Khái niệm, đối tượng, nội dung, chức năng, phương pháp nghiên cứu kinh tế ngoại thương

Lời mở đầu 1

Phần I. Lý luận chung 2

Khái niệm, đối tượng, nội dung, chức năng, phương pháp nghiên cứu kinh tế ngoại thương. 2

1. Khái niệm 2

2. Đối tượng nghiên cứu 2

3. Chức năng của ngoại thương. 3

4. Phương pháp nghiên cứu. 3

II. Ngoại thương Trung Quốc trước thời kỳ cải cách mở cửa 4

Phần II. Nội dung 6

I. Ngoại thương Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa 6

Kết luận 21

Các tài liệu tham khảo

doc23 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 15/09/2015 | Lượt xem: 1449 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khái niệm, đối tượng, nội dung, chức năng, phương pháp nghiên cứu kinh tế ngoại thương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uốc là 18,9%. Theo thống kê của Chính phủ Trung Quốc, trong thời gian 10 năm (1978-1987) thì hoạt động ngoại thương của Trung Quốc tăng 4 lần, sản xuất công nghiệp sản xuất công nghiệp tăng 2,5 lần, sản xuất Nông nghiệp tăng 2,25 lần. Như vậy rõ ràng là tôc độ phát triển của ngoại thương tăng nhanh hơn tốc độ phát triển của sản xuất. Điều đó chỉ ra rằng vai trò của ngoại thương tác động trở lại với sự phát triển kinh tế trong nước rất quan trọng. Trong hoạt động xuất nhập khẩu, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu và cơ cấu thị trường có nhiều thay đổi rõ rệt. Số lượng hàng thành phẩm công nghiệp xuất khẩu tăng nhanh, nhất là những mặt hàng truyền thống như quần áo, giầy dép, dụng cụ thể thao và các loại hàng thủ công mỹ nghệ..vv..Những mặt hàng này tỷ lệ suất mỗi năm tăng 18,5%. Năm 1980 những mặt hàng trên chiếm 25% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu. Chỉ riêng mặt hàng Giầy Dép của Trung Quốc xuất sang thị trường tư bản chủ nghĩa (Mỹ, Nhật, ý, Pháp) đã có giá trị 160 triệu USD. Việc xuất khẩu than và Dầu mỏ tăng nhanh, chiếm 21,5% trong tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu. Hoạt động này thu được kết quả trên cơ sở tăng sản lưọng khai thác và mở rộng thị trường buôn bán. Năm 1987, Trung Quốc đã xuất khẩu 27,2 triệu tấn Dầu, 13,5 triệu tấn Than trong đó 80% xuất sang Nhật, 20% xuất sang Mỹ. Bên cạnh đó Trung Quốc còn xuất một số loại nông phẩm sang thị trường Mỹ, úc, Pháp. Về nhập khẩu hướng theo chiến lược điều chỉnh nền kinh tế , Trung Quốc đã thay đổi chính sách nhập khẩu thiết bị kỹ thuật. Quan điểm của Trung Quốc chỉ nhập khẩu có chọn lọc thiết bị toàn bộ cho những công trình lớn nhưng rất cá biệt. Trung Quốc ưu tiên nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ để cải tạo các xí nghiệp cũ đã lạc hậu. Với quan điểm như vậy, Trung Quốc đã nhập công nghệ và kỹ thuật của trên 40 nước, chủ yếu là của Mỹ, Nhập Anh, Pháp, Tây Đức Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Trung Quốc còn tranh thủ vay vốn của quỹ tiền tệ quốc tế với điều kiện rất thuận lợi và chú trọng sử dụng nó có hiệu quả. Năm 1982 Trung Quốc đã vay của Ngân hàng thương mại quốc tế 10,8 tỷ USD để thanh toán tiền nhập khẩu thiết bị đồng bộ. Bên cạnh đó các nước Tây Đức, Anh, Nhật. Cũng cung cấp tín dụng dài hạn với lãi suất thấp ưu đãi cho Trung Quốc. Tháng 10 /1984 Tây Đức cho Trung Quốc vay 50 triệu Mác với lãi suất 2% trả trong 30 năm. Với chính sách mở cửa của Trung Quốc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư trực tiếp từ 1978-1985, vốn đầu tư của tư bản nước ngoài vào các xí nghiệp hợp doanh là 16,2 tỷ USD trong đó 5 tỷ USD đầu tư vao thăm dò và khai thác mỏ số còn lại là đầu tư vào công nghiệp nhẹ, công nghiệp điệu tử, hoá chất, luyện kim. Hoạt động đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào sản xuất., chiếm tới 70% trong tổng số xí nghiệp tư bản nước ngoài đầu tư do đó số xí nghiệp phi sản xuất chỉ chiếm 25% trong sự phát triển của các đặc khu kinh tế và thành phố mở cửa. Từ 1985-1988, Trung Quốc tiếp tục hoàn thiện vùng mở cửa ven biển bằng việc mở cửa đồng bằng sông Trường Giang, đồng bằng Sông Chu, vùng phía nam tỉnh phúc Kiến Sơn đông, bán đảo Liêu Đông, thành lập tỉnh đảo Hải Nam và chuyển thành đặc khu kinh tế lớn nhấp, đồng thời xây dựng 13 khu khai thác phát triển kinh tế ven biển đầu tiên ở Quảng Đông, phúc Kiến, Giang Tô. Tỉnh Quảng Đông năm 1979 giá trị sản phẩm sản xuất ra là 60 triệu nhân dân tệ (NDT) nhưng tới năm 1987 là 8 tỷ NDT. Như vậy mức tăng trưởng thật là thần lạ, gấp 120 lần. Nhìn chung trong những năm qua chính sách mở cửa đã đem lại những kết quả đáng chú ý. Tháng 10/19986 Trung Quốc tuyên bố bổ sung những khuyến khích đặc biệt cho các xí nghiệp hợp doanh về quyền hạn về sử dụng lợi nhuận lao động, đã bãi quyền độc quyền ngoại thương của các Công ty xuất nhập khẩu giao quyền cho các Công ty ngoại thương được thành lập theo ngành và theo lãnh thổ. ở Trung Quốc việc đầu tư của nước ngoài đã làm xuất hiện 5000 xí nghiệp hợp doanh, 120 xí nghiệp nước ngoài độc doanh. Tính tới 1987 đã có 40 nước trong thế giới tư bản đầu tư kinh doanh vào Trung Quốc với 8796 hợp đồng ký kết và Trung Quốc đã sử dụng 31,9 tỷ USD vốn đầu tư của nước ngoài. Trong quá trình hợp tác kinh tế Trung Quốc đã sử dụng 7 nghìn kỹ sư, kỹ thuật viên của các nước Anh, pháp, Mỹ, Nhật. Trong hoạt động hợp tác đa phương, tính đến năm 1983 sau hơn 20 năm gián đoạn, Trung Quốc và Liên Xô đã nối lại quan hệ kinh tế. Năm 1985, Liên Xô đã giúp Trung Quốc cải tạo lại 14 công trình công nghiệp cũ và xây dựng 7 công trình công nghiệp mới. Với các nước Đông Âu trong khối SEG từ năm 1984 bắt đầu quay lại hợp tác với Trung Quốc. Các nước này nhận giúp Trung Quốc cải tạo 79 công trình công nghiệp trị giá 80 triệu USD cho các ngành chế tạo máy, luyện kim, hoá chất điện tử trong quan hệ hợp tác với các nước thuộc khu vực Châu á - Thái Bình Dương, Trung Quốc đã thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với các nước như Hồng Công, Ma Cao, Đài Loan. Hồng Kông và Ma Cao là hai khu vực nhỏ thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc. Tuy vậy nhờ vị trí địa lý thuận lợi, có trình độ kinh tế phát triển khá cao, có thể chế kinh tế tự do cao độ nên Hồng Kông và Ma Cao không những đóng vai trò cầu nối kinh tế giữa Trung Quốc đại lục với thế giới mà còn là nơi cung cấp quan trọng về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và việc làm chọ lục địa. Năm 1978 mức buôn bán giữa đại lục Trung Quốc với Hồng Kông, Ma Cao là 2,6 tỷ USD. Tăng trưởng kinh tế tốc độ cao của Trung Quốc còn gắn chặt với sự tăng nhanh xuất khẩu hàng chế biến sử dụng nhiều lao động. Tỷ trọng loại hàng hoá này năm1985 là 49% trong tổng giá trị xuất khẩu. Cửa ngõ chính để Trung Quốc xuất khẩu là Hồng Kông. Năm 1980 tỷ lệ tái xuất khẩu của Hồng Kông là 30,5% và tỷ lệ này tăng cường quan hệ mẫu dịch Trung Quốc- Hồng Kông. Với Đài Loan, ngay khi thực hiện chủ trương cải cách mở cửa kinh tế vào cuối năm 1978, Chính phủ Trung Quốc đã thầy rõ vai trò kinh tế của Đài Loan đối với đại lục. Trong khoảng 5 năm đầu (1979-1984) đầu tư của Đài Loan tại đaị lục phần lớn mang tính lẻ tẻ, thăm dò, quy mô nhỏ bé.. nhưng kể từ sau năm 1984, đặc biệt từ đầu năm 1987 nhịp độ đầu tư đã phát triển rất nhanh. Qua đó ta thấy được mối quan hệ mật thiết không thể tách rời giữa Trung Quốc với khu vực Châu á - Thái Bình Dương và ngược lại giữa Châu á - Thái Bình Dương với Trung Quốc và mối quan hệ này sẽ không được phát triển trong những năm tiếp theo. Không chỉ mối quan hệ Trung Quốc với các nứoc Châu á - Thái Bình Dương, mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước thuộc Đông Bắc á cũng rất khăng khiết. Do từng điều kiện cụ thể của mỗi nước khác nhau. Có những nước tài nguyên thiên nhiên phương pháp như Trung Quốc, Nga, Mông Cổ, có những nước nghèo nàn thiếu thốn nguồn tài nguyên như Nhật Bản, Hàn Quốc. Có những nước cần đẩy mạnh xuất khẩu tư bản, kỹ thuật như Nhật Bản, Hàn Quốc, có những nước cần thu hút số lượng lớn tư bản và kỹ thuật vào như Mông Cổ, Nga, Trung Quốc. Có dư thừa sức lao động như Trung Quốc, Triều Tiên, có nước lại thiết sức lao động như vùng Viễn Đông Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc. Vì vậy yêu cầu khách quan bổ sugn lấn nhau về kinh tế là đặc điểm nổi bật nhất của các nước Đông Bắc á. Đây là cơ sở khách quan rất thuận lợi cho sự kết hợp một cách hiệu quả nhất hợ lý nhất các yếu toó sản xuất bao gồm vốn, ký thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật Bản, Hàn Quốc với tài nguyên thiên nhiên như của Nga, Mông Cổ và sức lao động của Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản chiếm vị trí quan trọng nhất trong hợp tác kinh tế Đông Bắc. Từ năm 1972 Trung Quốc và Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao và nhờ đó quanhệ kinh tế đã phát triển thuận lợi tiền vốn từ Nhật Bản vào Trung Quốc năm 1983 là 0,95 tỷ USD, chiếm 48,2% vốn nước ngoài Trung Quốc thu hút được đến năm 1985 số tiền này tăng lên 1,59 tỷ USD chiếm 34,2%. Qua việc buôn bán, đầu tư Trung Quốc mở rộng việc hợp tác với Nhật ở các ngành gia công xuất khẩu. Trong một số lĩnh vực như sản xuất xeôtô, cmáy móc điện tử và đồ dùng gia đìnhv..v.. Trung Quốc thông qua việc nhập linh kiện, thiết bị của Nhạt để gia công xuất khẩu, bằng phương thức này Trung Quốc có thể lợi dụng được kỹ thuật của Nhật kết hợp với lao động giá rẻ còn rất dồi dào để sản xuất ra những mặt hàng đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc làm này đã góp phần không nhỏ vào việc hiện đại hoá nền công nghiệp Trung Quốc. Ngoài quan hệ mang tính bổ sung cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc còn quan hệ với Nga dưới hình thức là Trung Quốc xuất khẩu các mặt hàng sang Nga bởi nước Nga có đường biên giới chung rất dài với Trung Quốc, có trữ lượng tài nguyên rất lớn và rất thiếu nhân công ở vùng Viễn Đông. Từ sự phân tích quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước Đông á cho thấy Trung Quốc không thể phồn vinh được nếu thiêú sự hỗ trợ của kinh tế Đông á và ngược lại; để phát triển hơn nữa Trung Quốc cần đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với khu vực, đó là yêu cầu khách quan để phát triển nhanh sức mạnh kinh tế của quốc gia này. Nhìn chung hoạt động ngoại thương của Trung Quốc trong giai đoạn này cũng đã thu được những thành tự đáng kể taọ ra cơ sở và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ở giai đoạn sau. Giai đoạn 2: Từ năm 1988 đến nay. Trong giai đoạn này quá trình cải cách ngoại thương Trung Quốc được tiến hành một cách triệt để tạo ra những bước phát triển lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Trung Quốc. Quá trình này trải qua 3 giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất, từ 1988 đến 1990. Đây là giai đoạn bắt đầu thí điểm hệ thống hợp đồng trách nhiệm trong lĩnh vực ngoại thương. Chính phủ đã đình chỉ việc trợ cấp tài chính trong xuất khẩu đánh giá và quy định mức độ kinh tế của các địa phương, các Công ty ngoại thương khác nhau. Một hệ thống điều tiết vĩ mô về ngoại thương đã bắt đầu hoạt động. Chính phủ kiểm soát các hoạt động ngoại thương thông qua các biện pháp kinh tế khác nhau như: giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi suất và việc cắt giảm thuế đối với xuất khẩu. Từ tháng 10/1998 chức năng của Bộ ngoại thương cũng đã được đổi mới; ngoài việc nghiên cứu xác định chiến lược phát triển ngoại thương, quản lý giấy phép, hạng ngạch xuất nhập khẩu ra còn chịu trách nhiệm kế toán ngoại hối, giám sát quản lý công tác thống kê, chỉ đạo công tác kinh doanh và kế toán tài vụ của các xí nghiệp ngoại thương, tham gia điều tiết mức thuế và cân đối công tác ngoại thương giữa các khu vực. Trong giai đoạn này Trung Quốc giảm sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh doanh và phân phối nguồn lực làm sống động các doanh nghiệp. Nhưng cũng trong giai đoạn này Trung Quốc gặp nhiều khó khăn vì sau sự kiện Thiên An môn năm 1989 các nước Phương Tây giảm dần các quan hệ nhằm trừng phạt Trung Quốc. Phía Trung Quốc vẫn tích cực tìm cách duy trì các hoạt động không cho chúng sụt xuốg tới mức quá thấp. Tháng 5 năm 1989. Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô Gooc – Ba Chop đã thăm Bắc Kinh và có cuộc hội đàm với Đặng Tiểu Bình. Đây là cuộc gặp đầu trên 30 năm đối đầu, thực hiện bình thường hoá quan hệ hai nước. Bắt đầu từ đây, việc trao đổi hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật quân sự đều đã phát triển. Trong quan hệ với Việt Nam thời kỳ này, quan hệ Việt Trung diễn ra náo nhiệt với việc buôn bán, trao đỏi hàng hoá thiết yếu giữa nhân dân các xã hai bên Ta sẽ xem xét mối quan hệ này ở phần sau. Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1991 đến 1993. Bắt đầu ừ giai đoạn này Chính phủ Trung Quốc đã huỷ bỏ hoàn toàn khoản trợ cấp tài chính của nhà nước đối với xuất khẩu, điều này buộc các chúng tôi phải tham gia vào các hoạt động ngoại thương một cách độc lập, trở thành người chịu trách nhiệm duy nhất về lợi nhuận và thát bại của họ. Cùng với việc giao quyền sản xuất, quyền kinh doanh ngoại thương cho các địa phương, Trung Quốc đã thực hiện cải cách thể chế kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện mở rộg phạm vi kinh doanh của lĩnh vực naỳ. Đối với xuất khẩu nhà nước quy định chỉ một số ít mặt hàng có liên quan đến lợi ích quốc gia. Một số ít hàng hoá khác tương đôiư quan trọng và có sức cạnh tranh mạnh được thực hiện theo kế hoạch có tính chỉ đạo còn lại phần lớn hàng hoá xuất khẩu được kinh doanh theo kiểu thả nổi tuỳ sự điều tiết của thị trường. Đối với nhập khẩu, cho phép các Công ty, xí nghiệp tự tổ chức và hoàn toàn chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Đối với motọ số ít hàng hoá nhập khẩu quan trọng có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, nhà nước chỉ định một số tổ chúng tôi ngoại thương tổ chức thực hiện. Một số hàng hoá tập trung trên thị trường thế giới và có giá cả biến động nhà nước sẽ phối hợp với các chúng tôi ngoại thương chuyên nghiệp định mức độ kế hoạch nhập khẩu. Nhờ những biện pháp trên mà từ 1/1991 Chính phủ Trung Quốc đã được quyền tự chủ cho 100 Công ty ngoại thương lớn. Nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, nhà nước đã đề ra chế độ khoán kinh doanh ngoại thương. Tổng chúng tôi ngoại thương trung ương giao khoán xuất khẩu trực tiếp cho các địa phương, các địa phương chịu trcsh nhiệm tổ chức xuất khẩu thu ngoại tệ về và giao nộp 70% được giữ lại 30% ở địa phương, chỉ tiêu khoán được giao cho các xí nghiệp và cơ sở ngoại thương. Việc cải cách hệ thống quản lý ngoại tệ đã giúp các chúng tôi có được nhiều ngoại tệ hơn cho các nhu cầu mở rộng tác đầu tư của họ. Đồng thời với việc thu hẹp, giới hạn các mặt hàng xuất nhập khẩu nhằm mở rộng tự do thương mại. Nhưng kết quả thu được từ quá trình cải cách trên. Với chủ trương “Mở cửa ra mọi hướng, đa bên hoá”, trong lĩnh vực thu hút vốn từ nước ngoài thì vốn tín dụng của Trung Quốc từ 1978 tới năm 1993 là 60 tỷ USD, trong thời gian ấy vốn đầu tư trực tiếp nứoc ngoài đã ký kết là 122,7 tỷ USD. Nhìn chung từ 1986 –1992 lượng vốn nước ngoài thu huts vào Trung Quốc tăng nhanh, bình quân hàng năm là 22,5%. Do cải cách mở cửa, lấy cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa làm mục tiêu đem lại cho sản xuất trong nước có nhiều tiên bộ, vì vậy kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc tiếp tục tăng lên. Năm 1993 đạt 195,7 tỷ USD. Năm 1978 ngoại thương Trung Quốc đứng thứ 32 thì năm 1992 vướn lên đứng thứ 11 trong nền kinh tế thế giới. Trong lĩnh vực đàm phán đa phương, tháng 5 năm 1991, Tổng bí thư Giang Trạch Dân thăm Liên Xô và ngoại thương hai nước đã ký hiệp định biên giới phía Đông Trung – Nga. Tháng 8-1991khi Liên Xô xảy ra sưh kiện 19-8 và sau đó 15 nước cộng hoà trở thành những quốc gia độc lập có chu quyền, Nga tuyên bố quyền kế thừa Liên Xô cũ, Trung Quốc lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với 15 nước cộg hoà này. Trong đó đặc biệt thiết lập quan hệ ngoại giao với cộng hoà Liên Bang Nga giao cộng hoà Liên Bang Nga vào ngày 27/12/1991. Tháng 12/1992, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Enxin, mậu dịch hai chiều phát triển mạnh mẽ đặc biệt là buôn bán giữa hai nước đã lên đến 5,8 tỷ USD, vượt mức buôn bán cao nhất năm 1993 à 7,6 tỷ USD giữa Liên Xô và Trung Quốc trước đây (4,3 tỷ USD năm 1991) Đối với các nước ở khu vực đôi bờ eo biển như Hồng Kông, Ma Cao , trong khoảng thời gian từ năm 1978 đến năm 1993, mức buôn bán giữa đại lục Trung Quốc với hai nước này tăng hơn 10 lần, từ 2,6 tỷ USD lên tới hơn 27,5 tỷ USD. Trong một thời gian dài Hồng Kông, Ma Cao là bạn hàng lớn thứ nhất của Trung Quốc chỉ riêng năm 1990 tổng kim ngạch buôn bán giữa Trung Quốc với Hồng Kông đạt 26,4 tỷ USD với MaCao đat 580 triệu USD. Với Đài Loan, năm 1992 ngày càng có nhiều chúng tôi lớn của Đài Loan đầu tư vào Đại lục, năm 1992 kim ngạch buôn bán giữa đại lục, và Đài loan là 7,39 tỷ USD gấp hơn 23 lần so với năm 1980, năm 1993 là 14,39 tỷ USD gấp 45 lần năm 1980. Đối với các nước ở Đông Bắc á, năm 1991 tiền vốn từ Nhật Bản vào Trung Quốc là 1,8 tỷ USD tăng hơn so với các năm 1983,1985. Năm 1993 số dự án đầu tư của các xí nghiệp Nhật Bản và Trung Quốc tăng lên 93,2% tỷ USD. Trung Quốc với Hàn Quốc đến 8/1992 mới bình thường hoá quan hệ và năm đó Hàn Quốc đã là bạn hàng buôn bán thứ bảy của Trung Quốc. Như vậy trong thời kỳ này lĩnh vực ngoại thương của Trung Quốc đã thể hiện cơ chế mới bằng việc thực thi các chính sách một cách thống nhất, cạnh tranh lành mạnh và độc lập trách nhiệm đối với lợi nhuận và thiệt hại. Thêm vào đó hệ thống kiểm soát vĩ mô về ngoại thương cơ bản đã được hình thành. Giai đoạn thứ 3: Từ năm 1994 đến nay. Trung Quốc lại tiến thêm một bước nữa trong việc cải cách tổ chức tài chính, Ngân hàng, ngoại hối, đầu tư và lưu thông đối với hệ thống ngoại thương. Chế độ hai tỷ giá bị huỷ bỏ, thống nhaaats giá của đồng nhân dân tệ với các ngoại tệ khác, chủ yếu dựa vào thị trường cung và ngoại tệ. Thị trường giao dịc ngoại tệ giữa các Ngân hàng đã được thành lập, nhừam trợ giúp cho cơ chế xây dựng tỷ giá hối đoái và nhận ra những tác động có thể làm thay đổi đồng NDT đối với tài khoản hiện hành. Cuộc cải cách về tỷ giá hối đoái đã thúc đẩy cải cách trong hệ thống quản lý nhập khẩu. Một số quy định hạn chế phi thuế quan bị huỷ bỏ hoặc bị giảm bớt, đã mở rộng thêm. tự do cho hoạt động nhập khẩu. Trong giai đoạn này các hoạt động buôn bán với các nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Đến năm 1994 Trung Quốc đã thoát khỏi tình trạng nhập siêu, chuyển sang xuất siêu và thay đổi cơ cấu nhòm hàng xuất khẩu. Thị trường xuất nhập khẩu của Trung Quốc trải khắp các quốc gia trên thế giới cơ cấu hàng công nghiệp chế biến trong trị gía xuất khẩu từ 49% năm 1980 tăng lên trên 86% năm 1995. Kim ngạch ngoại thương tăng từ 13% năm 1978 đến 30% năm 1995, từ 36 tỷ USD lên 300 tỷ USD. Trong hoạt động thương mại với nước ngoài, Trung Quốc không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước buôn bán chuyển khẩu qua Hồng Kông giữa Đại lục với các nước thuộc khu vực với Đài loan và đại lục đều theo đuổi chiến lược xuất khẩu hướng vào các thị trường Nhật Bản,Mỹ. Với Hồng Kông và MaCao, tăng trưởng kinh tế tốc độ cao của Trung Quốc trong những năm qua gắn chặt với sự tăng nhanh xuất khẩu hàng chế biến sử dụng nhiều lao động tỷ trọng loại hàng hoá này năm 1994 là 88% trong tổng giá trị xuất khẩu, cửa ngõ chính để Trung Quốc xuất khẩu là Hồng Kông, sau sự kiện Hồng Kông trở về Trung Quốc ngày 7/7/1997, Trung Quốc đã đưa nhiều biện pháp mới nhằm phát huy thế mạnh vốn có của kinh tế Hồng Kông và tăng thêm sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế Trung Quốc. Tháng 12/1999, Trung Quốc lại tiếp tục thu hồi MaCao nơi có nền kinh tế phát triển đây là điền kiện thuận lợi hơn cho Trung Quốc trong việc làm ăn buôn bán với các nước phát triển trên thế giới. Trong quan hệ với Nhật Bản, mậu dịch giữa Trung Quốc và Nhật Bản, mậu tăng từ 1,1 tỷ USD năm 1972 lên 46,2 tỷ USD năm 1994. Năm 1995, buôn bán hai chiều đạt 57,8 tỷ USD, tăng 25% so với năm 1994 trong đó xuất khẩu của Nhật sang Trung Quốc là 21,9 tỷ USD tiền vốn từ Nhật Bản vào Trung Quốc cũng tăng lên không ngừng sau bài nói chuyện trong chuyến đi thăm Miền Nam Trung Quốc của Đặc Tiểu Bình, đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc tăng mạnh hơn. Tính đến hết năm 1995, số dự án đầu tư của các Xí nghiệp Nhật Bản vào Trung Quốc lên tới 13249, tổng số vốn đã ký là 21,2 tỷ USD, xếp sau Hồng Kông, áo Môn, Đài Loan, Mỹ. Với Hàn Quốc mậu dịch bai chiếu giữa hai nước đến năm 1997 đã lên tới gần 11 tỷ USD, vì những nhu cầu hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc với Hàn Quốc tương tự như Nhật Bản với Trung Quốc nên sau khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, quan hệ kinh tế song phương giữa 2 quốc gia này không ngứng tăng tiến, tạo lợi thế phát triển cho nhau. Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Nga trong những năm đầu thập niên 90 có sự phát triển chưa từng thấy trong lịch sử quan hệ kinh tế giữa hai bên riêng năm 1995 hai bên đã kỹ trên 40 hiệp định hợp tác về nhiều mặt. Trung Quốc đã ký trên 40 hiệp định hợp tác về nhiều mặt Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn thứ hai của Nga sau Đức còn Nga trở thành bạn hàng lớn thứ bảy của Trung Quốc. Đến năm 1996 kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 7 tỷ USD trong đó Trung Quốc nhấp khẩu từ Nga 3,7 tỷ USD, tăng 67% so với năm 1995. Dự kiến năm 2005 sẽ đạt tới 20 tỷ USD. Trong quan hệ kinh tế với các nước khác đến 15/11/1999 Trung Quốc và Mỹ đã ký hiệp định thương mại. Mặc dù cho đến nay còn nhiều vấn đề giữa hai nước chưa được giải quyết nhưng hai hai bên vẫn cố gắng duy trì ra đẩy quan hệ hợp tác kinh tế song phương ngày một tốt đẹp hơn. Hiện nay Trung Quốc đang tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới (NTO) 20/5/2000 Trung Quốc và EU đã chính thức ký kết hiệp định về việc Trung Quốc gia nhập WTO. Với hiệp định này còn giúp cho hàng hoá của Trung Quốc, trong đó có nhiều mặt hàng quan trọng như nông sản, dệt may, điện tử. có điền kiện thâm nhập sâu hơn vào thị trường EU. Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may hiện mang lại cho Trung Quốc nguồn thu lớn, năm 1999 Trung Quốc thu về hơn 41 tỷ USD từ xuất khẩu hàng dệt, bằng 21% tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nứơc năm 1999. Ngoài Mỹ và EU Trung Quốc còn đạt được nhiều thoả thuận thương mại song phương với nhiêu nước khác nữa. Đến cuối tháng 10 năm 2000, Trung Quốc đã ký kết hiệp định thương mại với 36 trên tổng số 37 thành viên của WTO mà Trung Quốc cần phải kỹ kết, sắp tới. Trên đây là những thành quả mà Trung Quốc đã đạt được trong hoạt động ngoại thương. Tính đến đầu năm 2001, hoạt động ngoại thương Trung Quốc vẫn trên đà phát triển. Những thành quả mà ngoại thương Trung Quốc đã đạt được là do những chính sách biện pháp thích hợp tứ sau hội nghị TW3 khoá XI mà Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề ra. Mặc dù vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn như nợ nước ngoài về vốn (đây là tình trạng của hầu hết các nước trên thế giới) việc nâng cao hiệu quả đầu tư, việc khắc phục những hậu quả của vấn đề môi sinh, môi trường nhiều năm trước vấn đề này trên 1 phương diện nào đó sẽ không khuyến khích tăng trưởng kinh tế , tăng xuất khẩu còn nếu phá giá sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế toàn cầu. Vấn đề Trung Quốc gia nhập WTO vẫn bị Mỹ ngăn trở. HIện nay Trung Quốc còn đang phải đối phó với tình trạg giảm sút của xuất khẩu. Đây là những vấn đề mà Trung Quốc đang từng bước khắc phục nhằm giữ vững đà tăng trưởng kinh tế nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Vài nét về quan hệ thương mại Việt Trung. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi sông liền dải, việc giao lưu kinh tế giữa hai nước đã có rất lâu. Mặc dù quan hệ buôn bán có tính chấp quốc tế giữa hai nước chỉ có từ thế kỷ X, sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc song điền kiện địa lý lịch sử đó là những tiền đề quý báu của mối quan hệ kinh tế Việt Trung sau này. Trước 1989 quan hệ giữa hai nước chưa có tính thương mại do những điền kiện kinh tế thị trường kém phát triển, chính sách ngoại thương nhiều sai lầm, hiệu quả kém và không phát triển. Trung Quốc là nước lớn, lạiđang việc trợ co Việt Nam kháng chiến nên dù là buôn bán thì việc cung cấp các chủng loại hàng hoá, phương thức thanh toán đều mang tính phí kinh tế, trong khoảng 10 năm (1979-1988) quan hệ Việt Trung không bình thường, việc buôn bán vẫn diễn ra qua biên giới nhưng quy mô nhỏ. Từ năm 1989, ban bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VI ra thông báo số 118 cho phép nhân dân các xã biên giới được qua lại thăm thân và trao đổi hàng hoá thiết yếu, từ đó quan hệ Việt Trung trở lại binh thường và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong nhiều năm cửa khẩu chợ và các đường mòn biên giới là những nơi hàng hoá ra vào tấp nập của hai nước. Sau khi hai nước nối liền việc thông đường sắt, đường biển, đường hàng không, buôn bán chính ngạch giữa hai nước càng phát triển, việc giao lưu thương mại hai bên càng phong phú tấp nập. Cho đến năm 2000 với các hình thức chính ngạch, tiểu ngạch, kim ngạch buôn bán Việt Trung năm 1998 đạt chừng 1,54 tỷ USD so với 32,2 triệu USD năm 1991, nhiều hơn 50 lần, năm 1999 cũng xắp xỉ 1,5 tỷ USD. Về phía Trung Quốc, sau khi khôi phục giao lưu buôn bán với Việt Nam, Trung Quốc đã mở được con đường thông thường cho khu vực Tây Nam rộng lớn bao gồm các tỉnh Tứ Xuyên, Quỳ Châu, Tây Tạng, Vân Nam và Quảng Tây đi ra biển đông và các nứoc Đông Nam á. Hai tỉnh có biên giới chung với Việt Nam là Vân Nam và Quảng Tây kinh tế đều đã đựơc cải thiện sau khi mở cửa với Việt Nam. Các cửa khẩu của Quảng Tây chất đầy hàng hoá để xuất đi Việt Nam, không những của bản tỉnh mà còn có các tỉnh khác chở đến, do đó đây còn là các trạm trung chuyển, Các Xí nghiệp hương trấn của Quảng Tây và của một số tỉnh nội địa làm ăn trở nên khấm khá nhờ có thị trường mới là Việt Nam. Việt Nam lập lại quan hệ buôn bán với Trung Quốc trong bối cảnh kinh tế xã hội gặp khó khăn nặng nề . Quan hệ với các bạn hàng truyền thống là Liên Xô và các nước Đông âu gần như bị gián đoạn. Buôn bán với Trung Quốc phiá Bắc Việt Nam. Nhờ buôn bán vơi Trung Quốc phía Việt Nam đã tăng đáng kể kim ngạch xuất nhập khẩu nhất là các tỉnh ven biển. Trong cuộc cạnh tranh vói hàng Trung Quốc nhiều sản phẩm của Việt Nam đã nâng cao được chất lượng nhanh nhạy và am hiểu trong quản lý kinh doanh nhờ giao tiếp. Tuy nhiên quan hệ buôn bán Việt Trung thời gian gần đây có xu hướng chừng lại tốc độ tăng trưởng buôn bán giữa hai bên chậm hẵn lại cụ thể sau khi phát triển “đại nhảy vọt” với tốc độ gần 250% vào năm 1993 thì kim ngạch hai chiều Việt Trung giảm dần tốc độ. Năm 1997 tổng kim ngạch mậu dịch hai nước đạt 1,4 tỷ USD, tăng 25% so với năm 1997. Năm 1999 kim ngạch buôn bán Việt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docR0128.doc
Tài liệu liên quan