Đồ án Quy hoạch giao thông thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa đến năm 2020

MỤCLỤC

Trang

PHẦN I: THUYẾT MINH

A. QUY HOẠCH CHUNG

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết phải thiết kế quy hoạch xây dựng thị xã Sầm Sơn 3

1.2 Các căn cứ lập quy hoạch 4

1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ 5

1.4 Những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài 6

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ HIÊN TRẠNG

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý 7

2.1.2 Đặc điểm địa hình 8

2.1.3 Điều kiện địa chất công trình 9

2.1.4 Điều kiện khí hậu 9

2.1.5 Điều kiện thuỷ văn 11

2.1.6 Điều kiện địa chấn 12

2.2 Đặc điểm hiện trạng 2.2.1 Hiện trạng đô thị 12

2.2.2 Tính chất, quy mô dân số và diện tích 12

2.2.3 Đặc điểm kinh tế và xã hội 14

2.2.4 Hiện trạng sử dụng đất 17

2.2.5 Hiện trạng về kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật 21

CHƯƠNG 3: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU VỰC ĐÔ THỊ

3.1 Dự kiến phát triển kinh tế xã hội và phát triển dân số

đến năm 2020 26

 

3.2Định hướng phát triển không gian kiến trúc 27

3.3 Quy hoạch xây dựng đợt đầu 41

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

docx42 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 04/12/2013 | Lượt xem: 2078 | Lượt tải: 20download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Quy hoạch giao thông thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa đến năm 2020, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
á giảm. Một phần do các xí nghiệp đông lạnh hoặc các cơ sở chế biến trong tỉnh thu mua thì số lượng không nhiều, các tàu đánh bắt xa bờ thường đem sản phẩm đánh bắt được bán cho các cơ sở dọc biển Bắc Trung Bộ. Các sản phẩm quý hiếm như mực, tôm, cua bị tư thương mua với giá thấp rồi tiêu thụ đi nơi khác, một phần cung cấp nội địa trong tỉnh và địa bàn Sầm sơn phục vụ khách du lịch. * Nuôi trồng thuỷ sản bao gồm: - Diện tích nuôi tôm 95 ha - Diện tích nuôi tôm quảng canh 65 ha - Diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh là 95 ha - Sản lượng nuôi trồng là 150 tấn, riêng sản lượng nuôi tôm đạt 50 tấn * Chế biến hải sản: chủ yếu là nước mắm đạt 800 nghìn lít/ năm 1998 * Kinhdoanh du lịch: Phần đất ven biển thuộc hai phường Trường Sơn và Bắc Sơn đã được đầu tư xây dựng nhà nghỉ và khách sạn với tổng số 10.100 giường. Trong đó: + Cơ sở do TW và tỉnh ngoài quản lý: 43 cơ sở với 4.827 giường và 1.618 phòng, hằng năm đón 357.690 lượt khách. + Cơ sở do tỉnh quản lý: 20 cơ sở với 1476 giường và 535 phòng, hằng năm đón 86.860 lượt khách. + Cơ sở do UBND thị xã Sầm Sơn quản lý: 10 cơ sở với 530 giường và 173 phòng hàng năm đón 24.590 lượt khách. + Cơ sở do tư nhân quản lý: 141 cơ sở với 3.267 giường và 1.274 phòng, hàng năm đón 130.149 lượt khách. Diện tích đất đai đã được đua vào xây dựng nhà nghỉ là 58,8 ha Mật độ xây dựng bình quân là 40% Cá biệt có khu có mật độ xây dựng đạt 100% như ở trục đường 1B. Mười năm qua thị xã đã thu hút được nhiều vốn đàu tư xây dựng khách sạn, nhà nghỉ. Số giường nghỉ vượt cả dự kiến 10.100 giường/ 7000 giường. Đặc biệt tư nhân tham gia đầu tư xây dựng khá mạnh. b. Về xã hội: * Giáo dục: Toàn thị xã hiện có : + 6 trường phổ thông tiểu học với 228 lớp , 7.717 học sinh đã xây dựng 150 phòng học từ 1 đến 2 tầng. + 5 trường phổ thông cơ sở với 100 lớp , 4.041 học sinh đã xây dựng 65 phòng học từ 1 đến 2 tầng. + Có 1 trường phổ thông trung học với 24 lớp , 1.017 học sinh đã xây dựng 24 phòng học nhà 4 tầng. Bình quân 240 học sinh / 1000 dân Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục khá hơn, hầu hết các trường đều đã ngói hoá, 70% nhà lớp học kiên cố cao tầng phù hợp với quy hoạch. * Y tế: Thị xã hiện có trung tâm y tế quy mô 70 giường tại phường Bắc Sơn , 1 phòng khám đa khoa 2 tầng 250 m2 sàn, 2 trạm xá xã, 3 trạm xá phường có quy mô từ 10 đến 15 giường chủ yếu là nhà cấp 4 diện tích mỗi trạm 150 m2. Việc xử lý dịch bệnh về mùa hè, giải quyết cấp cứu cho khách đến tắm và nghỉ dưỡng được tăng cường hơn trước đây. * Văn hoá thể thao: Quy hoạch đã dành đất xây dựng các công trình văn hoá thể thao vui chơi giải trí ở khu trung tâm nhưng chưa được đầu tư xây dựng. Nhà hát nhân dân xuống cấp. Có thể nói mảng văn hoá thể thao còn rất nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách nghỉ và dân cư đô thị. * Lao động, việc làm: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi ở thị xã Sầm Sơn chiếm 45% dân số (24.600 người ). Một đặc thù cần nêu là mùa hè thu hút được nhiều lao động có việc làm, còn lại 9 tháng số lượng người chưa có việc làm rất lớn chiếm 33.600 người (kể cả dân cư nông ngư nghiệp và CBCNVC trong các nhà nghỉ khách sạn). Trình độ dân trí thấp hầu hết lao động không được đào tạo nghề do đó chất lượng phục vụ khách du lịch nghỉ mát còn non yếu. Bởi vậy cần chú ý đến khâu đào tạo nghề cho dân cư và lao động, nhanh chóng khôi phục phát triển CN- TCN nhằm giải quyết việc làm cho người dân lao động. 2.2.4 Hiện trạng sử dụng đất: Tổng diện tích đất toàn thị xã Sầm Sơn theo địa giới hành chính hiện nay là 1.790 ha gồm 3 phường nội thị và 2 xã ngoại thị. Đất ở thị xã Sầm Sơn gồm 2 loại: * Đất ở nội thị chiếm tổng diện tích là 110 ha chủ yếu là nhà cấp II 3 A. Tầng cao trung bình là 1,5 tầng do CBCNV và dân tự xây dựng. Các khu dân cư nội thị chủ yếu nằm phía Tây đường Nguyễn Du, tập trung chủ yếu ở phường Trường Sơn và Bắc Sơn, phường Trung Sơn mới thành lập nên ở vẫn theo kiểu làng xã. Đất ở nội thị chủ yếu chia lô dạng 4 x 20 m hoặc 5 x 18 m. + Thị xã Sầm Sơn chưa có một khu nhà ở kiểu chung cư cao tầng nào. + Mật độ xây dựng trên một lô đất quá cao. + Kiến trúc nhà ở lộn xộn, xấu. + Môi trường ô nhiễm không kiểm soát được. + Phường Trung Sơn có nhiều dân cư ở trên đất dự kiến phát triển nhà ở và khách sạn. + Một số lượng đáng kể nhà nghỉ của dân mới xây dựng làm dịch vụ kiêm ở. + Mật độ xây dựng 100% dẫn đến tình trạng thiếu đất cây xanh, vệ sinh môi trường không tốt. * Đất ở ngoại thị: chiếm 97 ha đất ngoại thị thuộc 2 xã Quảng Cư và Quảng Tiến ở theo kiểu làng xóm, nghề chính tập trung ở 2 xã này là làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt cá ven bờ. Quảng Tiến dân cư ở dày đặc, Quảng Cư dân cư ở tản mạn. Nhà thấp để tránh gió bão chủ yếu là nhà cấp 4 A, tỷ lệ nhà mái bằng rất ít trong khu vực này khoảng 20%. Các hộ dân cư ở không theo quy hoạch, đường ngõ hẹp mỗi hộ có diện tích là 200 m2 đất trở lên, thường nhà nào cũng xây dựng kiểu nhà chính 3 – 5 gian, nhà phụ vuông góc với nhà chính và có sân phơi, công trình phụ tạm bợ mất vệ sinh do vùng đất cát nên thường thiếu cây bóng mát và ít cây ăn quả. b/ Đất xây dựng khách sạn: + Đất xây dựng khách sạn chủ yếu nằm ở phía Đông đường Nguyễn Du đến đường Hồ Xuân Hương và một phần nằm ở phía Tây đường Nguyễn Du như nhà nghỉ Tổng Công Đoàn, nhà nghỉ Đường Sắt. Tổng diện tích đất khối nhà hiện nay là 75 ha với tổng số 10.100 giường. Mật độ xây dựng đảm bảo, tầng cao trung bình khu khách sạn nhà nghỉ <= 5 tầng. Nhìn chung công trình đã xuống cấp thời gian sử dụng trong năm chỉ đạt từ 3 – 4 tháng, thời gian để lãng phí dài không được chăm sóc sử dụng thường xuyên. c/ Khu trung tâm: Đã đầu tư xây dựng khu trung tâm Hành chính – Chính trị của thị xã như: Thị uỷ, UBND thị xã, Thị đội, Công an thị xã, Ngân hàng, Bưu điện. Tuy có một số công trình có kết hợp với nhà nghỉ của ngành nhưng nhìn chung các công trình đã được đầu tư với quy mô vừa và nhỏ, tầng cao trung bình từ 2 –3 tầng. Đặc biệt hệ thống trụ sở của 3 phường và 2 xã đã được đầu tư xây dựng và tương đối ổn định về mặt quy hoạch. d/ Khu vực dịch vụ thương mại: Chưa được đầu tư xây dựng nhưng cũng đã hình thành rõ nét trên trục đường Nguyễn Du theo đường quy hoạch chung, công trình cửa hàng bách hoá tổng hợp nằm tại ngã tư đường Lê Lợi và đường Nguyễn Du mới đầu tư xây dựng được tầng 1, còn lại các cửa hàng nhỏ do dân đầu tư nằm rải rác trên trục đường Nguyễn Du, làm mới cảnh quan đô thị. Nhìn chung công trình dịch vụ công cộng của thị xã Sầm Sơn hầu như không có gì đáng kể. e/ Khối y tế giáo dục: Cơ bản đã được đầu tư xây dựng đúng quy hoạch, hệ thống xây dựng các trường trung học và tiểu học tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo ở các trường chưa được đầu tư theo tiêu chuẩn. Hệ thống Bệnh viện, trạm xá đã được đầu tư đáng kể, đặc biệt là Bệnh viện thị xã Sầm Sơn, thường xuyên được nâng cấp cải tạo dàn từng bước đảm bảo yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong toàn thị xã. Hệ thống trạm xá tại các phường xã còn yếu không được chú ý đầu tư kể cả về xây dựng cơ bản và thiết bị y tế. f/ Khu vực chơi giải trí: Toàn thị xã Sầm Sơn chỉ có một Nhà hát ngoài trời và một khuôn viên đang đầu tư xây dựng chưa hòan chỉnh. Sân vận động thị xã chưa có. Đã xây dựng tạm một khu thể thao ở trung tâm như: Sân chơi tennis, sân chơi bóng rổ, cầu lông, bóng chuyền, đã đáp ứng kịp thời cho nhu cầu thi đấu, vui chơi giải trí cho dân thị xã và các nhà nghỉ trong khu vực. l/ Đất cây xanh: Đất cây xanh trong khu nội thị tại 3 phường Bắc Sơn, Trung Sơn và Trường Sơn chưa được đầu tư thoả đáng, chủ yếu là cây xanh bên bờ biển, trên núi và cây xanh vườn ươm, trên các trục đường phố. Tổng diện tích cây xanh trong khu vực 130 ha. Chưa được đầu tư xây dựng thành công viên cây xanh, trồng để giữ đồi núi và các bãi cát trống kể cả khu công viên trung tâm cũng chưa được đầu tư thoả đáng. * Đất ngoài khu dân dụng a/ Đất công nghiệp và kho tàng + Đất công nghiệp + Đất kho tàng bến bãi Công nghiệp kho tàng của thị xã Sầm Sơn hiện nay còn rất ít, khu chế biến nước mắm tại cảng Hới đã giải thể. Hiện tại đang từng bước cải tạo đầu tư xây dựng cảng cá, trước mắt phục vụ tàu đánh bắt xa bờ của nhân dân địa phương và các tàu đánh cá xa bờ ở các vùng lân cận. b/ Đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng Diện tích có khả năng khai thác nuôi trồng thuỷ sản là 126 ha trong đó Quảng Tiến là 34 ha, Quảng Cư là 92 ha. Toàn bộ diện tích này nằm trong đê sông Mã, tuy nhiên chưa đạt tiêu chuẩn về nuôi nhưng đã hình thành cơ bản các vùng ao hồ có thể nuôi trồng thuỷ sản. Con nuôi hiện tại là cua, tôm rảo. c/ Đất di tích lịch sử Tổng diện tích là 2,25 ha gồm các đền thờ, miếu mạo như Đền Độc Cước, Cô Tiên, Chùa Đệ Nhị trên núi thuộc phường Trường Sơn, Đền Bà Triệu xã Quảng Tiến, Chùa Bình Chiều xã Quảng Cư và các Đài tưởng niệm liệt sĩ ở các phường xã. d/ Đất an ninh quốc phòng Diện tích đất an ninh quốc phòng là 4,2 ha nằm trong lòng núi thuộc phường Trường Sơn. Đây là hệ thống bảo vệ đặc biệt quan trọng của quân đội đang quản lý. e/ Đất nghĩa địa Tổng diện tích đất nghĩa địa hiện nay nằm rải rác ở các phường là 5,11 ha, thị xã Sầm Sơn đang có dự án qui tụ và xây dựng tập trung một nghĩa địa tại xã Quảng Xương đến nay chưa thống nhất địa điểm xây dựng. 2.2.5 Hiện trạng kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật: 2.2.5.1 Nhà ở Làng xóm: các công trình chủ yếu là nhà cấp 4A tập trung ở đất dân cư ngoại thị, diện tích mỗi nhà lớn khoảng 200 m2, gian chính có từ 3 – 5 gian, gian phụ vuông góc với gian chính. Nhà ở nội thị: số ít xây dựng có quy hoạch, kiến trúc không đồng nhất. Một số dạng nhà ở kiêm nhà nghỉ khoảng từ 3 –5 tầng. Nhà chia lô ở nội thị khoảng từ 4x20 m, 5x 18 m. Chưa hề có bất cứ một nhà chung cư cao tầng nào ở Sầm Sơn.Tóm lại là nhà ở khu vực thị xã Sầm Sơn không đồng nhất theo bất cứ một loại nhà quy hoạch nào. 2.2.5.2 Cảnh quan thiên nhiên Khu du lịch nghỉ mát thị xã Sầm Sơn được thiên nhiên ưu đãi. Phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp sông Đơ, phía bắc giáp sông Mã, phía nam có núi Trường Lệ. Phần lớn đất đai là ruộng canh tác và các điểm dân cư kiểu làng xóm. Khu vực xây dựng nhà nghỉ khách sạn còn ít, nhiều công trình là do dân tự ý xây dựng. Đan xen với nhà ở trong làng là một số công trình di tích, đình, chùa làm nên cảnh quan chung của khu vực. 2.2.5.3 Hiện trạng san nền, thoát nước mưa: Địa hình thị xã Sầm Sơn khá bằng phẳng và chia làm 2 cấp. Phía Tây đường Thanh niên, địa hình cao, dốc dần từ Đông sang Tây, thoát nước mưa tự chảy thuận lợi. Nhưng do chỉ mới đầu tư được: 4000 m mương và 9000 m cống thoát nước nên về mùa mưa nhiều nơi vẫn bị ngập úng cục bộ từ 3 đến 5 ngày. Phía Đông đường Thanh niên địa hình thấp phải san nền, tạo dốc để nước thoát tự chảy. Cốt khống chế >=+2,8 m. Do chưa đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước ở khu vực này nên nước mưa chủ yếu chảy tràn ra biển, có nơi có lúc làm phá hỏng cả đường Hồ Xuân Hương. Một số cơ sở bị đọng nước úng ngập nhiều ngày gây ô nhiễm môi trường. Hệ thống cống rãnh thoát nước mưa đều đã xuống cấp nghiêm trọng. Một số rãnh nắp đan ven đường đã hư hỏng, ga thu nước đã bị rác làm cho tắc nghẽn. Các cống thoát nước mưa cũng không được bảo dưỡng định kỳ nên cũng ở trong tình trạng tắc nghẽn không đảm bảo yêu cầu thoát nước mặt. Trong quá trình xây dựng đô thị nhiều miệng xả đã bị bịt kín gây hiên tượng chảy tràn nước mưa và gây ngập. 2.2.5.4 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật khác: a/ Về giao thông: Hệ thống mạng lưới giao thông thị xã được hình thành theo kiểu bàn cờ cho khu nội thị, khu ngoại thị chủ yếu là đường đất đá, hình thành theo khu dân cư chưa được quy hoạch. Kết cấu mặt đường cho toàn thị xã được chia làm 3 loại chủ yếu: + Đường nhựa át phan gồm 19 tuyến chủ yếu phân bổ ở trung tâm thị xã. Tổng chiều dài khoảng 17 km, các tuyến này cơ bản đã được quy hoạch ổn định, phục vụ chính việc đi lại, thăm quan, du lịch, nghỉ mát cho nhân dân và khách trong ngoài thị xã, là tuyến chính cho việc giao thông của thị xã. + Đường BTXM chủ yếu là đường lên núi Trường Lệ và một số đường nhánh khu nhà nghỉ và khu dân cư gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 3,6 km. Tổng diện tích mặt đường BTXM là 18.200 km2, diện tích đất chiếm khoảng 43.680 m2. Đây là những tuyến xây dựng mới phục vụ cho giao thông đi lại cho khách và nhân dân, thăm quan, nghỉ mát. Mật độ tập trung chủ yếu ở khu núi Trường Lệ như đường lên núi Cô Tiên, Chùa Độc Cước... + Đường đất đá: Là những đường phân bố hầu hết ở khu dân cư nội thị ngoại thị, đường được hình thành tự nhiên chưa được quy hoạch, đường và ngõ phố xen lẫn nhau gồm 28 đoạn tuyến. Tổng chiều dài gần 54,3 km mặt đường phân bố không đều rộng từ 3,5 – 9 m với tổng diện tích đất 238.575 m2. Đây là những tuyến giao thông phục vụ chính trong khu dân cư nội thị, cần được cải tạo nâng cấp và quy hoạch lại đưa hệ thống cấp thoát nước của thị xã vào phục vụ bảo đảm vệ sinh môi trường sạch đẹp chung cho thị xã. Tổng diện tích đất đô thị: 1.790 ha Tỉ lệ diện tích đường: 69,9645/1.790 = 3,9% Mật độ đường: 66,335/17,90 = 3,705km/km2 b/ Về nguồn nước: Nguồn nước Nhà máy nước Lương Trung công suất thực tế 400 m3/ ngày đêm không đáp ứng được yêu cầu dùng nước của thị xã, do đó hầu hết các nhà nghỉ, khách sạn cơ quan dùng nước giếng khoan mạch nông để cấp cục bộ cho từng đơn vị. Nhân dân thị xã hầu hết dùng nước giếng khơi. Qua kiểm tra chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại thị xã Sầm Sơn của Sở khoa học công nghệ – môi trường thấy rằng nước cấp sinh hoạt bị ô nhiễm nặng, có nơi rất nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của sự ô nhiễm là do nước thải sinh hoạt ngấm qua đất cát lây sang nguồn nước ngầm. Mạng lưới đường ống cấp nước: Tuyến đường D150 từ đài nước đến nhà máygồm đường Nguyễn Du, Nguyễn Hồng Lễ, Ngô Quyền Đài nước: Đài nước có dung tích W = 850 m3, đặt tại phía Đông Bắc núi Trường Lệ Đài nước có dung tích W = 500 m3, xây dựng trên núi Sầm Sơn Thoát nước bẩn: Hệ thống thoát nước của thị xã rất đơn giản, chưa được đầu tư xây dựng. Hiện tại mới có 4 tuyến thoát nước chính ở khu trung tâm, nhưng vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh theo quy hoạch gồm 3 tuyến mương thoát nước tấm đan dọc 2 bên đường Lê Lợi, Nguyễn Du và đường Thanh niên, tổng chiều dài khoảng L = 4.300 m. Một tuyến thoát nước dọc 2 bên đường Bà Triệu, bằng cống ngầm BTXM dài L = 900 m. Còn lại thoát nước của thị xã là tự thấm, tự chảy, kết hợp với một số tuyến mương nhỏ trong các nhà nghỉ, cơ quan nội thị đổ ra 4 tuyến mương, cống chính của thị xã và đổ ra biển. Nhìn chung hệ thống thoát nước của thị xã chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại, còn gây ứ đọng, ô nhiễm môi trường, chủ yếu là thoát theo tự nhiên, gây ô nhiễm và ách tắc giao thông khi có mưa lớn. Cấp điện: Nguồn điện cấp cho thị xã Sầm Sơn bằng lộ 35 KV từ trạm trung gian núi dẫn về. Tại xóm Thắng đã xây dựng đợt đầu trạm trung gian công suất 4000 KV điện áp 35/10 KV. Trạm biến áp hạ thế hiện có 29 trạm với tổng công suất 8570 KVA, có 13,5 km đường dây 10 KV và 40 km đường dây 0,4 KV. Hầu hết lưới điện cao hạ thế là dây trần, cột BTCT. Chất lượng cung cấp điện đã được cải thiện một bước: an toàn và liên tục hơn. Điện chiếu sáng trên đường phố đã xây dựng được 3 km trên các phố: Nguyễn Du, Lê Lợi, Hồ Xuân Hương... bằng đèn cao áp thuỷ ngân. Điện trang trí đô thị chưa có. Cây xanh: Mấy năm qua thị xã Sầm Sơn đã tiến hành trồng được nhiều cây xanh trên núi, ven biển, dọc theo các đường phố và trong các khu dân cư. Màu xanh đã tô điểm cho thị xã thêm đẹp, dịu dàng, mát mẻ. Diện tích đất trồng cây xanh còn ít: 3 m2/ người. Tuy nhiên việc lựa chọn cây quí, cây có hình dáng đẹp để trồng chưa nhiều, công viên, vườn hoa tiểu cảnh chưa có gì đáng kể. Một khuôn viên nhỏ ở khu trung tâm chỉ mới bắt đầu xây dựng. Vệ sinh môi trường đô thị Thị xã đã đầu tư xây dựng một khu xử lý rác thải ở phía Tây ( ven sông Đơ ) diện tích 5 ha, đủ dùng cho 10 ha, lượng thu gom đạt 21,6%. Vệ sinh trong các nhà nghỉ và đường phố 2 năm qua đã có nhiều tiến bộ. Vệ sinh trên bãi cát và nước biển được quan tâm chu đáo hơn nhưng chưa được sạch sẽ. Mỗi ngày thu gom được 12,1 tấn rác trên toàn thị xã. Nhiều hộ dân cư đã xây dựng hố xí tự hoại hoặc bán tự hoại, số còn lại sử dụng xí 2 ngăn. Nghĩa địa đang là vấn đề lớn cần giải quyết gấp. Vẫn còn tình trạng chôn cất rải rác nhiều nơi. Xen kẽ trong các khu dân cư. Thông tin liên lạc: Đã được đầu tư nâng cấp khá hiện đại, đảm bảo thông tin liên lạc đi các nơi trong và ngoài nước thuận lợi. Toàn thị xã hiện có 1025 máy, bình quân 19 máy/1000 dân. Thông tin di động đã được phủ sóng. Các dịch vụ khác đều đảm bảo yêu cầu. CHƯƠNG III: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU VỰC ĐÔ THỊ 3.1 Dự kiến phát triển kinh tế xã hội và phát triển dân số đến năm 2020: - Thị xã Sầm Sơn có nguồn lao động rất dồi dào, các ngành nghề phong phú như dịch vụ du lịch, giao thông vận tải, thủ công ngiệp, nuôi trồng thuỷ sản . Thị xã Sầm Sơn là một đô thị trẻ có sức sống được hình thành từ 3 phường trung tâm và 2 xã đều có cơ sở hạ tầng tốt như mạng lưới giao thông, cấp điện cấp nước như đã nêu ở hiện trạng. Thị xã Sầm Sơn có bã tắm đẹp, hệ thống nhà nghỉ tuy chất lượng còn thấp nhưng số lượng tương đối lớn, rất thuận tiện cho phát triển một đô thị nghỉ mát. Tiềm năng: + Về đất đai xây dựng: Sầm Sơn hiện có 1790 ha đất tự nhiên Trong đó 67,4 ha ở Trung Sơn và 9 ha ở Vinh Sơn có thể phát triển nhà nghỉ, khách sạn Có 148 ha trên núi Trường Lệ có thể tổ chức thành công viên văn háo du lịch Có 52 ha ở Quảng Cư có thể quy hoạch xay dựng thành khu du lịch sinh thái Có dải đất ven sông Mã quy hoạch thành bến cảng, cơ sở chế biến hải sản, đóng sửa tàu thuyền Bãi cát ven biển thuộc phường Trung Sơn dài 2,5 km và bãi cát ven biển thuộc xóm Vinh Sơn dài 1 km có khả năng đưa vào phục vụ tắm biển rất tốt và an toàn. Thị xã Sầm Sơn có mối liên hệ với các nơi du lịch khác trong tỉnh rất thuận lợi và có điều kiện để phát triển kinh tế biển. - Dự báo dân số đến năm 2020: 78.000 người Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm: 1,5% Trong đó: + Tăng cơ học: 0,2% + Tăng tự nhiên: 1,3% 100% dân số nội thị Dân số tăng so với hiện nay là 23.500 người Bình quân một năm tăng: 1.175 người. - Dân số thuộc thành phần khách nghỉ: 19.000 người - Dân số thuộc thành phần phục vụ nơi khác đến: 2.800 người. Tổng cộng dân số trung bình vào mùa hè: 99.800 người. 3.2 Định hướng phát triển không gian kiến trúc - Đất phát triển khu trung tâm dọc theo đường Lê Lợi và đường Nguyễn Du. - Đất phát triển nhà nghỉ, bãi tắm nằm phía Đông đường Nguyễn Du từ phường Trường Sơn đến Quảng Cư và khu bãi cát xóm Vinh Sơn tương lai phát triển về phía Nam Sầm Sơn sang khu vực Quảng Hùng, Quảng Vinh. - Đất công viên, du lịch sinh thái tại khu đầm hồ Quảng Cư và khu vực núi Trường Lệ. - Đất xây dựng công nghiệp - kho tàng - bến cảng được xây dựng ở Lạch Hới thuộc xã Quảng Tiến. - Đất dân cư mở rộng tại chỗ. 3.2.1 Tổ chức cơ cấu không gian quy hoạch đô thị a. Đất ở: Đất ở hiện nay trên cơ sở đất ở hiện có được chỉnh trang lại theo hướng kiên cố hóa. Đa dạng hóa theo các hình thức đầu tư xây dựng và quản lý nhà ở. Khuyến khích xây dựng nhà ở chung cư cao tầng cho các thành phần phục vụ ở Sầm Sơn. - Đất ở nội thị thuộc hai phường Bắc Sơn và Trường Sơn cần cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các khu ở hiện có theo quy hoạch chi tiết. Các lô đất ở cần được quản lý tốt cốt san nền, chỉ giới xây dựng, đường đỏ, cần đầu tư cây xanh vỉa hè, được chiếu sáng. - Đất ngoại thị: Cần khai thác quỹ đất hiện có trong khu ở kiểu làng xã, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông lâm ngư nghiệp sang dịch vụ du lịch. Phấn đấu nhà ở ngoại thị xây dựng đảm bảo chiều cao 1,5 tầng, mật độ xây dựng các lô đất đạt 30% đến 50%. Đất ở cho đô thị được cân đối đủ cho 30 m2/người. Riêng khu làng xóm thuộc xã Quảng Cư chuyển dịch đất ở nông nghiệp sang làm dịch vụ du lịch, xây dựng mô hình du lịch làng nông nghiệp, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Để khách du lịch có thể ở với dân, thăm quan phong tục tập quán của dân trong khu làng kết hợp với khu du lịch sinh thái thành quần thể du lịch, nghỉ cuối tuần. b. Đất công trình công cộng: - Trung tâm Hành chính - chính trị: Cơ bản giữ nguyên các vị trí xây dựng như hiện nay là phù hợp (phía Tây đường Nguyễn Du từ Thị Đội đến nhà hát Nhân Dân) chỉ cần nâng cấp tôn tạo các công trình đã có, xây dựng mới một số cơ quan. - Trung tâm thương mại dịch vụ: + Xây dựng các bãi tắm, khu du lịch, dọc hai bên đường ra biển tại các vị trí thích hợp, các nhà ăn uống giải khát, hàng lưu niệm, tắm nước ngọt đáp ứng yêu cầu của khách. + Khu trung tâm hành chính ở Nam đường Lê Lợi và phía Đông đường Nguyễn Du (từ nhà nghỉ lương thực đến đường 1 B) - Trung tâm khu vực: Mỗi phường xã đều có một trung tâm hành chính kết hợp dịch vụ - văn hóa thể thao. Mỗi khu ở, mỗi đơn vị ở đều dành đất bố trí các công trình phục vụ thích hợp, đáp ứng yêu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân… Đất công cộng cân đối đủ cho 5 m2/ người. c. Đất cây xanh đô thị: Đất cây xanh đô thị cân đối đủ cho 7 m2/ người. - Trung tâm văn hóa thể thao chọn đất theo đồ án cũ khu vực ruộng phía Tây phường Trường Sơn với diện tích 34 ha. Đây là trung tâm cây xanh của đô thị, được đầu tư một sân vận động, một công viên trung tâm. - Trong khi chưa có kinh phí đầu tư khu sân vận động và cây xanh nói trên trước mắt đầu tư khu công viên cây xanh và thể thao tại trung tâm thị xã khu vực nhà hát Nhân Dân hiện nay. - Lâu dài phải đầu tư hai khu công viên cây xanh tại phường Trung Sơn và Quảng Tiến kèm theo các công trình vui chơi giải trí, vườn hoa, thể dục thể thao để phục vụ dân tại chỗ và khách du lịch. d. Đất giao thông đô thị: Đất giao thông đô thị được cân đối 18 m2/ người. Trước mắt cần được đầu tư thảo đáng các tuyến đường trục chính như Nguyễn Du kéo dài đi Quảng Cư, tuyến vành đai, tuyến lên núi Trường Lệ, hướng dành đất giao thông cho năm 2020 là 154 ha. e. Đất công nghiệp kho tàng: - Xây dựng khu công nghiệp chế biến hải sản, đóng cửa tàu thuyền, dịch vụ xăng dầu, nước ngọt, nước đá nằm phía Bắc xã Quảng Tiến và Quảng Cư. - Tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tổ chức trong các khu dân cư và các hộ gia đình. - Cảng Cá, dịch vụ xăng dầu, nước ngọt nước đá, dịch vụ hải sản nằm ở phía Bắc xã Quảng Cư. - Cảng công nghiệp, đóng cửa tàu thuyền, bốc xếp vật liệu xây dựng được bố trí phía Tây Bắc xã Quảng Tiến. f. Đất du lịch nghỉ mát: Khu đất chọn xây dựng nhà nghỉ và khách sạn được tuân thủ và bố trí theo đồ án cũ đã duyệt nằm phía Đông đường Nguyễn Du từ phường Trường Sơn lên đến xá Quảng Cư. - Khu khách sạn nhà nghỉ đã xây dựng từ núi Trường Lệ lên đến đường Lê Thánh Tông, cần chỉnh trang lại, tận dụng triệt để các khu đất trống, đầu tư trồng thêm cây xanh. Xây dựng thêm khu vực vui chơi giải trí trong các khu nhà nghỉ. - Khu khách sạn mới dự kiến từ đường Lê thánh Tông đến đường mới nằm trên đường Hai Bà Trưng (chạy từ cảng Lễ Môn qua UBND xã Quảng Tiến ra biển Đông). - Một phần đất nằm tại xóm Vinh Sơn phía Nam núi Trường Lệ có diện tích khoảng 9 ha đầu tư xây dựng nhà nghỉ để khai thác khu vực bờ biểu này. g. Đất công viên, du lịch sinh thái: * Đất công viên: Đất công viên phục vụ du lịch (nằm ngoài phần đất cây xanh trong khu dân dụng) là toàn bộ khu vực núi Trường Lệ. - Tu bổ, tôn tạo các di tích danh thắng đã có như: Hòn Trống Mái, đền Độc Cước, Đền Cô Tiên, Đền Tô Hiến Thành. - Trồng cây xanh, cây cảnh, vườn hoa cho từng khu vực theo phong cách khác nhau. - Xây dựng những công trình kiến trúc - văn hóa tiêu biểu của Thế giới theo 5 khu vực đặc trưng cho 5 Châu lục kèm theo các lễ hội truyền thống, món ăn truyền thống, ca múa nhạc truyền thống của mỗi Châu lục, mỗi Quốc gia khác nhau nhằm giới thiệu cho khách trong và ngoài nước hiểu được phần nào thế giới của chúng ta, tăng tình đoàn kết hữu nghị hòa bình. - Xây dựng đường xe điện treo vòng quanh núi, đường bộ thuận tiện. Khoan núi để làm thủy cung và khu biểu diễn cá heo ở Vinh Sơn (gần với đền Cô Tiên). - Xây dựng tượng Bác Hồ, nhiều tượng đài khác. - Xây dựng các công trình dịch vụ, ngắm cảnh, Píc nic cắm trại trên núi Sầm Sơn. - Bố trí một số nhà nghỉ kiểu biệt thự loại đặc biệt, không bố trí khách sạn, nhà nghỉ lớn ở đây. - Bảo vệ an toàn các công trình Quốc phòng, An ninh. * Khu du lịch sinh thái Quảng Cư: Nét đặc trưng của khu vực này là: Có nhiều hồ lớn, vừa giáp biển Đông, nơi nuôi trồng hải sản thuận lợi, khí hậu trong lành, cảnh quan đẹp, gần khu vực cung ứng thực phẩm tươi sống đánh bắt từ biển về và tại chỗ nơi đây thật yên tĩnh. Do đó có thể xây dựng ở đây một khu nghỉ thấp 2-3 tầng, cá biệt có vài ba nhà cao tầng (9 12 tầng) phục vụ khách du lịch, nghỉ dưỡng. Các hoạt động ở đây có thể bố trí được như: Câu cá, bơi thuyền, lướt ván, tìm hiểu phong tục tập quán của dân cư chài lưới, thưởng thức các món ăn dân tộc, ăn đặc sản, chơi các môn thể thao trí tuệ, khí công… v.v. Các hoạt động của các nhà nghiên cứu, nhà văn… Đến nghỉ, nghiên cứu, sáng tác cũng rất phù hợp. Mật độ xây dựng khống chế 510% đất xây dựng. Nhà cửa nằm lẫn khuất trong các khu cây xanh um tùm, luôn vang tiếng chim hót suốt cả ngày. * Đất giao thông đối ngoại: - Giao t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThuyetMinh.docx
  • dwg1.LIEN HE VUNG.dwg
  • dwg2 .HIEN TRANG.dwg
  • dwg4. DINH HUONG PHAT TRIEN KHONG GIAN.dwg
  • docPHƯƠNG ÁN.doc
Tài liệu liên quan