này gắn liền, phát sinh từ những tài sản của người chết. Khi người hưởng thừa kế đã nhận di sản và xác lập quyền sở hữu thì từ thời điểm đó, mọi sinh lợi từ di sản thừa kế mới thuộc quyền sở hữu của họ. Vì thế không thể xác định đó là di sản mà người chết để lại. Lúc này các khoản lợi là hệ quả trực tiếp của quyền sở hữu chứ không phải là hệ quả của quyền thừa kế. Trong thực tế, có khá nhiều trường hợp, di sản thừa kế được xác định sau khi người có tài sản chết: - Tiền trúng sổ xố là thu nhập hợp pháp của người mua vé số. Có thể người này mua vé số trước khi mở thưởng là 5 ngày nhưng lại chết trước khi mở thưởng 1 ngày. Nếu trúng thưởng thì khoản tiền này là khoản thu nhập hợp pháp, nếu người đã chết đã có vợ (chồng) thì một nửa thuộc quyền sở hữu của người còn sống, nửa kia là di sản thừa kế của người chết - Các khoản tiền bảo hiểm tình mạng cho hành khách, người thừa kế của hành khách bị chết đó sẽ được hưởng khoản tiền mà cơ quan bảo hiêm phải chi trả.. Những tài sản phát sinh sau thời điểm mở thừa kế được xác định là di sản thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chính xác khối di sản mà người chết để lại, đảm bảo đúng phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời xác định được ai là người thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu di sản gây thiệt hại… Di sản thừa kế là yếu tố vật chất của thừa kế, khoa học luật Dân sự thừa nhận về mặt nội dung của thừa kế là quá trình dịch chuyển di sản thừa kế từ người chết sang cho những người còn sống. Sự biểu hiện của nó là việc để lại và nhận di sản thừa kế mà đối tượng là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết. Pháp luật dân sự Việt Nam từ trước đến nay chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm về di sản thừa kế mà chỉ hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp quy định về thành phần của di sản thừa kế. Từ lập luận của các khía cạnh trên đây, theo tôi, khái niệm di sản thừa kế có thể được xây dựng trên các phương diện sau đây: - Xét trên phương diện đạo đức: Di sản thừa kế là của cải vật chất (tài sản), là phương tiện thực hiện bổn phận của người chết, nhằm gây dựng và chăm lo cho tương lai đối với những người hưởng thừa kế - Xét trên phương diện kinh tế: Di sản thừa kế là của cải vật chất (di sản) của người chết để lại cho những người khác còn sống để dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. - Xét trên phương diện khoa học luật dân sự: Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tài sản của người đó sang cho những người hưởng thừa kế, được Nhà nước thừa nhận vào bảo đảm thực hiện. 2. Mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và di sản thừa kế. Di sản thừa kế là một bộ phận của chế độ tài sản, vì thế, nó chịu sự chi phối bởi những quy định của pháp luật về tài sản và quyến sở hữu trong BLDS, đồng thời chịu ảnh hưởng rất nhiều của các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước. Di sản là yếu tố căn bản trong quan hệ nhận và để lại di sản, được biểu hiện thông qua sự dịch chuyển di sản của người chết để lại sang cho những người hưởng di sản. Sự biểu hiện này chứng tỏ rằng, thừa kế là kết quả tất yếu của những quyền năng trong quyền sở hữu, là mối liên hệ phụ thuộc giữa thừa kế và sở hữu, có sở hữu mới có thừa kế. Di sản thừa kế có mối quan hệ hữu cơ với quyền sở hữu tài sản của cá nhân hay nói cách khác, quyền sở hữu cá nhân là cơ sở chủ yếu để xác định di sản thừa kế cá nhân sau khi qua đời. Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội khác nhau cũng có những thay đổi và được quy định khác nhau, theo đó di sản thừa kế cũng có những thay đổi theo những quy định khác nhau về phạm vi và thành phần tài sản mà cá nhân có quyền sở hữu qua mỗi thời kì. Những cơ sở pháp lý về quyền sơ hữu tài sản của công dân được quy định tại Điều 58 Hiến pháp. Nhà nước luôn khuyến khích công dân làm giàu chính đáng. Những điều kiện khách quan mà pháp luật quy định cho phép công dân phát huy mọi khả năng, mọi nỗ lực để lao động, sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực, trong các thành phần kinh tế…để có thu nhập hợp pháp. Tài sản của công dân trong giai đoạn hiện nay bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tái sản hợp pháp khác mà công dân sở hữu với tư cách cá thế, tiểu chủ hay tư bản tư nhân…là di sản của cá nhân sau khi chết. Trong thời kì thự hiện đường lối đổi mới toàn diện ở nước ta, Nhà nước luôn tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chính sách kinh tế đổi mới này đã đáp ứng ngày càng tốt hơn như cầu vật chất tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân trong giai đoạn hiện nay càng được mở rộng về phạm vi, thành phần và giá trị; theo đó mà di sản thừa kế của cá nhân nhiều hay ít về giá trị, thành phần, số lượng và tính chất… phụ thuộc vào khả năng chủ quan của người đó tạo ra và phụ thuộc vào những quy định của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu cá nhân. Theo quy định của pháp luật, những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân gồm: thu nhập hợp pháp, nhà ở, máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản gửi tổ chức tín dụng bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, các trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, các giấy tờ có giá, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợi, quyền nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lí khác, quyền đối với phần vốn góp trong các doanh nghiệp… Những loại tài sản này mà một người khi còn sống có quyền sơ hữu và khi người đó chết thì những tài sản này là di sản thừa kế, được đem chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại lớn hơn hoặc ngang bằng với giá trị di sản của người này để lại thì khi đó sẽ không còn di sản để chia thừa kế. 3. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di sản thừa kế. Theo quy định tại Điều 634 BLDS thì: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết phần tài sản của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác”. Di sản thừa kế là một vấn đề hết sức phức tạp, về vấn đề này có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngay trong pháp luật qua mỗi thời kì cũng quy định khác nhau. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội của nước ta sau hơn sáu mươi năm qua, với những chính sách phát đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần… đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân- nguồn của di sản thừa kế cũng ngày một phong phú, nhiều hơn và lớn hơn. Di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản khi còn sống. Theo quy định tại điêu 164 BLDS: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy, thành phần di sản bao gồm các loại tài sản khác nhau và không bị hạn chế về số lượng, giá trị. 3.1 Di sản thừa kế là tải sản riêng của người chết. Tài sản riêng của người chết được xác định khi người đó còn sống, có quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập và tự mình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí riêng của mình mà không bị ràng buộc vào ý chí của người khác mà chỉ tuân theo pháp luật. Trong quan hệ vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc của chồng được xác định là tài sản có trước thời kì hôn nhân hoặc có trong thời kì hôn nhân nhưng do được tặng cho riêng, được thừa kế riêng mà người có tài sản riêng đó không định đoạt ý chí sát nhập vào khối tài sản chung của vợ hoặc chồng thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu chung của vợ hoặc của chồng. Tài sản riêng của vợ hoặc chồng còn xác định được trường hợp vợ, chồng đã thỏa thuận bằng văn bản chia tài sản chung hoặc yêu cầu của tòa án chia khi có lí do chính đang thì phần tài sản của vợ hoặc chồng được chia là tài sản riêng của mỗi người; những tài sản chung của vợ chồng không phân chia thì vẫn thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng. Những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân hợp pháp là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiê, khi xác định tài sản chung và tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng, cần thiết phải phân biệt những trường hợp cụ thể sau đây: Thứ nhất: vợ chồng đã chia tài sản chung theo các căn cứ hợp pháp thì phần tài sản được chia của mỗi người là tài sản riêng, việc khai thác tài sản đó thuộc quyền sở hữu riêng vủa chủ sở hữu là vợ hoặc chồng, theo đó các khoản lợi thu được từ tài sản riêng đó là tài sản riêng. Thứ hai, trước thời kì hôn nhân, vợ hoặc chồng có tài sản riêng là tư liệu sản, sau khi kết hôn, tài sản đó không được nhập vào tài sản chung của vợ chồng thì vẫn là tài sản riêng của người chồng hoặc người vợ có tài sản trước đó. Nhưng tài sản riêng của người chồng hoặc của người vợ được khai thác và thư được những lợi ích nhất định thì các khoản lợi có được từ việc khai thác tài sản riêng đó là của chung vợ chồng. 3.2 Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Người chết là đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản chung với vợ hoặc chồng và người chết là sở hữu chung theo phần đối với tài sản chung với người khác. Trong trường hợp này, khi người này chết thì tài sản là di sản thừa kế được xác định trong khối tài sản chung đó như sau: - Đối với sở hữu chung hợp nhất, khi vợ hoặc chồng chết trước, phần di sản của người chết trước là chồng hoặc vợ được xác định là ½ giá trị trong tổng giá trị tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. - Đối với trường hợp thứ hai, khi còn sống người chết là đồng sở hữu chung theo phần đối với tài sản, khi người này chết thì phần quyền tài sản của người này tỏng khối tài sản chung là di sản thừa kế. - Các quyền tài sản khác của người chết để lại là di sản thừa kế gồm: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả), các khoản tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tình mạng, tiển bảo hiểm là di sản thừa kế của người đó. Di sản thừa kế của cá nhân được hiểu là toàn bộ tìa sản theo quy định tại Điều 163 BLDS, trong đó có quyền sử dụng đất đai. Di sản thừa kế chỉ bao gồm các thành phần tài sản xác định được từ khối tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, không bị hạn chế về phạm vi và giá trị. Di sản thừa kế có mối quan hệ hữu cơ với quyền sở hữu tài sản sản của cá nhân hay nói cách khác, quyền sở hữu cá nhân là cơ sở chủ yếu để xác định di sản thừa kế của cá nhân sau khi qua đời. Khi xác định di sản thừa kế, sự cần thiết phải xác định đúng loại tài sản nào là di sản thừa kế, loại tài sản nào không phải là di sản thừa kế để tránh những tranh chấp do có sự hiểu lầm bản chất di sản thừa kế. 3.3 Không thuộc di sản thừa kế. Về phong tục, tập quán của đại bộ phận cộng đồng dân cư ở nước ta từ xưa đến nay, theo tinh thần trợ giúp nhau khi gặp những điều không may đối với với cá nhân, gia đình nào đó là tiền phúng, viếng người chết. Khi một người qua đời, những người thân thích của người đó hoặc tổ chức từ thiện làm lễ mai táng cho người đó và những người thuộc quan hệ thân bằng, cố hữu, bạn bè, họ hàng, con cháu của người chết…đến viếng và vĩnh biệt người chết bằng vòng hoa tang, bằng tiền và các lễ vật khác theo phong tục. Khoản tiền phúng viếng của những người đến chia buồn cùng gia đình người có tang, nhiều hay ít cũng là tài sản xác định được như tiền, ngoại tệ, lễ vật…với mục đích chia buồn cùng tang gia. Việc xem khoản tiền phúng viếng đám tang mà tang quyến thu được là di sản thừa kế của người chết là cách hiểu phản ánh ý chỉ chủ quan, trái với pháp luật thừa kế. Dựa trên cơ sở pháp lý bằng việc xác định thời điểm mở thừa kế của người chết để lại di sản. Biết rằng, toàn bộ quyền và nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại chỉ tính đến thời điểm mở thừa kế của người đó. Khoản tiền phúng viếng không thể được coi là di sản thừa kế của người chết. Khoản tiền phúng viếng nhân sự kiện người chết không thể là di sản của người chết để lại. Theo phong tục, tập quán trong nhân dân thì tiền điều phúng đám tang với mục đích chính là để tang chủ mua hương, lễ vật để thờ cúng người chết, đây được xem là một nét đẹp văn hóa của dân tộc ta từ xưa đến nay. Tuy nhiên, không thể coi tiền phúng viếng là di sản và không nên đặt vấn đề chia khoản tiền đó, khoản tiền phúng viếng đó không phải là hoa lợi, lợi tức có từ di sản mà khoản tiền đó có được là do phong tục, tập quán của cộng đồng và trong chừng mực nào đó có thể coi khoản tiền này có được là do các thành viên của cộng đồng thực hiện nghĩa vụ tự nhiên do lương tâm chi phối, không bị ràng buộc về mặt pháp lý. Như vậy, một lần nữa ta có thể khẳng định khoản tiền phúng viếng không phải là di sản thừa kế như nhiều người lầm tưởng 4. Ý nghĩa của những quy định trong pháp luật dân sự về di sản thừa kế. Xuất phát từ tầm quan trọng là đối tượng được dịch chuyển trong quan hệ thừa kế, di sản thừa kế là yếu tố đầu tiên cần được xác định để xem xét các yếu tố tiếp sau trong quan hệ để lại và nhận di sản thừa kế. Pháp luật quy định di sản thừa kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sang cho những người còn sống khác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, qua đó thực hiện được các chức năng điều chỉnh của pháp luật, tạo điều kiện để các chủ thể xử xự theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội. Đặc biệt, nó tạo cơ sở pháp lý về các tiêu chí khi xác định di sản thừa kế. Theo từng trường hợp cụ thể, quy định của pháp luật về si sản thừa kế cho phép xác định nguyên tắc, căn cứ để giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế. Quy định của pháp luật về si sản thừa kế được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế, nhằm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế. Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế góp phần điều tiết, ổn định các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế là cơ sở quan trọng cho việc xác định các loại tài sản nào được để lại thừa kế, phạm vi được định đoạt trong tài sản chung, quyền phân định di sản của người có di sản, quyền của người được hưởng di sản thừa kế. Đó cũng là cơ sở pháp lý được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế. II. Thực trạng giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về di sản thừa kế. 1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc xác định di sản thừa kế. 1.1 Những thuận lợi căn bản trong việc xác định di sản thừa kế. Sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng gắn liền với lịch sử truyền thống đạo đức, với nền văn hóa dân tộc và với quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của dân tộc Việt Nam. Bước vào nền kinh tế thị trường, để đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự..v..v trong điều kiện kinh tế xã hội có những phát triển mới, đồng thời tạo căn cứ đầy đủ và vững chắc về mặt pháp lý cho các cơ quan xét xử khi giải quyết các tranh chấp có liên quan, Nhà nước ta đã rất chú trọng và quan tâm xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực của đời sống, trong đó có quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng. Bên cạnh BLDS năm 1995 và BLDS 2005 thì một loạt các văn bản pháp luật khác mặc dù không trực tiếp quy định về vấn đề di sản thừa kế và việc xác định di sản thừa kế, nhưng một số quy định trong đó được coi là cơ sở quan trọng đối với việc xác định quyền sở hữu của cá nhân để từ đó xác định tài sản của họ trở thành di sản thừa kế khi họ qua đời. Đồng thời, bên cạnh chú trọng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước cũng quan tâm đích đáng đối với công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục ý thức pháp luật. Cụ thể các cơ quan chức năng, đoàn thể, xã hội đã tổ chức các cuộc tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên đề về các văn bản pháp luật trên, tổ chức các buổi sinh hoạt, các cuộc thi truyền hình về pháp luật ..v.. Các hoạt động đó đã góp phần nâng cao trình độ dân trí về pháp luật, từ đó mỗi người được trang bị kiến thức căn bản, nhận thức được quyền và lợi ích hợp pháp cũng như những nghĩa vụ của mình, đây là điều kiện để giảm thiểu tranh chấp, giảm thiểu độ phức tạp của các vụ việc liên quan đến di sản thừa kế. Về chất lượng cán bộ tòa án, nhiều năm qua, ngành Tòa án đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự nói chung và các vụ án về thừa kế nói riêng. Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ cho các thẩm phán, đồng thời triển khai tổ chức tập huấn kịp thời các văn bản pháp luật mới được ban hành. Các hoạt động đó đã giúp cho đội ngủ thẩm phán ngày càng vững vàng trong công tác chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Đây là thuận lợi về con người và chuyên môn để chất lượng xét xử của Tòa án các cấp ngày một tốt hơn. 2.1 Những khó khăn căn bản khi xác định di sản thừa kế trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân. Qua thực tiến cho thấy, các tranh chấp về thừa kế nói chung và tranh chấp về di sản thừa kế nói riêng là loại tranh chấp rất phức tạp, thực tế xác định di sản thừa kế gặp rất nhiều khó khăn và có không ít vướng mắc. Trong quá trình giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế tại tòa án, các đương sự đều tìm cách chứng minh có lợi nhất cho mình về kỷ phần, đồng thời phủ nhận hoặc làm giảm bớt quyền lợi của những người thừa kế khác. Bản chất của tranh chấp thừa kế suy cho cùng là xác định kỷ phần khi phân chia thừa kế. Do tình chất phân chia di sản nên việc xác định đúng khối di sản là bước khởi đầu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp thừa kê. Di sản thừa kế một mặt mang yếu tố kinh tế, mặt khác mang tính xã hội sâu sắc, phản ánh tài sản được truyền lại từ đời này sang đời khác của gia đình, giòng họ trong sự phát triển kinh tế gia đình và xã hội. Trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động đến: Thứ nhất, về kinh tế xã hội. Khó khăn đáng kể nhất là sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho các tranh chấp không ngừng phát sinh. Trong những năm qua, do có sự biến đổi về giá trị tài sản, nhất là giá trị về nhà ở và quyền sử dụng đất không ngừng tăng lên là một trong những nguyên nhân đáng kể làm phát sinh các tranh chấp về thừa kế. Trước đây, giá trị nhà ở và quyền sử dụng đất không cao nên các tranh chấp về thừa kế liên quan đến các tài sản này không nhiều, các đương sự cũng ít khiếu kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp về thừa kế cũng ít quyết liệt hơn. Do tác động của nền kinh tế thị trường và do tình hình kinh tế phát triển không đều nên có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực, thu nhập quốc dân còn thấp, trình độ dân trí chưa cáo kéo theo các tranh chấp dân sự ngày càng phổ biên hơn Ngoài ra, do một số chính sách của Nhà nước thay đổi như: Chính sách nhà ở, chính sách đãi ngộ người có công với cách mạng, chính sách về đất đai… làm thay đổi chủ sở hữu, người sử dụng…Vì thế, việc thừa nhận ai là người có quyền để từ đó xác định di sản thừa kế gặp rất nhiều khó khăn và lúng túng. Những lý do trên có thể được xem là một trong những khó khăn khách quan có ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp khi xác định di sản thừa kế. Thứ hai, về cơ sở pháp luật. Khi giải quyết tranh chấp về thừa kế, các Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Trong những năm qua, trước những yêu cầu của hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường, Nhà nước ta đã tiến hành sửa đổi nhiều đạo luật quan trong, trong đó có những luật liên quan trực tiếp đến Luật Dân sự như: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, BLDS năm 2005…Việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật thực định là rất cần thiết, nhưng cũng có một thực tế là theo căn cứ quy định của văn bản pháp luật cũ thì án xử không sai, nhưng theo quy định của pháp luật đã sửa đổi, bổ sung thì lại chưa đúng. Đây là một trong những nguyên nhân liên quan đến tính ổn đỉnh định của văn bản và đã có những bản án bị Tòa án cấp trên sửa hoặc hủy án vì đã có sự thay đổi của pháp luật thực định. Một yêu cầu khách quan là sự điều chỉnh của pháp luật phải phù hợp với thực tế cuộc sống xã hội Việt Nam, đồng thời phải phù hợp với quá trình hội, quốc tế và của nền kinh tế thị trường. Tuy các đạo luật đã được bổ sung, sửa đổi, nhưng vẫn còn có những quy định chỉ mang tính chất “khung” nên việc áp dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn gặp không ít những hạn chế, thực tế là có nhiều quy định cần phải có hướng dẫn, giải thích cụ thể của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể thực hiện được. Ví dụ: Điều 543 BLDS năm 2005 chỉ quy định chung về di sản thừa kế, gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng và phần t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDi sản thừa kế- một số vấn đề lý luận và thực tiễn (bài lớn học kì 9 điểm KT33C015).doc
Tài liệu liên quan