Luận án Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của luận án 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 5

1.1.1 Một số thuật ngữ 5

1.1.2 Sử dụng đất đai 5

1.1.3 Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 8

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông thôn 13

1.2.1 Lý thuyết về nông nghiệp, nông thôn trên thế giới 13

1.2.2 Khái quát mô hình thực tiễn về nông nghiệp, nông thôn 14

1.2.3 Quan hệ giữa sử dụng đất với phát triển nông nghiệp, nông thôn 17

1.3 Kinh nghiệm chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của một số nước trên thế

giới, vùng lãnh thổ và ở Việt Nam 19

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và vùng lãnh thổ 19

1.3.2 Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam 22

1.4 Tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến nông

nghiệp, nông thôn 27

1.4.1 Tác động đến kinh tế 28iv

1.4.2 Tác động đến xã hội 33

1.4.3 Tác động đến môi trường nông thôn 40

1.5 Nhận xét chung và định hướng nghiên cứu 41

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Nội dung nghiên cứu 44

2.1.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 44

2.1.2 Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 44

2.1.3 Đánh giá tác động của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến nông

nghiệp, nông thôn 44

2.1.4 Kiểm chứng theo dõi một số mô hình sử dụng đất phục vụ đề xuất

hướng sử dụng 45

2.1.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi cơ cấu sử

dụng đất nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 47

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 47

2.2.2 Phương pháp phân vùng và chọn điểm nghiên cứu 47

2.2.3 Phương pháp điều tra và phỏng vấn 48

2.2.4 Phương pháp lựa chọn theo dõi mô hình sử dụng đất phục vụ đề xuất

sử dụng đất 49

2.2.5 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 49

2.2.6 Phương pháp lấy mẫu phân tích 50

2.2.7 Phương pháp so sánh 51

2.2.8 Phương pháp đánh giá tác động 52

2.2.9 Phương pháp xử lý số liệu 53

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55

3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 55

3.1.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 55

3.1.2 Các nguồn tài nguyên 56

3.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội huyện Văn Lâm 58

3.2 Đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 59v

3.2.1 Hiện trạng và biến động sử dụng đất huyện Văn Lâm 59

3.2.2 Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Lâm giai đoạn 2000 - 2010 64

3.3 Tác động của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến nông nghiệp, nông thôn 72

3.3.1 Tác động về mặt kinh tế 72

3.3.2 Tác động về mặt xã hội 85

3.3.3 Tác động về mặt môi trường 101

3.3.4 Xác định mức độ tác động của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát

triển nông nghiệp, nông thôn 113

3.3.5 Đánh giá chung 119

3.4 Kiểm chứng theo dõi một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp phục

vụ đề xuất hướng sử dụng 122

3.4.1 Thông tin về các mô hình theo dõi 123

3.4.2 Hiệu quả của các mô hình theo dõi 124

3.5 Giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi cơ cấu sử dụng

đất nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện. 128

3.5.1 Giải pháp về chính sách 128

3.5.2 Nhóm giải pháp về kinh tế 128

3.5.3 Nhóm giải pháp về xã hội 131

3.5.4 Nhóm giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái 133

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 135

1 Kết luận 135

2 Kiến nghị 137

Danh mục công trình đã công bố có liên quan đến luận án 138

Tài liệu tham khảo 139

Phụ lục 14

pdf217 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 11/12/2020 | Lượt xem: 48 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
0 0.050 0.060 H a/ ng ư ời Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm Toàn huyện Tiểu vùng 1 Tiểu vùng 2 Hình 3.7. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người phân theo các tiểu vùng Một thực tế không thể phủ nhận đó là dân số ngày càng gia tăng, diện tích đất nông nghiệp của huyện có xu hướng ngày càng giảm như theo phân tích ở trên. Vì vậy, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người trên cả huyện có xu hướng giảm mạnh. Cụ thể: năm 2000 là 0,0540 ha/người cao hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng (0,05 ha/người) nhưng đến năm 2010 chỉ còn 0,034 ha/người thấp hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng (0,04 ha/người). Trong đó tiểu vùng 1 có xu hướng giảm mạnh hơn nhiều so với tiểu vùng 2. b) Thu nhữp và nguữn thu nhữp cữa mữt bữ phữn ngữữi dân bữ giữm Phân tích kết quả điều tra cho thấy, vẫn còn 33,16% số hộ của huyện Văn Lâm có thu nhập giảm sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất (bảng 3.8), tập trung chủ yếu vào nhóm hộ 1,2 tại các tiểu vùng trong đó tiểu vùng 2 (17,72%) cao hơn so với tiểu vùng 1. Điều này có thể lý giải như sau: Mặc dù được hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp nhưng vẫn còn một bộ phận người dân trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, không có vốn để tự tổ chức sản xuất; hơn nữa, do cách nghĩ, cách làm, lối sống của họ còn mang nặng sắc thái văn hóa nông thôn làng, xã 84 truyền thống nên hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ công ăn, việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ việc làm, khả năng hội nhập với cuộc sống đô thị. Vì vậy, họ đã không tiếp cận được với những thành quả của quá trình này, họ có tâm lý ngại thay đổi nghề nghiệp nên cố bám trụ trên diện tích đất nông nghiệp còn lại mặc dù họ biết ngành sản xuất nông nghiệp là ngành có rủi ro cao mà thu nhập lại thấp. c) Vữn đữu tữ cho nông nghiữp bữ hữn chữ Có thể thấy, xu hướng chung vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Lâm giảm dần sau chuyển đổi mặc dù giá trị tuyệt đối ngày một tăng lên. Bảng 3.10 . Vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 Trước chuyển đổi Sau chuyển đổi Năm 1999* Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Tổng vốn đầu tư phát triển 165,7 100 175,1 100 535,9 100 1297,5 100 Vốn đầu tư cho nông nghiệp 33,31 20,1 31,87 18,2 46,62 8,7 88,23 6,8 Thực tế, giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện vẫn chiếm 12,65% trong tổng ngành kinh tế trong khi đó vốn đầu tư phát triển nông nghiệp vào khoảng 88,23 tỷ đồng (năm 2010), chiếm 6,8% vốn đầu tư dành cho nền kinh tế của huyện. Phân tích kết quả điều tra về sự thay đổi vốn đầu tư cho nông nghiệp có thể thấy đa số các hộ gia đình tại huyện Văn Lâm đều không muốn bỏ vốn ra để đầu tư cho sản xuất nông nghiệp; số hộ đầu tư không đổi và giảm đi cho lĩnh vực này chiếm tới 72,46%, chỉ còn lại 27,54% số hộ tăng vốn đầu tư cho nông nghiệp (bảng 3.11). Sự giảm đầu tư vốn cho nông nghiệp tập trung chủ yếu tại tiểu vùng 1 nơi có tốc độ chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất mạnh, đặc biệt là ở nhóm hộ bị thu hồi nhiều đất. Tăng vốn đầu tư cho nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ nhiều hơn ở tiểu vùng 2 (toàn huyện chiếm 13,46%, tiểu vùng 2 chiếm 10,33%), điều này cho thấy tốc độ thay đổi cơ cấu sử 85 dụng đất ảnh hưởng trực tiếp đến mức đầu tư vốn cho sản xuất nông nghiệp. Bảng 3.11. So sánh vốn đầu tư cho nông nghiệp của hộ gia đình trước và sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ĐVT: % TT Khu vực Đánh giá Giảm nhiều Giảm Không đổi Có tăng Tăng nhiều Toàn huyện 15,94 28,44 28,08 14,08 13,46 1 Tiểu vùng 1 14,69 17,82 15,31 5,01 3,13 1.1 Nhóm hộ 1 3,44 4,69 3,75 2,19 0,94 1.2 Nhóm hộ 2 2,81 2,19 3,44 1,56 1,88 1.3 Nhóm hộ 3 5,00 5,63 5,31 0,63 1.4 Nhóm hộ 4 3,44 5,31 2,81 0,63 0,31 2 Tiểu vùng 2 1,25 10,62 12,77 9,07 10,33 2.1 Nhóm hộ 1 3,44 2,50 2,19 1,88 2.2 Nhóm hộ 2 0,94 1,56 2,77 1,88 4,38 2.3 Nhóm hộ 3 1,56 4,06 3,44 0,63 2.4 Nhóm hộ 4 0,31 4,06 3,44 1,56 3,44 Sự sụt giảm vốn đầu tư cho nông nghiệp thời gian qua không chỉ riêng ở huyện Văn Lâm mà nó xảy ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước. Nguyên nhân chủ yếu có thể dễ dàng nhận thấy là đầu tư vào nông nghiệp là đầu tư vào một lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp trong khi chi phí lại cao và nhiều rủi ro. Điều này rất khó hấp dẫn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. 3.3.2. Tác đếng vế mết xã hếi Tác động của chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến xã hội thông qua nhóm chỉ tiêu sau: Biến đổi việc làm, thay đổi cơ cấu lao động, kết cấu hạ tầng nông thôn, thiết chế xã hội nông thôn. 3.3.2.1. Tác đô ̣ng Ach cực a) Thay đô ̉i cơ cấu lao đô ̣ng theo chiều hướng có lợi Quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất không chỉ làm cho Văn Lâm tăng trưởng về mặt kinh tế, mà còn giúp chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm nhanh hơn. Lao động làm việc trong trong lĩnh vực phi nông nghiệp tăng nhanh, trong lĩnh 86 vực nông nghiệp giảm xuống, theo đó cơ cấu lao động, ngành nghề cũng thay đổi. Trước chuyển đổi, số lao động nông nghiệp vẫn chiếm đa số trong tổng số lao động trong toàn huyện (84,52%). Tỷ lệ này càng giảm đi rõ rệt khi tốc độ chuyển đổi ngày càng tăng. Cụ thể: Năm 1999 tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm đến 84,52% trong tổng số lao động trong toàn huyện, đến năm 2005 lao động trong ngành này chỉ còn 40,87% và đến năm 2010 chỉ còn 27,09%. Tương tự như vậy, lao động trong các lĩnh vực như công nghiệp tăng từ 6,52%, lên 37,09%; thương mại dịch vụ tăng 1,98% lên 6,42%, và ngành nghề khác tăng từ 1,98% lên 29,40%. Bảng 3.12. Cơ cấu lao động theo ngành ở Văn Lâm trước và sau chuyển đổi Chỉ tiêu Trước chuyển đổi (Năm 1999) Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Số lượng (Người) Cơ cấu (%) Số lượng (Người) Cơ cấu (%) Số lượng (Người) Cơ cấu (%) Số lượng (Người) Cơ cấu (%) Tổng số lao động trong độ tuổi 26.513 100 31.176 100 54.492 100 65.175 100 Nông nghiệp, thủy sản 24.409 84,52 24.940 79,98 22.269 40,87 17.655 27,09 Công nghiệp 1.729 6,52 3.118 10,00 12.529 22,99 24.173 37,09 Thương mại, dịch vụ 525 1,98 624 2,00 2.375 4,36 4.186 6,42 Ngành nghề khác 231 6,98 2.494 8,02 17.319 31,78 19.161 29,40 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra b) Biến đô ̉i viê ̣c làm theo chiữu hữững tích cữc Kết quả điều tra năm 2011 cho thấy, việc làm của nông dân đang chuyển biến theo những hướng sau: Việc làm thuần nông vẫn tiếp tục được duy trì theo thời vụ nhưng đang giảm dần về số lượng, một số chuyển hẳn sang thực hiện mô hình kinh tế nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn như phát triển trang trại, phát triển các vùng chuyên canh cây hàng hóa, tuy nhiên số này vẫn còn ít. Một số khác chuyển sang tìm cơ hội việc làm phi nông nghiệp ngoài thời vụ nông nghiệp hoặc chuyển hẳn sang ngành nghề khác. Nhìn chung, nông dân trên địa bàn huyện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công và thời vụ. Vào đúng 87 vụ sản xuất nông nghiệp, công việc của họ là thuần nông, ngoài thời vụ họ chuyển sang các lao động phổ thông khác. Điều này đã góp phần nâng cao thu nhập cho những người dân nông thôn. Bảng 3.13. Biến đổi việc làm của người nông dân trước và sau thu hồi đất Sinh kế và các nguồn thu nhập Trước chuyển đổi (trước năm 2000) Sau chuyển đổi (Từ năm 2000 đến nay) Làm nông nghiệp - Làm nông nghiệp là chính, thu từ trồng lúa và chăn nuôi lợn, bò, gia cầm... chiếm 80 - 85 % thu nhập của hộ gia đình. - Thu từ làm nông nghiệp chỉ còn chiếm khoảng 53 - 55 %, thu từ trồng lúa, rau màu, chăn nuôi theo kiểu trang trại, ít nuôi nhỏ lẻ. Làm nghề phụ: Thợ mộc thợ xây, chở vật liệu xây dựng, thu gom phế liệu, xe ôm, bán hàng thuê, giúp việc... - Làm thêm phụ hồ, chủ yếu là nam giới (số lượng ít) - Đối với nam giới: phụ hồ, xe ôm, thu nhập không ổn định. - Thu gom phế liệu, giúp việc (chiếm số đông phụ nữ trên 35 tuổi). Thu nhập không ổn định, giao động từ 30 - 70 nghìn đồng/ngày. Làm công nhân trong các khu công nghiệp - Lao động làm trong các khu công nghiệp địa phương rất ít hoặc hầu như không có - Một số lao động đã vào làm việc trong các khu công nghiệp địa phương. Mức thu nhập bình quân từ 1,5 - 2 triệu đồng/người/tháng Xuất khẩu lao động - Chiếm số ít - Chiếm số ít c) Hiê ̣u quả xã hô ̣i sử dụng đất nông nghiê ̣p đữữc đữm bữo Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đã tạo điều kiện thuận lợi đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; thu hút lao động và giải quyết công ăn việc làm cho các nông hộ; đảm bảo an ninh lương thực, đa dạng các loại nông sản hàng hóa. Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thông tin liên lạc được cải thiện, do người dân sớm tiếp cận được với thị trường và những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật sản xuất. Việc cung cấp và tiếp nhận vật tư kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp cũng 88 thuận lợi hơn. Tuy nhiên, đối với mỗi loại hình sử dụng đất khác nhau có hiệu quả xã hội khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu này, hiệu quả sử dụng đất về mặt xã hội được thể hiện qua mức đầu tư công lao động, giá trị ngày công của mỗi LUT kết hợp đưa ra các chỉ tiêu định tính đối với từng LUT. Bảng 3.14. Hiệu quả xã hội của một số loại hình sử dụng đất chính Loại hình SDĐ (LUT) Chỉ tiêu định lượng Chỉ tiêu định tính Công LĐ/ha (công) GTGT/ công (1000 đồng) LUT1 410 112,74 - Phù hợp với năng lực sản xuất của hộ; - Tạo ra sản phẩm, đảm bảo ATLT; - Thu nhập thấp, nhiều hộ không nhiệt tình sản xuất. LUT2 698 132,22 - Phù hợp với năng lực sản xuất của hộ khá - Có sự đầu tư thâm canh; - Tăng giá trị sản phẩm, tăng thu nhập, đảm bảo ATLT; - Hộ trung bình và hộ nghèo đã có sự tập trung đầu tư sản xuất LUT3 746 163,23 - Phù hợp với năng lực sản xuất của hộ khá, - Có trình độ sản xuất hàng hóa; - Có sự đầu tư thâm canh tăng vụ; - Sản phẩm có giá trị cao nhưng khả năng đảm bảo ATLT thấp; - Thu nhập cao, tạo việc làm tại chỗ. Thị trường không ổn định. LUT4 828 213,29 - Trình độ thâm canh cao; không tạo ra sản phẩm lương thực; - Phù hợp với các hộ có khả năng đầu tư; giá trị sản phẩm lớn, nâng cao thu nhập; - Sản phẩm mang tính hàng hóa cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định. LUT5 553 193,07 - Phù hợp với năng lực sản xuất của hộ khá; - Trình độ kỹ thuật cao, nâng cao thu nhập; - Sản phẩm mang tính hàng hóa cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định. LUT6 980 224,80 - Trình độ kỹ thuật, vốn đầu tư ban đầu cao; 89 - Tạo ra sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thực phẩm; - Thu nhập cao, tạo việc làm tại chỗ. + Giải quyết lao động: Những LUT thu hút nhiều công lao động là LUT6 (980 công/ha/năm), LUT4 (828 công /ha/năm); các LUT sử dụng lao động có sự ổn định là LUT 3 (746 công/ha/năm), LUT2 (698 công/ha/năm); các LUT sử dụng thời gian lao động thấp là LUT1, LUT5. + GTGT/ công lao động và kỹ năng lao động: LUT4, LUT5, LUT6 cho giá trị ngày công tương đối cao, sản phẩm mang tính hàng hóa, thu nhập cao. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả người dân phải có sự tính toán, phải nắm được kiến thức về các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, thông tin thị trường, vốn đầu tư lớn LUT1, LUT2 có khả năng cao về sản xuất lương thực, mang tính ổn định, đòi hỏi kỹ năng sản xuất không cao, phù hợp với năng lực sản xuất của đa số các hộ nông dân. Tuy nhiên, nếu chỉ sản xuất theo LUT này thì hộ nông dân có thu nhập thấp, khó làm giàu nên họ không nhiệt tình với chúng. Như vậy, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất thúc đẩy người sản xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, cần phải tính đến lợi thế so sánh giữa các hoạt động sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp. d) Thay đữi kữt cữu hữ tững, kinh tữ - xã hữi ữ nông thôn theo chiữu hữững có lữi * Điện nông thôn Các địa phương trong huyện rất chú trọng đầu tư cho mạng lưới điện tại nông thôn, đặc biệt là các địa phương tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp và các vùng có tốc độ đô thị hóa cao. Đến năm 2010, 100% các hộ gia đình trong huyện đã được dùng điện sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, đánh giá tình hình cung cấp điện của các hộ chỉ ở khía cạnh tình trạng cung cấp điện có liên tục đầy đủ hay không. Trên thực tế, ngoài việc cung cấp điện cho sinh hoạt thì một lượng tương đối công suất điện cung cấp cho hoạt động của nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn. Kết quả khảo sát cho thấy: đã có sự biến động lớn về nguồn thắp sáng trước và sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất. Như vậy, nguồn cung cấp điện của huyện chủ yếu là từ điện lưới quốc gia nên việc sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, 90 tình trạng “ăn đèn, ngủ điện” khiến hàng loạt hộ chăn nuôi, sản xuất rơi vào khốn đốn vẫn còn. Bảng 3.15. Biến động tỷ lệ hộ dùng nguồn thắp sáng chính huyện Văn Lâm Đơn vị tính: % Nguồn cung cấp điện Trước chuyển đổi (năm 1999) Chuyển đổi Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Điện lưới quốc gia 72,5 75,6 90,4 99,8 Điện ắc quy, máy nổ 3,5 3,2 1,7 0,1 Đèn dầu các loại 17,2 15,7 3,4 0 Khác 6,8 5,5 4,5 0,1 * Điều kiện giao thông Chất lượng đường sá, giao thông ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với Văn Lâm, một huyện có tốc độ chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất mạnh. Hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá chất lượng giao thông kém là rào cản lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Chính vì vậy, những nơi được bố trí xây dựng các khu cụm công nghiệp thì việc làm đầu tiên của các doanh nghiệp là họ quan tâm đến hệ thống giao thông và điện. Kết quả thống kê về tình trạng giao thông trên địa bàn huyện cho thấy: Trước chuyển đổi (trước năm 2000) hệ thống giao thông chưa được đầu tư quan tâm đúng mức. Mặc dù địa phương đã cố gắng đảm bảo giao thông xuyên suốt trong huyện nhưng một số tuyến đường chưa được nâng cấp nên mặt đường còn xấu (đường 19 đoạn qua Lương Tài; đường liên xã lương Tài, Việt Hưng); một số cầu, cống trên đường giao thông đã lạc hậu, hỏng chưa được cải tạo, sửa chữa kịp thời gây ách tắc giao thông. Đến năm 2000 (bắt đầu quá trình chuyển đổi), hệ thống giao thông cũng đã bắt đầu được đầu tư, đáp ứng tốt hơn việc đi lại giao lưu hàng hóa trong huyện nhưng việc triển khai xây dựng các tuyến đường huyện còn chậm, 1 số trục đường huyện, xã xuống cấp chưa khắc phục kịp thời; diện tích đường đất chủ yếu là giao thông nội đồng. Tính đến thời điểm 91 năm 2010, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đã được cải thiện đáng kể và được phân bổ khá hợp lý: Ngoài 8,4 km đường quốc lộ 5a kéo dài từ thị trấn Như Quỳnh đến hết địa phận xã Trưng Trắc còn có đường tỉnh lộ 196 từ Mỹ Hào đến cầu Gáy, huyện lộ 19, 198, 206, 196b, 207, 180, 5b cùng hệ thống giao thông liên thôn, xã và đường nội đồng. Đến nay toàn bộ hệ thống các trục đường chính đều được kiên cố hoá như trải nhựa, bê tông hoặc đá cộn. Hệ thống giao thông đã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và trao đổi hàng hóa của người dân. * Điều kiện khám chữa bệnh Chăm sóc y tế là loại dịch vụ xã hội cơ bản quan trọng đối với bảo vệ sức khỏe và phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực của các vùng đặc biệt là các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Vấn đề này cũng được các địa phương quan tâm nên các đánh giá về các vấn đề này cũng rất khả quan. Văn Lâm là địa phương hiện đang có tốc độ ĐTH - CNH cao, vì vậy sự đối chứng giữa các điều kiện về y tế giữa nơi cũ và mới có sự chênh lệch rất rõ rệt mà chúng ta dễ dàng nhận thấy được. Cụ thể: Trước chuyển đổi (trước năm 2000) do cơ sở vật chất, năng lực chuyên môn của đội ngũ thày thuốc còn hạn chế nên tỷ lệ người khám, chữa bệnh tại các trung tâm y tế trên địa bàn huyện còn rất thấp, y tế cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân (năm 1999 khám và chữa bệnh cho 16.288/21.996 lượt người đạt 74% kế hoạch), việc khám chữa bệnh tư chưa được quản lý chặt chẽ, công tác dân số KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên chưa được quan tâm thường xuyên. Đến năm 2000, cơ sở vật chất và bổ sung đội ngũ cho ngành y tế đã bước đầu được quan tâm (toàn huyện đã có 17 bác sỹ, trong đó có 5 bác sỹ tuyến xã), chất lượng điều trị được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, tình trạng bệnh nhân vượt tuyến còn nhiều, y tế tuyến cơ sở hoạt động còn nghèo nàn, quản lý các hoạt động y tế tư nhân cần được quan tâm hơn. Tính đến năm 2005, trên địa bàn huyện có một bệnh viện trung tâm, 13 cơ sở y tế. Gồm có 111 người làm công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân trong huyện. Đến thời điểm năm 2010, ngành y tế của huyện đã duy trì tốt 10/11 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế và chăm sóc tốt sức khoẻ cho nhân dân, khám cho 34.390/15.000 đạt 229%, đã chủ động công tác phòng 92 chống dịch, không để dịch xảy ra, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, công tác Dân số KHHGĐ được chỉ đạo chặt chẽ, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm nhanh. * Điều kiện trường học Khoa học công nghệ là động lực của nền kinh tế, thì giáo dục đào tạo là chìa khoá của khoa học và công nghệ. Giáo dục đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Chuyển đổi cơ cấu sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đồng nghĩa với việc thúc đẩy quá trình CNH - ĐTH phát triển. Tác động của quá trình này không chỉ thể hiện ở sự phát triển đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ngành giáo dục mà còn biểu hiện ở nhận thức của nhân dân về nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn. Kết quả điều tra điều kiện trường học trước và sau chuyển đổi như sau: Bảng 3.16. Điều kiện trường học trước và sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Lâm STT Chỉ tiêu Trước chuyển đổi (tính đến năm 1999) Chuyển đổi Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 1 Tổng số trường học 34 34 39 39 2 Tỷ lệ phòng học kiên cố (%) 57,62 68,5 71,2 100 3 Tỷ lệ trẻ đến trường ở các độ tuổi 76,42 83,05 86,42 97,93 4 Số trường đạt chuẩn quốc gia 0 1/34 12/39 22/39 Như vậy, mặc dù số trường học tăng lên không đáng kể nhưng chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện đã được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức. Tính đến năm 2010 có 100% tỷ lệ phòng học được xây dựng kiên cố (tăng 31,5% so với trước chuyển đổi), đáp ứng đủ phòng cho tất cả các lớp ở các bậc học. Tỷ lệ trẻ em đến trường ngày càng tăng (97,93% tăng 21,51% so với trước chuyển đổi); số trường đạt chuẩn quốc gia tăng cao (22/39 trường tăng 22 trường so với trước chuyển đổi). Phân tích kết quả đánh giá của các hộ gia đình về kết cấu hạ tầng nông thôn có thể thấy rằng đa số các hộ gia đình đều đánh giá kết cấu hạ tầng nông thôn sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tốt hơn so với trước kia: Điện nông thôn 46,25% tốt 93 lên, 29,37% không đổi; hệ thống giao thông 41,55% tốt lên, 20,32% không đổi; 46,55% tốt lên, 32,50% không đổi; điều kiện y tế 64,68% tốt lên, 22,19% không đổi; điều kiện trường học 39,99% tốt lên, 35,69% không đổi. Tỷ lệ hộ cho rằng các điều kiện này tốt lên và tốt lên nhiều tập trung chủ yếu tại tiểu vùng 1, tiểu vùng có tốc độ chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nhanh hơn. Như vậy, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc thay đổi kết cấu hạ tầng nông thôn theo chiều hướng tốt lên. Bảng 3.17. So sánh kết cấu hạ tầng nông thôn của hộ gia đình trước và sau chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ĐVT: % TT Tiêu chí Đánh giá Xấu đi nhiều Xấu đi Không đổi Tốt lên Tốt lên nhiều 1 Toàn huyện 1.1 Hệ thống điện nông thôn 4,69 19,69 29,37 32,50 13,75 1.2 Hệ thống giao thông 16,57 21,56 20,32 20,94 20,61 1.3 Tình hình cung cấp nước sạch 10,63 10,32 32,50 33,74 12,81 1.4 Điều kiện y tế 6,25 6,88 22,19 32,18 32,50 1.5 Điều kiện trường học 15,63 8,69 35,69 27,49 12,50 2 Tiểu vùng 1 2.1 Hệ thống điện nông thôn 2,19 8,75 17,81 17,50 8,75 2.2 Hệ thống giao thông 8,44 6,88 8,44 12,81 13,44 2.3 Tình hình cung cấp nước sạch 3,75 2,19 17,19 16,88 10,00 2.4 Điều kiện y tế 6,25 3,44 17,19 14,38 20,31 2.5 Điều kiện trường học 6,88 3,38 17,56 17,19 10,00 3 Tiểu vùng 2 3.1 Hệ thống điện nông thôn 2,5 10,94 11,56 15,00 5,00 3.2 Hệ thống giao thông 8,13 12,81 11,88 8,13 7,17 3.3 Tình hình cung cấp nước sạch 6,88 8,13 15,31 16,86 2,81 3.4 Điều kiện y tế 3,44 5,0 17,80 12,19 3.5 Điều kiện trường học 8,75 5,31 18,13 10,30 2,50 3.3.2.2. Tác đô ̣ng Eêu cực a) Tình trạng việc làm của lao động hộ bị thu hồi đất + Theo nhóm tuổi: Xem xét lao động chưa có việc làm cho thấy, tỷ lệ lao động chưa có việc làm sau thu hồi đất rất cao ở các nhóm tuổi 16-18 chiếm 80,83% và từ 94 19 - 25 chiếm 36,25% trong khi các nhóm tuổi khác có tỷ lệ thấp hơn như nhóm tuổi 26 - 35 và nhóm tuổi > 35 lần lượt là 15,42% và 13,33%. Qua số liệu điều tra ta thấy sau khi thu hồi đất, tình trạng việc làm của lao động các hộ bị thu hồi đất là rất đáng báo động, thể hiện ở tỷ lệ lao động đủ việc làm và lao động có việc làm không đầy đủ có xu hướng giảm xuống, tỷ lệ lao động chưa có việc làm tăng lên từ nhóm tuổi 26 trở lên. Do đó, trong thực hiện các biện pháp tạo việc làm cho lao động hộ bị thu hồi đất cần có sự quan tâm lớn đến việc làm cho lao động trong nhóm tuổi này. Bảng 3.18. Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất của người lao động Đơn vị tính: % CHỈ TIÊU Trước khi thu hồi đất Sau khi thu hồi đất Đủ việc làm Không đủ việc làm Chưa có việc làm Đủ việc làm Không đủ việc làm Chưa có việc làm 1.Theo nhóm tuổi 16- 18 1,25 12,50 86,25 2,50 16,67 80,83 19 - 25 25,42 52,08 22,50 27,50 56,25 16,25 26 - 35 36,25 51,25 12,50 24,17 60,41 15,42 ≥ 35 27,92 67,50 4,58 16,67 70,00 13,33 2. Theo trình độ học vấn Chưa TN tiểu học 6,67 7,92 2,50 2,50 10,00 5,83 TN tiểu học 15,42 17,50 12,50 14,17 17,92 14,17 TN PTCS 28,33 59,58 40,83 30,00 54,58 36,25 TN PTTH 49,58 15,00 44,17 53,33 17,50 43,75 + Theo trình độ học vấn: Cơ cấu việc làm của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp theo trình độ học vấn đã có sự thay đổi đáng kể. Đối với lao động có trình độ học vấn thấp xu hướng chung là tỷ lệ lao động chưa có việc làm (thất nghiệp) tăng lên. Nguyên nhân chính là do việc thu hút lao động trình độ học vấn thấp từ các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp tham gia vào thị trường lao động và hỗ trợ cho họ tự tạo ra việc làm là vấn đề xã hội bức xúc và khó khăn tại các thị trường lao động như: trình độ học vấn thấp, không đủ điều kiện để tham gia vào đào tạo chuyển đổi nghề, thiếu ý tưởng kinh doanh, không tham gia được vào thị trường xuất khẩu lao động Trong khi đó, đa số lao động có trình độ học vấn thấp lại rơi vào những hộ 95 có thu nhập thấp thuộc các hộ thuần nông, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, để giúp lao động trình độ học vấn thấp của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp vươn lên đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động, cần chú trọng đến vấn đề hỗ trợ nâng cao trình độ học vấn dưới các hình thức khác nhau. Thực tế trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất từ nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp trên địa bàn huyện khó khăn về vấn đề việc làm thường gặp phải là: + Người dân chưa kịp chuẩn bị để kiếm một nghề mới, kể cả về tư tưởng, thái độ, ý thức, nghề nghiệp do vậy, hầu như khi đột ngột mất đất, mất việc làm có gắn với đất thì họ không có khả năng nhanh chóng tìm việc làm tạo thu nhập. Tình trạng thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp một phần là rất gay gắt, là vấn đề xã hội bức xúc của các vùng có chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. + Việc cấp tốc đào tạo nghề là rất khó, do thanh niên các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đa số mới tốt nghiệp phổ thông cơ sở, trong khi các nghề đáp ứng chỗ làm việc trong các doanh nghiệp phần lớn yêu cầu phải tốt nghiệp phải tốt phổ thông trung học. + Số tiền hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề cho mỗi lao động là ít, người lao động chỉ có thể tham gia một khóa đào tạo ngắn hạn với các ngành nghề đơn giản, khó có thể thay thế nghề trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp mà họ đã gắn bó và có kinh nghiệm từ nhiều năm. Do đó, họ có rất ít cơ hội để được thu hút vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu dịch vụ + Các cơ sở dạy nghề tại các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp không đủ năng lực tiếp nhận hết con em nông dân mất đất, lại chưa có trang thiết bị cần thiết nên chất lượng dạy nghề thấp. Do đó, con em nông dân mất đất khó cạnh tranh với những lao động được đào tạo ở các thành phố lớn đến tìm việc làm. + Dân cư chưa hình dung được được những yêu cầu của cuộc sống và những thói quen mới trong đời sống xã hội khi sống trong một tiểu vùng có mật độ công nghiệp tập trung cao, nên rất lúng túng trong định hướng cho tham gia đào tạo, tìm việc làm và cuộc sống. + Các doanh nghiệp thường có xu hướng tuyển dụng lao động trẻ, khỏe (đa số 96 doanh nghiệp chỉ tuyển lao động trong độ tuổi từ 18-25). Do vậy, những lao động lớn tuổi (thường khó học nghề mới hoặc khó tìm việc làm ở những địa phương khác) và thậm chí lao động 26-35 tu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfqldd_la_nguyen_thi_hong_hanh_792_2005309.pdf
Tài liệu liên quan