Lập kế hoạch truyền thông cho công tác tuyển sinh hệ hoàn chỉnh kiến thức chính quy và hệ vừa làm vừa học của Học Viện BCVT năm 2011

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG I 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING VÀ LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING 3

1.1. QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG MARKETING 3

1.1.1 Khái niệm truyền thông marketing 3

1.1.2. Quá trình truyền thông marketing 4

1.2. CÁC CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG MARKETING 9

1.4.1. Quảng cáo (Advertisement) 9

1.4.2. Marketing trực tiếp 10

1.4.3. Khuyến mại (Sale promotion) 10

1.4.4. Tuyên truyền cổ động (Publicity) 11

1.4.5. Quan hệ công chúng (Public Relation) 11

1.4.6. Bán hàng cá nhân (Personal selling) 12

1.3. QUI TRÌNH KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARETING 12

1.3.1 Định dạng công chúng mục tiêu 12

1.3.2 Xác định mục tiêu truyền thông 13

1.3.3 Thiết kế thông điệp 15

1.3.4 Lựa chọn phương tiện truyền thông 18

1.3.5. Xây dựng ngân sách truyền thông 19

1.3.6. Quyết định về hệ thống cổ động 22

1.3.7. Đánh giá kết quả 28

1.4 TRUYỀN THÔNG MARKETING TÍCH HỢP 30

1.4.1 Khái niệm 30

1.4.2 Sự cần thiết của việc sử dụng IMC trong các doanh nghiệp 30

CHƯƠNG II 35

LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING TẠI 35

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 35

2.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BCVT 35

2.1.1. Học viện công nghệ BCVT 35

2.1.2. Các hoạt động truyền thông marketing của Học viện công nghệ BCVT 41

2.2. LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG CHO CÔNG TÁC TUYỂN SINH HỆ HOÀN CHỈNH KIẾN THỨC CHÍNH QUI VÀ HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BCVT NĂM 2011 48

2.2.1. Giới thiệu chung về kế hoạch truyền thông 48

2.2.2. Kế hoạch truyền thông marketing cho công tác tuyển sinh đối với hệ hoàn chỉnh kiến thức chính qui 51

2.2.3. Kế hoạch truyền thông marketing cho công tác tuyển sinh đối với hệ vừa làm vừa học 68

2.2.4 Ngân sách thực hiện 74

2.3. KIẾN NGHỊ 74

 

 

 

doc75 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 04/07/2013 | Lượt xem: 4896 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Lập kế hoạch truyền thông cho công tác tuyển sinh hệ hoàn chỉnh kiến thức chính quy và hệ vừa làm vừa học của Học Viện BCVT năm 2011, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ị truyền thông, những con đường, chức năng và các nguồn trong công ty vào một chương trình liên tục nhằm tối đa hóa tác động đối với người tiêu dùng và người dùng cuối khác với chi phí tối thiểu. Hoặc Truyền thông marketing tích hợp là một chức năng quản trị, kết hợp hiệu quả các lĩnh vực truyền thông như quảng cao, khuyến mãi, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp để tạo một hiệu ứng thống nhất, mạnh mẽ hơn so với việc sử dụng từng công cụ một cách riêng rẽ. IMC là một khái niệm theo đó công nhận giá trị gia tăng trong chương trình hợp nhất nhiều lĩnh vực có tính chiến lược khác nhau – chẳng hạn như, quảng cáo tổng quan, trả lời trực tiếp, khuyến mãi, và quan hệ với công chúng – và hợp nhất những lĩnh vực này để tạo ra sự rõ ràng, nhất quán, và có tác động truyền thông tối đa. Giáo sư Don Schultz, người được xem là chuyên gia về IMC, định nghĩa IMC như sau: Quá trình quản lý tất cả các nguồn thông tin về sản phẩm/dịch vụ mà khách hàng hay khách hàng tiềm năng tiếp xúc và quá trình thúc đẩy người tiêu dùng thực hiện hành vi hướng tới việc mua hàng và duy trì sự trung thành của họ. 1.4.2 Sự cần thiết của việc sử dụng IMC trong các doanh nghiệp Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp nói chung và bộ phần marketing của doanh nghiệp nói riêng đang dần nhận ra rằng, người dùng đang ngày càng bị “dội bom” bởi các chiến lược truyền thông dồn dập của doanh nghiệp, tạo nên sự hỗn độn trong hàng đống thông tin được truyền tải, do đó mà dẫn đến việc giảm tụt tốc độ của doanh nghiệp.Họ đang dần nhận ra rằng phải hiểu biệt về khoa học, nghệ thuật của IMC – truyền thông marketing tích hợp.Nó đóng vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp, bời các xu thế làm nền tảng sau : Giảm độ tin cậy của thông điệp Giảm chi phí marketing cơ sở dữ liệu Tăng chi phí và giảm hiệu quả đối với truyền thông qua các các phương tiện truyền thông đại chúng Tăng các trường hợp sáp nhập và thôn tính của các công ty truyền thông marketing Gia tăng việc phân khúc các phương tiện truyền thông và khán giả Tăng tính tương đồng sản phẩm hay các sản phẩm “tôi cũng vậy” Sự thay của đổi công nghệ truyền thông Dưới đây, xin phép được phân tích rõ các xu thể đã nên trên Xu thế 1 – Giảm độ tin cậy của thông điệp Người tiêu dùng liên tục bị dội bom với các truyền thông marketing trên mọi mặt trận.Chính sự tràn ngập truyền thông này đã gây ra “sự hỗn độn” xét trên bình diện các truyền thông marketing. Sự hỗn độn này chịu trách nhiệm về việc nếu chỉ có một mẫu quảng cáo trên một phương tiện truyền thông duy nhất thì không thể tạo ra tác động nào đáng kể. Kết quả là xu thế ngày càng tụt giảm tác động của thông điệp, điều này dẫn đến nhận định rằng tính hiệu quả của thông điệp tùy thuộc vào tính đa thông điệp, đa phương tiện và đa hình thức các công cụ truyền thông marketing. Do vậy, những người làm marketing đang bắt đầu cảm thấy cần phải hiểu được khoa học cũng như nghệ thuật IMC.Họ bắt đầu nhận ra rằng họ cần phải hiểu và thực hiện IMC sao cho có hiệu quả trong môi trường truyền thông marketing hỗn loạn ngày nay. Xu thế 2 – Giảm chi phí marketing cơ sở dữ liệu Việc phát minh ra công nghệ vi tính đã tạo ra ngành công nghiệp lớn về cơ sở dữ liệu khách hàng (mailing list). Hơn lúc nào hết, những người làm marketing giờ đây có khả năng thu thập thông tin cụ thể về người tiêu dùng. Chẳng hạn như nếu nhà marketing muốn nhắm vào, chẳng hạn các nhà vật lý trị liệu, thì họ có thể mua cơ sở dữ liệu cung cấp cho họ hình ảnh đầy đủ về những con người này. Cơ sở dữ liệu này bao gồm thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của họ và các nguồn thông tin khác nhau mà họ sử dụng để tiến hành các loại mua sắm có liên quan đến việc hành nghề của mình. Được trang bị những truyền thông này, nhà marketing đang nhắm vào nhóm khách hàng này có thể sử dụng các hình thức công cụ truyền thông marketing khác nhau để tạo ra đa thông điệp. Nhờ vào công nghệ tinh vi của máy vi tính sử dụng trong việc quản lý cơ sở dữ liệu và sự cạnh tranh gay gắt trong ngành này nên chi phí sử dụng cơ sở dữ liệu đã giảm mạnh trong những năm vừa qua. Tính khả thi của việc sử dụng marketing cơ sở dữ liệu ngày càng tăng đã làm IMC càng hấp dẫn hơn đối với những người làm marketing. Xu thế 3 – Tăng chi phí và giảm hiệu quả đối với truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Chi phí quảng cáo trên truyền hình cũng như quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng khác liên tục gia tăng trong những năm vừa qua. Người tiêu dùng không còn xem ti-vi giống như trước đây. Họ không đọc báo giống như trước đây. Số người nghe đài cũng giảm xuống. Người tiêu dùng đang chuyển sang các phương tiện giải trí và các hoạt động thư giãn khác, chẳng hạn như chơi trò chơi điện tử và truy cập Internet. Đối với những ai vẫn còn xem TV thì hiện nay họ bật sang kênh khác mỗi khi có quảng cáo. Có nhiều người chấp nhận trả tiền để xem truyền hình cáp không có quảng cáo. Những người làm marketing trở nên ý thức rõ về chi phí hơn bao giờ hết. Họ ngày càng nhận ra rằng họ có thể tung ra chiến dịch truyền thông marketing mạnh mẽ và hiệu quả bằng cách sử dụng các công cụ truyền thông marketing tốn kém ít hơn so với quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng để dựa vào các hình thức công cụ truyền thông marketing khác và hợp nhất những chương trình này để đạt được doanh số, thị phần và mục tiêu lợi nhuận thì những người làm marketing bắt đầu nhận ra rằng họ cần phải hiểu rõ hơn khoa học của phương tiện truyền thông hợp nhất –ngắn gọn hơn, tức IMC. Xu thế 4 – Tăng các trường hợp sáp nhập và mua (acquisition) các công ty truyền thông marketing Trong thập kỷ vừa qua, chúng ta đã chứng kiến mức độ sáp nhập và mua lại mạnh mẽ chưa từng có đối với các cơ quan truyền thông marketing. Những vụ sáp nhập và mau công ty này có thể là kết quả của việc nhà điều hành các công ty này nhận ra nhu cầu cần phải cung cấp cho khách hàng dịch vụ truyền thông marketing toàn diện. Công ty truyền thông marketing lớn nào có thể tập hợp đội ngũ từ các phòng ban truyền thông marketing khác nhau để đáp ứng nhu cầu khách hàng của mình thì họ có thể có ưu thế cạnh tranh hơn so với các công ty khác không thể cung cấp loại hình dịch vụ này. Những công ty hiện nay có khả năng cung cấp các dịch vụ truyền thông marketing toàn diện ngày càng hiểu rõ hơn khoa học và nghệ thuật IMC. Xu thế 5 – Gia tăng việc phân khúc các phương tiện truyền thông và khán thính giả Sự cạnh tranh gay gắt của các phương tiện truyền thông đại chúng buộc ngành này chịu sự phân khúc mạnh mẽ. Đài phát thanh với hình thức các chương trình cụ thể đang nổi lên ở khắp nơi. Các kênh truyền hình chuyên môn hóa theo chuyên đề – lịch sử, phim cổ điển, học tập, khoa học giả tưởng, gia đình, tin tức, chính trị,… Có hàng trăm ngàn tạp chí và ấn phẩm chuyên ngành. Người tiêu dùng không còn xem truyền hình vốn phục vụ cho tất cả mọi người. Họ không phải xem như vậy. Họ chỉnh đến phương tiện truyền thông có chương trình và nội dung biên tập phù hợp với quan tâm của mình. Xu thế phân khúc phương tiện truyền thông và khán giả này là một thách thức đối với những người làm marketing. Những người làm marketing không còn có thể đăng ký quảng cáo 30 giây trên, ví dụ, Bản tin buổi tối CBS hay 60 phút, và mong đợi tạo ra hiệu quả lan tỏa. Trước đây thì được nhưng bây giờ thì không. Những người làm marketing phải nhận biết thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của người tiêu dùng mục tiêu và phát triển và đưa ra đa thông điệp trên các phương tiện truyền thông chuyên ngành và có thể phi truyền thống. Để làm được điều này một cách có hiệu quả, giờ đây hơn lúc nào hết họ nhận ra rằng họ cần phải hiểu triệt để IMC. Xu thế 6 – Tăng tính tương đồng sản phẩm hay các sản phẩm “tôi cũng vậy” (sản phẩm cùng loại) Cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Nhiều doanh nghiệp phát triển và marketing sản phẩm không tạo sự khác biệt đáng kể lắm đối với nhãn hiệu của các đối thủ cạnh tranh. Truyền thông marketing trở nên cực kỳ tối cần thiết trong thời đại các sản phẩm “tôi cũng vậy”. Tên gọi của trò chơi giờ đây là chia sẻ tiếng nói. Chia sẻ tiếng nói trở thành một phương tiện hữu hiệu để đạt được lợi nhuận và thị phần mong muốn. Có nghĩa là, càng có nhiều thông điệp trên càng nhiều phương tiện truyền thông thì cơ hội có lợi nhuận lớn hơn và thị phần rộng hơn càng lớn. Xu thế 7 – Sự thay của đổi công nghệ thông tin Giáo sư Schultz đã lập luận rằng những thay đổi trong ngành công nghệ thông tin có thể tạo ra cho người tiêu dùng khả năng truyền thông và thậm chí mua sắm bằng một loạt các phương tiện khác nhau. Có nghĩa là, người tiêu dùng có thể giao tiếp tương tác và mua sản phẩm trực tiếp từ nhà sản xuất. Theo truyền thống, nhà sản xuất thông báo sự xuất hiện sản phẩm của mình cho người tiêu dùng và cố gắng chuyển tải thông điệp đó đến người tiêu dùng với hy vọng khiến cho họ mua sản phẩm. Xu thế này dẫn đến cảnh người mua thông báo mình sẵn sàng mua bằng cách sử dụng công nghệ thông tin tương tác đời mới nhất. Người bán nỗ lực đáp ứng lại sự sẵn sàng của người mua. Ở đây người mua trở thành người quảng cáo, và phương cách sử dụng truyền thống các quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ với công chúng và marketing trực tiếp thay đổi mạnh mẽ. Sự thay đổi này đối với công nghệ thông tin làm cho phải định nghĩa lại cách thức sử dụng truyền thống các yếu tố khác nhau của truyền thông marketing. Việc ngày càng nhấn mạnh đến truyền thông marketing đã kéo theo với nó là sự hỗn loạn truyền thông marketing ngày một tăng, độ tin cậy của thông điệp giảm, marketing cơ sở dữ liệu giảm, chi phí tăng và hiệu quả của các phương tiện truyền thông đa đại chúng giảm, các trường hợp sáp nhập và mua các công ty truyền thông marketing tăng, phân khúc các phương tiện truyền thông và khán thính giả tăng và sự chuyển mình của công nghệ truyền thông. Điều này đã làm cho những người làm marketing phải rất thông hiểu nhu cầu và sức mạnh của IMC. CHƯƠNG II LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 2.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BCVT 2.1.1. Học viện công nghệ BCVT 2.1.1.1. Quá trình hình thành phát triển Học viện Công nghệ BC-VT được thành lập theo quyết định số 516/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11 tháng 7 năm 1997 trên cơ sở sắp xếp lại 4 đơn vị thành viên thuộc Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam) Học viện lấy nguyên tắc gắn kết giữa Nghiên cứu - Đào tạo - Sản xuất kinh doanh làm nền tảng hướng tới mục tiêu đào tạo ra những chủ nhân tương lai của nền kinh tế tri thức và tạo ra những sản phẩm chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam. 2.1.1.2. Chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động Học viện Công nghệ Bưu chính-Viễn thông là đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam. Học viện thực hiện hai chức năng cơ bản: Giáo dục, đào tạo cho xã hội và cho nhu cầu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Nghiên cứu khoa học, tư vấn, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông và công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Hệ thống đào tạo và cấp bằng của Học viện bao gồm nhiều cấp độ tuỳ thuộc vào thời gian đào tạo và chất lượng đầu vào của các học viên. Hiện nay Học viện cung cấp các dịch vụ giáo dục, đào tạo chủ yếu sau đây: Thực hiện các khoá đào tạo bậc Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ theo chương trình chuẩn quốc gia và quốc tế theo các hình thức khác nhau như tập trung, phi tập trung, liên thông, đào tạo từ xa... Tổ chức các khoá đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cấp chứng chỉ trong các lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông, công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh.... Tổ chức các chương trình đào tạo cho nước thứ ba.  Sắn sàng liên danh, liên kết với các đối tác trong nước và quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Hiện nay Học viện đang thực hiện đào tạo các trình độ, chuyên nghành cụ thể như sau: a. Trình độ tiễn sỹ : gốm 4 nghành Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin Kỹ thuật điện, điện tử b.Trình độ thạc sỹ : gồm 3 nghành Kỹ thuật điện, điện tử Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin c. Trình độ đại học Đại học chính quy Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin Kỹ thuật điện, điện tử Kế toán Đại học tại chức Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin Đại học hoàn chỉnh kiến thức Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin Đại học bằng 2 Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin d. Trình độ cao đẳng Điện tử viễn thông Quản trị kinh doanh Công nghệ thông tin Cơ chế hoạt động của Học viện bị chi phối bởi qui định của Nhà nước đối với tổ chức đào tạo công lập và tổ chức của đơn vị sự nghiệp có doanh thu trong doanh nghiệp nhà nước.Do vậy, Học viện và các đơn vị trực thuộc vừa hoạt động trong khuôn khổ cơ chế của nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp, lại vừa hoạt động theo các quy định về tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp do Hội đồng quản trị của tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam phê duyệt. Với hai cơ chế hoạt động này, hoạt động của Học viện có những đặc điểm đặc thù riêng, có những thuận lợi cũng như hạn chế trong công tác đào tạo và hoạt động nghiên cứu. 2.1.1.3. Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức của Học viện được mô tả theo hình 2.1.1.3 sau Hình 2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 2.1.1.4. Một số kết quả hoạt động của Học viện công nghệ BCVT (giai đoạn 2006 – 2010) a. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục và đào tạo Hàng năm, Học viện đã tổ chức tốt, đảm bảo nguyên tắc, quy định, quy trình công tác tuyển sinh các hệ theo đúng quy chế của Bộ giáo dục và đào tạo. Kết quả tuyển sinh các hệ đang học tại Học viện trong giai đoạn 2006 – 2010 đạt được mục tiêu và quy mô đào tạo mà Học viện đã đề ra. Theo thống kê tạo Hội nghị điển hình tiên tiến giai đoạn 2005 – 2009, quy mô sinh viên đang theo học tại Học viện hiện nay là : 20.620 ngưởi trong đó Đại học hệ chính quy là 5676 sinh viên, Đại học vừa làm vừa học là 3043 sinh viên, Đại học văn bằng 2 là 1184 sinh viên.Hoàn chỉnh kiến thức đại học là 2686 sinh viên, Đại học từ xa là 6050 sinh viên.Tăng 31,5% so với năm 2008 và gấp 2.58 lần so với năm 2005. Song song với việc mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng đảo tạo, Học viện cũng đã đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo.Năm 2010, Học viện đã ký thỏa thuận hợp tác đào tạo với các trường đại học có uy tín của nước ngoài như Mỹ, Anh, Úc hay Newzealand về triển khai một số chương trình đào tạo theo hình thức 2+2, tức là 2 năm học trong nước và 2 năm học nước ngoài; 3+1...trong các lĩnh vực Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh quốc tế và quản trị tài chính... Học viện cũng đã mở rộng hoạt động đào tạo sang nước bạn Lào, vào các năm 2008, 2009 đã tổ chức đào tạo hàng trăm lượt cán bộ BCVT Lào và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nước bạn Lào. Để khẳng định và cam kết đảm bảo chất lượng đào tạo trước người học và xã hội, cuối tháng 6/2009, Học viện là một trong các trường đầu tiên đã công bố chuẩn đầu ra cho các nghành đào tạo của Học viện, trong đó, bên cạnh các kiến thức chuyên môn cần có của một tân kỹ sư, tân cử nhân, Học viện còn quan tâm đến các yếu tố khác như các kỹ năng mềm và khả năng ngoại ngữ : 450 điểm TOEIC. b. Các giải thưởng và công nhận của xã hội Trong khoảng thời gian 10 năm hình thành và phát triển, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1998) Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1997 và 2003) Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2000) Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2006) Nhiều Bằng khen, Cờ Thi đua của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam...bên cạnh đó, học sinh - sinh viên của Học viện còn tham gia và giành các giải thưởng về sáng tạo công nghệ như: Giải ba Nhân Tài Đất Việt (2005), Giải thưởng Sao Khuê (2003), Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt…. Năm 2009, Học viện đạt 119,91% kế hoạch Tập đoàn giao, bằng 124,27% so với thực hiện năm 2008. Trong hoạt động đào tạo, đây là năm đầu tiên Học viện thực hiện quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới của Bộ GD&ĐT với 2 lần tuyển sinh thạc sĩ/năm. Công tác xét tuyển nghiên cứu sinh công tác tuyển sinh sau đại học năm 2009 của Học viện đã thu được nhiều kết quả khả quan, số lượng hồ sơ đăng ký dự thi trình độ thạc sĩ đạt 850 hồ sơ tăng gấp 2,5 lần so với năm 2008. 2.1.1.5. Mục tiêu và định hướng phát triển của Học viện công nghệ BCVT Cùng với những chuyển biến mới của Tập đoàn, Học viện cũng đang có những chuyển biến mới theo hướng từ đơn vị sự nghiệp sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.Với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường hiện tại đòi hỏi cả tập đoàn cũng như Học viện cần phải có những chuyển biến, định hướng rõ ràng để có thể phát triển và cạnh tranh với môi trường bên ngoài. Chuyển đổi cơ cấu Học viện nhằm thực hiện tốt hơn vai trò, sứ mạng và nhiệm vụ kinh tế, chính trị của tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam nói chung cũng như Học viện nói riêng. Học viện là đơn vị đào tạo nhân lực của nghành, lĩnh vực có tốc độ thay đổi về khoa học công nghệ nhanh chóng, có mật độ tri thức và chất xám cao.Vì vậy Học viện phải luôn tiếp cận, nắm bắt được xu hướng phát triển của nghành cũng như kịp thời thích ứng với thay đổi của xã hội.Từ đó hoàn thành sứ mệnh của mình. Học viện là cơ sở đào tạo nghành, đạo tạo ứng dụng chứ không phải là trường đại học trong lĩnh vực đào tạo cơ bản.Vậy nên trước tiên hết Học viện cần thoát khỏi, khắc phục tình trạng dạy chay, học chay, nghiên cứu chay, chạy theo hình thức...như hầu hết các tổ chức công lập khác hiện nay.Muốn vậy Học viện cần tích cực bám sát với thực tế, đào tạo theo nhu cầu thực tiễn đề ra, đầu tư xây dựng cơ sở bài giảng mới, phù hợp với nhu cầu giảng dạy và học tập, nghiên cứu tại Học viện.Cần có chính sách thu hút người tài, người giỏi về cho cơ cấu mới của Học viện. Học viện phải lấy nghiên cứu khoa học làm trọng tâm của mọi hoạt động, lấy việc gắn kết nghiên cứu với đào tạo và sản xuất kinh doanh làm giải pháp cơ bản, lấy sự khác biệt của doanh nghiệp mạnh để phát huy năng lực cạnh tranh của mình.Khai thác và vận dụng cơ hội chuyển đổi sang cơ chế doanh nghiệp để nhanh chóng trở thành tổ chức nghiên cứu và đào tạo có uy tín, nâng cao vị thế của Học viện trong nước nói riêng và trong khu vực, thế giới nói chung. Nhu cầu của xã hội đang rất đa dạng, phong phủ, do đó Học viện phải hoạt động theo hướng đa nghành, đa nghề nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn.Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, Học viện cần chọn cho mình một số các chuyên ngành, lĩnh vực am hiểu, là điểm mạnh.Qua đó đâu tư, tập trung làm mũi nhọn tiến tới xác lập vị trí hàng đầu trong các lĩnh vực này. 2.1.2. Các hoạt động truyền thông marketing của Học viện công nghệ BCVT Trước đây, các hoạt động truyền thông marketing tại Học viện chỉ dừng lại ở mức độ truyền thông tin trên các kênh thông tin, phương tiện truyền thông chung của tập đoàn VNPT, hoặc một số các thông tin trên báo chí.Với nhu cầu thực tiễn hiện nay và với mục tiêu mà tập đoàn và Học viện đề ra, việc thiết kế thêm các kênh truyền thông marketing để đáp ứng yêu cầu thực tế là cực kỳ quan trọng và cần thiết.Do vậy nên trong hai năm gần đây, các hoạt động truyền thông marketing của Học viện nói chung đã đa dạng và hiệu quả hơn.Tuy nhiên, vẫn không đáp ứng được nhu cầu thực tế đề ra. 2.1.2.1 Các hoạt động truyền tin gián tiếp Trên mạng internet : Hiện các thông tin được truyền tải dưới dạng thông báo, phóng sự ảnh, tin vắn... được truyền tải nhiểu hơn tại website của Học viện : www.ptit.edu.vn , của VNPT www.vnpt.com.vn , của các đơn vị liên quan, ngoài ra còn có một số các trong báo điện tử như www.vnexpress.net, www.dantri.com.vn ...Diễn đàn sinh viên Học viện www.svptit.org là cầu nối của sinh viên Học viện Theo thống kê của TNS Media mới đây cho thấy xu hướng tiếp nhận thông tin của đa số công chúng từ các phương tiện thông tin đại chúng thông qua mạng internet đang tăng dần. - Báo và tạp chí Hiện tại, ở Việt Nam, báo chí vẫn được coi là nguồn thông tin chính thống và khá phát triển và có chi phí thấp hơn các phương tiện truyền thông gián tiếp khác. Hơn nữa, tận dụng quyền lợi là thành viên VNPT, Học viện cũng đã được các báo trong ngành đăng tải thông tin, và trở thành một trong những kênh truyền thông khá hiệu quả cho Học viện. Theo tìm hiểu của nhóm nghiên cứu lớp D08QTKD 1, tính đến thời điểm hiện tại, Học viện đã sử dụng phương tiện truyền thông in ấn này để quảng bá hình ảnh của mình như sau: TT Tên báo tạp chí Kỳ xuất bản Mức độ xuất hiện Hình thức xuất hiện Phạm vi 1 Tuần tin VNPT 1 số/tuần Thường xuyên Tin + ảnh (trang 2-6) Nội bộ 2 Báo Bưu Điện Việt Nam Thứ Sáu hàng tuần Ít - gắn liền HĐXH của VNPT Tin (mục thời sự VNPT) Bưu cục trên toàn quốc 3 Xã hội thông tin 1 số/tháng Ít - gắn liền HĐXH của VNPT Tin + ảnh (mục tin hoạt động Đoàn TNCS VNPT) Toàn quốc 4 Sức mạnh số 1 số/tháng Cuộc sống đích thực 5 Báo Nhân Dân, Lao Động… Ít (vào thời điểm tuyển sinh,thông báo điểm) Toàn quốc 6 Tập san tổng kết của VNPT … … … Thống kê loại hình truyền thông qua báo, tạp chí – Nhóm NCKH lớp D08QTKD 1 Trong các loại báo, tạp chí kể trên, Tuần tin VNPT là đăng tải đầy đủ các hoạt động chính của Học viện (khai giảng, tốt nghiệp, công bố điểm chuẩn đầu ra, nguyên tắc…) đưa đến cho người đọc những hiểu biết cơ bản, cập nhật về các hoạt động của học viện, giới thiệu các chương trình đào tạo có chất lượng của Học viện và các thành tích nổi bật của Học viện, nâng cao hình ảnh của Học viện. Hầu hết báo Bưu điện Việt Nam, Xã hội thông tin, Sức mạnh số đề cập đến Học viện chủ yếu là hình ảnh Học viện tham gia các hoạt động xã hội cùng VNPT, đặc biệt là đoàn TNCS VNPT. Qua đó thể hiện sự năng nổ, nhiệt huyết của tuổi trẻ Học viện. Chủ trì triển khai chương trình phổ cập tin học đến các vùng miền theo hưởng ứng chương trình do VNPT tổ chức…Tuy được đăng tải rất đầy đủ trên tuần tin nhưng lại phát hành nội bộ - Sức phổ biến rộng rãi là không được phát huy chính là điểm yếu của kênh truyền thông này. - Phát thanh, truyền hình: Học viện đã triển khai phát sóng một số chương trình lên truyền hình như: Nhân tài đất việt được phát sóng trên kênh VTC1 Lễ khai giảng năm học mới 2009” được phát sóng trên kênh VTC1 VNPT phối hợp cùng với sinh viên Học viện đi phổ cập tin học tại các tỉnh miền núi ở Tây Nguyên, Ba Vì, Hà Giang … Phóng sự truyền thông về chương trình đào tạo đại học quốc tế Một số chương trình về công nghệ được phát sóng trên kênh VTV2. 2.1.2.2 Các hoạt động truyền tin trực tiếp Hoạt động tình nguyện : Các chương trình tiếp sức mùa thi, tình nguyện xanh, đi bộ vì người nghèo với sự tham gia của các đơn vị trong Học viện mà chủ yếu là sinh viên của các cơ sở đào tạo cũng góp phần nâng cao hình ảnh của Học viện. Phổ cập tin học là chương trình truyền thống của Học viện với sự hỗ trợ của đoàn tập đoàn VNPT thường niên, phổ cập và hỗ trợ kiến thức về tin học cho đồng bào các tình miền núi, vùng cao như : Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang... Tư vấn tuyển sinh là chương trình của đoàn thanh niên Học viện với sự tham gia của sinh viên đến từ các tỉnh thành.Chương trình hướng tới các trường cấp ba, định hướng và giới thiệu về Học viện tới các bạn Học sinh nhằm tạo cơ hội cũng như nâng cao đầu vào cho Học viện. 2.1.2.3 Tổ chức sự kiện Học viện ngày càng chú trọng đến việc tổ chức các sự kiện nhằm hướng đến nhiều đối tượng công chúng khác nhau, tạo nên một hình ảnh PTIT với mục tiêu là một trường Đại học chất lượng tốt, lấy sinh viên làm trọng tâm, là tổ chức lớn về cả quy mô và địa vị chính trị. - Học viện tổ chức ngày hội việc làm cho sinh viên trong trường nhằm hỗ trợ sinh viên có cơ hội tiếp xúc, học hỏi những kinh nghiệm mà nhà tuyển dụng chia sẻ để làm hành trang cho mình. Thông qua đó, gắn kết chặt chẽ mối quan hệ của sinh viên, Học viện và nhà tuyển dụng hơn, góp phần gia tăng cơ hội việc làm cho sinh viên, nâng cao chất lượng đầu ra của Học viện, nâng cao uy tín cho Học viện. Ngày 08/06/2010, Học viện đã tổ chức chương trình tiếp xúc gặp gỡ giữa sinh viên với nhà tuyển dụng do Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ sinh viên và Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực 1 phối hợp tổ chức. Chương trình tiếp xúc gặp gỡ nhà tuyển dụng là cơ hội để sinh viên Học viện tham gia làm việc tại doanh nghiệp thuộc Tập đoàn VNPT. Từ đó, Học viện cũng phần nào hiểu được nhu cầu của sinh viên để lên kế hoạch đa dạng chuyên ngành đào tạo, chú trọng vào những tình huống thực tế để xây dựng uy tín về chất lượng đào tạo tốt. Có cung cấp những dịch vụ đào tạo tốt, thỏa mãn nhu cầu sinh viên thì Học viện mới có được lòng tin, sự nhiệt tình đóng góp của sinh viên – nhóm công chúng nội bộ chính của Học viện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy mô của các sự kiện này còn chưa lớn, Học viện sử dụng cách thức truyền thông tin qua kênh trực tiếp là cán bộ lớp nên hiệu quả ch

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLập kế hoạch truyền thông cho công tác tuyển sinh hệ hoàn chỉnh kiến thức chính quy và hệ vừa làm vừa học của Học Viện BCVT năm 2011.doc
Tài liệu liên quan