Luận văn Chế độ bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện

 

LỜI MỞ ĐẦU 1

1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài: 1

2. Mục đích nghiên cứu đề tài: 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4. Phương pháp nghiên cứu đề tài: 2

5. Kết cấu của luận văn: 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BHTG 4

VÀ CHẾ ĐỘ BHTG Ở VIỆT NAM. 4

1.1. Những vấn đề chung về BHTG: 4

1.1.1. Khái niệm chung về BHTG: 4

1.1.2. Đặc điểm của BHTG: 5

1.1.3. Vai trò của BHTG : 6

1.2: Chế độ BHTG ở Việt Nam: 9

1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của chế độ BHTG ở Việt Nam: 9

1.2.1.1. Khái niệm chế độ BHTG ở Việt Nam: 9

1.2.1.2. Đặc trưng của chế độ BHTG Việt Nam: 11

1.2.2. Nội dung cơ bản của chế độ BHTG ở Việt Nam: 12

1.2.2.1. Phạm vi áp dụng: 14

a/ Chủ thể quan hệ BHTG: 14

b/ Loại tiền được bảo hiểm : 18

c/ Số tiền bảo hiểm: 20

1.2.2.2.Phí BHTG: 21

1.2.2.3. Sự kiện bảo hiểm và việc chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm: 23

1.3: Pháp luật về BHTG ở một số nước trên thế giới: 25

1.3.1. Pháp luật BHTG ở Mỹ: 25

1.3.2. Pháp luật BHTG ở Indonesia: 28

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BHTG Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 33

2.1: Thực trạng pháp luật về BHTG ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng: 33

2.1.1. Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật hiện hành về BHTG ở Việt Nam: 33

Thứ nhất: Quy định về đối tượng tham gia BHTG: 33

Thứ hai: Quy định về người được hưởng quyền lợi bảo hiểm: 35

Thứ ba: Quy định về loại tiền gửi được bảo hiểm: 36

Thứ tư: Quy định về phí BHTG: 38

Thứ năm: Quy định về hạn mức chi trả BHTG: 40

2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật BHTG ở Việt Nam: 44

2.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật BHTG Việt Nam: 57

2.3. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam: 60

KẾT LUẬN 65

 

 

doc71 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 20/01/2016 | Lượt xem: 2214 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Chế độ bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sia: BHTG Indonesia (IDIC) được thành lập và đi vào hoạt động vào ngày 22/09/2005 theo Luật BHTG được Quốc hội Indonesia ban hành năm 2004. Trước khi thành lập IDIC, Chính phủ Indonesia đã thực hiện bảo hiểm toàn bộ tiền gửi, đặc biệt sau khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ ở Indonesia vào năm 1998 để lấy lại niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính – ngân hàng. Nhưng việc bảo hiểm đó đã dẫn tới những rủi ro về mặt đạo đức và gia tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, do đó cần có sự thay đổi chính sách về BHTG cho phù hợp với tình hình mới. Luật BHTG Indonesia đã truyền tải được toàn bộ thay đổi về mặt chính sách BHTG ở quốc gia này. Luật BHTG Indonesia bao gồm 103 điều, tập trung ở 4 nhóm vấn đề sau Bài viết “ Luật BHTG Indonesia kinh nghiệm nào cho Việt Nam” của tác giả Thuý Sen đăng trên trang web: www.div.gov.vn. : Nhóm 1: Những quy định chung: - Cơ chế tham gia BHTG: theo điều 8 Luật BHTG Indonesia, tất cả các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ của Indonesia phải tham gia BHTG bắt buộc. - Loại tiền gửi được bảo hiểm: bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tài khoản vãng lai, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi bằng đồng rupiah, tiền gửi ngoại tệ, cũng như tiền gửi hồi giáo và tiền gửi thông thường. - Hạn mức chi trả tiền gửi được BHTG: hạn mức BHTG được chi trả cho mỗi cá nhân tại một ngân hàng là 100.000.000 rupiah (11.000 đô la). Hạn mức này gấp khoảng 9,6 lần GDP bình quân đầu người của Indonesia. Nhóm 2: Những quy định liên quan đến BHTG: - Về năng lực tài chính: nguồn vốn của IDIC bao gồm nguồn vốn Nhà nước và vốn tư nhân. Nguồn vốn ban đầu không hoàn lại là 4000 tỷ rupiah (khoảng 435 triệu đô la). Hiện nay nguồn vốn hoạt động của IDIC khoảng 1 tỷ đô la. Nguồn vốn được sử dụng để chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm, thanh toán các chi phí khác liên quan đến việc chi trả cho người gửi tiền và để xử lý đổ vỡ ngân hàng. Quỹ mục tiêu là 2,5% tổng số tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. IDIC được đảm bảo hỗ trợ tài chính hoàn toàn từ Chính phủ. - Về phí BHTG: các thành viên đóng phí BHTG đồng hạng 6 tháng 1 lần là 0,1% trên tổng số tiền gửi (0,2%/năm). Theo điều 15 của Luật BHTG Indonesia quy định: tỷ lệ phí cố định có thể được điều chỉnh sang hệ thống phí theo mức độ rủi ro. Trong trường hợp thiết lập hệ thống phí điều chỉnh theo mức độ rủi ro, chênh lệch giữa các hạng phí cao nhất không được vượt quá 0,5%. - Về các nghiệp vụ BHTG: trong các nghiệp vụ của IDIC thì cần nhấn mạnh đến nghiệp vụ xử lý đổ vỡ vì có nhiều điểm đặc biệt thể hiện tính chủ động và chịu trách nhiệm của IDIC. + Nguyên tắc xử lý đổ vỡ: là nguyên tắc chi phí tối thiểu trên cơ sở tính toán lợi ích giữa việc “cứu” ngân hàng hoặc không “cứu” ngân hàng. + Đối với nghiệp vụ xử lý đổ vỡ: được chia thành những trường hợp sau: Cứu ngân hàng bị đổ vỡ không tác động đến hệ thống. Không cứu ngân hàng không tác động đến hệ thống Giải quyết ngân hàng đổ vỡ tác động đến hệ thống bằng việc bơm vốn của cổ đông. Giải quyết ngân hàng đổ vỡ tác động đến hệ thống không có sự bơm vốn của cổ đông. + Về quy trình xử lý đổ vỡ: luật BHTG Indonesia quy định rõ về quy trình thủ tục xử lý TCTD bị đổ vỡ theo những hình thức được nêu ở trên như điều kiện xử lý, cách thức xử lýtrên tinh thần tạo tính chủ động và chịu trách nhiệm của IDIC. Nhóm 3: Những quy định về tổ chức BHTG: - Về địa vị pháp lý: + IDIC được thành lập là cơ quan có năng lực pháp lý độc lập, thuộc Chính phủ chịu trách nhiệm về việc triển khai chức năng, quyền hạn. + Có thẩm quyền ban hành văn bản điều chỉnh hoạt động BHTG phù hợp với Luật BHTG và các văn bản pháp lý khác của Indonesia. + IDIC chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Tổng thống; + Theo điều 1 khoản 9 Luật BHTG Indonesia, IDIC là thành viên của Uỷ ban phối hợp. Uỷ ban phối hợp là uỷ ban có thành phần tham gia gồm Bộ tài chính, cơ quan giám sát (LPP), Ngân hàng Trung Ương là IDIC nhằm xác định và thực hiện chính sách giải quyết ngân hàng đổ vỡ trong trường hợp ngân hàng này được xác định là có tác động đến hệ thống. - Về nhiệm vụ: bảo vệ người gửi tiền, bảo vệ an toàn của quỹ BHTG; tham gia tích cực vào việc ổn định của hệ thống tài chính. - Về quyền hạn: quản lý quỹ BHTG, thu phí và xây dựng hệ thống, tiếp cận với thông tin về tiền gửi và báo cáo tài chính của ngân hàng nhằm quản trị rủi ro; tiếp nhận, xử lý, chi trả cho người gửi tiền và thanh lý ngân hàng đổ vỡ. - Về mô hình tổ chức: được thiết lập theo mô hình của tổ chức iảm thiểu rủi ro dưới hình thức và hoạt động theo mô hình Tổng công ty. Nhóm 4: Về sự chi phối giữa các cơ quan chức năng trong việc thực hiện ổn định hệ thống tài chính ngân hàng: phối hợp trong việc thực hiện ổn định hệ thống tài chính – ngân hàng. Theo điều 1 khoản 9 Luật BHTG Indonesia quy định: “IDIC là thành viên của Uỷ ban phối hợp”, Uỷ ban phối hợp là Uỷ ban có thành phần tham gia gồm Bộ tài chính, cơ quan giám sát (LPP), ngân hàng TW và IDIC nhằm xác định và thực hiện chính sách giải quyết ngân hàng đỗ vỡ. Có thể nhận thấy rằng, xu hướng phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng nói chung và xu hướng phát triển kinh tế xã hội tác động trực tiếp đến chính sách BHTG. Với đặc thù này, Luật BHTG Indonesia đã thể hiện tính ổn định và dự báo rất rõ đặc biệt là quy định về phí BHTG và hạn mức chi trả; cụ thể: -Về phí BHTG: thời điểm Luật BHTG được ban hành thì áp dụng mức phí đồng hạng là phù hợp nhưng những nhà lập pháp đã dự đoán được áp dụng mức phí trên cơ sở rủi ro sẽ là xu hướng trên thế giới. Đây là một điểm mà Luật BHTG Việt Nam trong tương lai cần học hỏi. Hiện theo quy định về phí BHTG ở Việt Nam được áp dụng là mức phí đồng hạng 0,15%/năm trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG, đây là mức phí cố định. Điều này chưa thực sự công bằng giữa các TCTD tham gia BHTG có hiệu quả hoạt động khác nhau. Do đó, việc học hỏi kinh nghiệm của Luật BHTG Indonesia về quy định mức phí là rất cần thiết đối với Luật BHTG của Việt Nam trong tương lai. -Về hạn mức chi trả: Luật quy định một hạn mức cố định ở thời điểm ban hành là 100 triệu rupiah cho mỗi người gửi tiền tại một ngân hàng. Cơ sở để tính toán hạn mức này là dựa vào tiêu trí đảm bảo số lượng người gửi tiền nằm trong phạm vi được bảo hiểm là khoảng 90%. Nhưng do GDP mỗi năm lại có sự thay đổi và tỷ lệ đó cũng không cố định, nên Luật BHTG Indonesia đã tạo ra “khung pháp lý mở” là hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm có thể điều chỉnh nếu số lượng người gửi tiền nằm trong phạm vi bảo hiểm giảm xuống dưới 90% trên tổng số người gửi tiền tại tất cả các ngân hàng, hoặc có sự thay đổi lớn về tỷ lệ lạm phát trong vài năm, hoặc xảy ra tình trạng một lượng vốn lớn đồng thời bị rút khỏi ngân hàng Bài viết “ Luật BHTG Indonesia kinh nghiệm nào cho Việt Nam” của tác giả Thuý Sen đăng trên trang web: www.div.gov.vn. . Với tính dự báo về việc thay đổi hạn mức chi trả BHTG ở Việt Nam đã được đề cập tại điều 1 khoản 3 điểm 2 Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ, theo đó việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa do Thủ tướng Chính phủ Quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ tài chính. Song để xác định việc thay đổi hạn mức chi trả dựa vào tiêu chí nào thì luật BHTG Việt Nam cần rút kinh nghiệm từ Luật BHTG Indonesia. Đồng thời, để đảm bảo hiệu lực trong quá trình thực thi, Luật BHTG có quy định về chế tài đối với những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định. Điều đó đảm bảo tính hiệu quả và nguyên tắc pháp chế. Việc xây dựng Luật BHTG Indonesia sẽ là một bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng Luật BHTG ở Việt Nam trong tương lai. Nói tóm lại BHTG là lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam so với lịch sử gần trăm năm của nhiều quốc gia có hệ thống BHTG phát triển như Mỹ, Canada, Hàn Quốc Năm 2009 là thời điểm đánh dấu 10 năm chính sách BHTG được áp dụng tại Việt Nam. Có thể thấy việc hình thành và áp dụng vào thực tế của BHTG không những góp phần tích cực trong việc nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính quốc gia mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, giảm thiểu rủi ro, đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng. Chính sách BHTG trong thời gian qua đã thực sự đi vào cuộc sống, là minh chứng khẳng định vị trí, vai trò, sự cần thiết của một định chế tài chính quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và sự an toàn tài chính quốc gia nói riêng. Song để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế quốc gia thì chính sách BHTG Việt Nam cũng cần có những thay đổi để tạo sự phát triển đồng bộ trong tương lai. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BHTG Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1: Thực trạng pháp luật về BHTG ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng: 2.1.1. Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật hiện hành về BHTG ở Việt Nam: Chính sách về BHTG được kiểm nghiệm bằng thực tế hoạt động của BHTG Việt Nam gần 10 năm qua đã thực sự đi vào cuộc sống, hoạt động của BHTG Việt Nam đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước, duy trì sự ổn định, phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống các tổ chức tham gia BHTG, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời là nhân tố quan trọng trong việc phát huy nguồn vốn nội lực để phát triển kinh tế, giữ vững ổn định, an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đó là minh chứng khẳng định vị trí, vai trò, sự cần thiết của BHTG với tư cách là một biện pháp đảm bảo quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và mạng lưới an toàn tài chính quốc gia nói riêng. Hoạt động BHTG ở nước ta hiện nay được thực hiện trên cơ sở pháp lý là Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/09/2009 về BHTG; Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP và Thông tư số 03/2006/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 25/04/2006 hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ, và một số văn bản quy định về quản lý tài chính đối với BHTG Việt Nam. Khi nghiên cứu khái quát nội dung các văn bản này cho thấy pháp luật về BHTG ở Việt Nam đang được xây dựng theo hướng vừa phù hợp với điều kiện Việt Nam, vừa đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành hiện nay trong lĩnh vực này vẫn còn bộc lộ một số vấn đề hạn chế, vướng mắc, cụ thể trên một số mặt sau đây: Thứ nhất: Quy định về đối tượng tham gia BHTG: Tại điều 1 khoản 1 Nghị định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP quy định: “ Các TCTD và tổ chức không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân phải tham gia BHTG bắt buộc” Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 24/08/2005, đăng trên trang web:www.chinhphu.vn. . Quy định này cho thấy sự bắt buộc phải tham gia BHTG của các TCTD, tổ chức không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD khi nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức bằng đồng Việt Nam. Sự bắt buộc có tính nguyên tắc này được đặt trong tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam cũng như tình hình phát triển của hệ thống tín dụng nước ta hiện nay là hoàn toàn phù hợp, khi nguồn lực tài chính của ngành Ngân hàng Việt Nam phát triển chưa thực sự mạnh và sự an toàn cho hoạt động tín dụng của các TCTD chưa được đảm bảo chắc chắn, việc quy định bắt buộc tham gia BHTG cho các tổ chức nhận tiền gửi là điều cần thiết. Mặt khác, quy định cho thấy đối tượng tham gia BHTG có phạm vi tương đối rộng. Ở đây, tất cả các TCTD không phân biệt TCTD đó là TCTD ngân hàng hay TCTD phi ngân hàng, là TCTD trong nước hay TCTD có vốn đầu tư nước ngoài, hay các tổ chức không phải là TCTD có nhận tiền gửi đều trở thành đối tượng tham gia BHTG bắt buộc. Trên thực tế, đa số các quốc gia có hệ thống BHTG đều quy định: các TCTD và các tổ chức có huy động tiền gửi tự nguyện của cá nhân phải tham gia BHTG bắt buộc. Chẳng hạn như Mỹ, pháp luật BHTG Mỹ quy định các ngân hàng là thành viên của hệ thống dự trữ liên bang phải tham gia bảo hiểm tại công ty BHTG liên bang Bài viết “mô hình BHTG Liên bang Hoa Kỳ” – trang web www.div.gov.vn . ở Indonesia, pháp luật hiện hành quy định: các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Indonesia phải tham gia BHTG bắt buộc Bài viết “ Luật BHTG Indonesia kinh nghiệm nào cho Việt Nam” của tác giả Thuý Sen đăng trên trang web: www.div.gov.vn . Có thể thấy quy định của pháp luật hiện hành Việt Nam đã tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế, thể hiện sự bình đẳng trong nghĩa vụ của các TCTD có nhận tiền gửi ở Việt Nam trong việc đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền. Tuy nhiên, hiện nay đối tượng tham gia BHTG chủ yếu là các ngân hàng, công ty tài chính, các quỹ tín dụng nhân dân vì vậy cơ quan BHTG cũng chỉ thực hiện việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức này. Trong khi đó, một số tổ chức tài chính có chức năng đặc thù khác như : công ty bảo hiểm nhân thọ, công ty nhận uỷ thác đầu tư chứng khoán, tiết kiệm bưu điện cũng thực hiện hoạt động huy động vốn rộng rãi bằng nhận tiền gửi song pháp luật lại không quy định nghĩa vụ tham gia BHTG của các tổ chức này, và người gửi tiền tại các tổ chức này sẽ không được đảm bảo quyền lợi của mình như các tổ chức, cá nhân khác gửi tiền tại các tổ chức bắt buộc phải tham gia BHTG. Mặc dù việc thực hiện nguồn vốn huy động bằng nhận tiền gửi tại các tổ chức không phải tham gia BHTG như đã nêu trên chủ yếu không nhằm mục đích kinh doanh, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc hoạt động của các tổ chức đó sẽ không có rủi ro xảy ra Bài viết“Một số vấn đề pháp lý về BHTG ở Việt Nam” – Th.S Phạm Nguyệt Thảo, trang 50 (Tạp chí Luật học số 12/2007-Trường đại học luật Hà Nội.) . Như vậy với quy định về đối tượng tham gia BHTG như hiện nay có một bộ phận chủ thể cần thiết phải tham gia BHTG mà pháp luật không đề cập, đó là công ty bảo hiểm Nhân Thọ, công ty nhận uỷ thác đầu tư chứng khoán, tiết kiệm bưu điện. Những rủi ro tiềm ẩn sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người gửi tiền khi tham gia gửi tiền vào các tổ chức này. Thứ hai: Quy định về người được hưởng quyền lợi bảo hiểm: Theo quy định tại điều 3 Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ : “Tiền gửi được bảo hiểm là Đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG”. Như vậy người được hưởng quyền lợi bảo hiểm theo quy định này chỉ là cá nhân gửi tiền bằng đồng Việt Nam tại các tổ chức tham gia BHTG. Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP quy định về người được hưởng quyền lợi bảo hiểm tại điều 1 khoản 2 như sau : “Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia BHTG, trừ những trường hợp sau đây: - Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia BHTG đó. - Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tham gia BHTG đó. - Tiền gửi dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền. -Tiền mua các giấy tờ có giá, trừ một số giấy tờ có giá theo hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam”. Có thể thấy so với quy định tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ thì quy định về người được hưởng quyền lợi bảo hiểm tại Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã có sự mở rộng đối tượng tương đối. Như vậy số người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi được bảo hiểm sẽ tăng lên đáng kể, điều này là phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Tuy nhiên, nếu đã mở rộng thêm đối tượng là tổ chức nhưng chỉ quy định đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, tổ hợp tác, hộ gia đình thì có công bằng không đối với các tổ chức là công ty TNHH, công ty cổ phần ? Vậy tiêu trí để được hưởng quyền lợi bảo hiểm là như thế nào? Nếu coi khoản tiền gửi được bảo hiểm chỉ bao gồm tiền gửi của cá nhân và các tổ chức không có tư cách pháp nhân thì sẽ lý giải thế nào về “người gửi tiền” là công ty hợp danh - đối tượng mà theo quy định của Luật doanh nghiệp là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân? Với quy định hiện hành, dường như nhà làm luật đang sử dụng tiêu trí sở hữu để xác định loại tiền gửi được bảo hiểm, theo đó tiền gửi của công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân thường được hạch toán vào tài khoản tiền gửi của cá nhân (thành viên hợp danh, chủ doanh nghiệp tư nhân) và nằm trong diện tiền gửi được bảo hiểm, tương tự như tiền gửi của cá nhân, hộ gia đình. Tuy nhiên, một khi đã mở rộng người được hưởng quyền lợi bảo hiểm bao gồm cả tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mà không quy định bảo hiểm cho tiền gửi của các loại hình doanh nghiệp khác như công ty cổ phần, công ty TNHH Điều này chưa đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi của các tổ chức, cá nhân gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG Bài viết“Một số vấn đề pháp lý về BHTG ở Việt Nam” – Th.S Phạm Nguyệt Thảo, trang 51 ( Tạp chí Luật học số 12/2007-Trường đại học luật Hà Nội.) . Có thể thấy pháp luật chưa bao quát, bao trùm hết phạm vi đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Do đó trong tương lai cũng cần cân nhắc tới việc mở rộng hơn nữa đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm tới các loại hình doanh nghiệp khác để vừa đảm bảo bình đẳng, đồng thời phù hợp với vai trò của BHTG. Thứ ba: Quy định về loại tiền gửi được bảo hiểm: Điều 3 Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy đinh : “Tiền gửi được bảo hiểm là Đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG”. Theo quy định này thì chỉ tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của các cá nhân là được bảo hiểm. Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP đã có những bổ sung về quy định đối với các loại tiền gửi được bảo hiểm tại điều 1 khoản 2 như sau: “Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia BHTG”. Như vậy Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ vẫn quy định chỉ bảo hiểm cho loại tiền gửi là Đồng Việt Nam. Song Nghị định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP so với Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ đã mở rộng đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm, cùng với đó là việc quy định những trường hợp tiền gửi không được bảo hiểm bao gồm: “Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia BHTG đó. Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tham gia BHTG đó. Tiền gửi dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền. Tiền mua các giấy tờ có giá, trừ một số giấy tờ có giá theo hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam” Điểm a,b, c, d khoản 2 điều 1 Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 24/08/2005, đăng trên trang web:www.chinhphu.vn. . Việc bổ sung quy định này là rất phù hợp để nhằm hạn chế việc những người trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền Quyết định tới sự tồn tại của tổ chức tham gia BHTG lợi dụng chức quyền, vì mục đích cá nhân gây ảnh hưởng cho hoạt động chung của ngân hàng và quyền lợi của người gửi tiền. Mặc dù cả Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP đều xác định chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi là Đồng Việt Nam. Song Thông tư hướng dẫn 2 Nghị định này còn có những bất cập làm cho việc xác định loại tiền gửi nào được bảo hiểm còn chưa rõ ràng. Cụ thể: trước đây, Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 03/2000/TT-NHNN ngày 16/03/2000 hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ như sau : “tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các cá nhân (bao gồm người cư trú và người không cư trú) tại tổ chức tham gia BHTG gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn; tiền gửi không kì hạn, có kì hạn ( bao gồm cả tiền gửi trên tài khoản cá nhân); tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép các tổ chức tham gia BHTG phát hành; BHTG Việt Nam không bảo hiểm đối với các loại chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu vô danh do tổ chức tham gia BHTG phát hành” Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 03/2000/TT-NHNN ngày 16/03/2000 hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính Phủ, đăng trên trang web:www.chinhphu.vn. . Song Thông tư số 03/2006/TT-NHNN ngày 25/04/2006 thay thế Thông tư số 03/2000/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước lại không đề cập rõ vấn đề này. Trong khi đó xét về khía cạnh đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, việc xác định rõ loại tiền gửi nào được bảo hiểm là rất quan trọng vì sẽ giúp người gửi tiền có thể tự nhận biết một cách chính xác loại tiền gửi, hình thức gửi tiền của mình có được bảo hiểm hay không. Hầu hết các quốc gia đều quy định cụ thể loại tiền gửi nào được bảo hiểm và loại tiền gửi nào không được bảo hiểm để thể hiện mục tiêu của chính sách BHTG Bài viết“Một số vấn đề pháp lý về BHTG ở Việt Nam” – Th.S Phạm Nguyệt Thảo, trang 52 (Tạp chí Luật học số 12/2007 -Trường đại học luật Hà Nội.) . Về nguyên tắc, xác định loại tiền gửi được bảo hiểm cũng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ, trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia. Như vậy quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta chỉ bảo hiểm cho các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam, song trên thực tế việc nhân tiền gửi có thể là đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ khác. Vậy quy định chỉ bảo hiểm đối với các khoản tiền gửi bằng Việt Nam đồng chưa thực sự đảm bảo công bằng, bình đẳng và chưa bảo vệ tốt nhất người gửi tiền. Thứ tư: Quy định về phí BHTG: Trên thế giới hiện nay thường áp dụng hai phương pháp tính phí BHTG là: phương pháp tính phí đồng hạng và phương pháp tính phí trên cơ sở rủi ro. a/ Phương pháp tính phí đồng hạng là phương pháp tính phí mà tổ chức BHTG áp dụng một mức phí bằng nhau cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Việc tính phí theo phương pháp này thường chỉ phù hợp khi hoạt động ngân hàng còn chưa thực sự phát triển và khoảng cách về rủi ro trong kinh doanh của các tổ chức tham gia BHTG là không lớn. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế hội nhập, hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, sự cạnh tranh giữa các TCTD và sự phát triển của hoạt động ngân hàng cho thấy rõ khác biệt về năng lực tài chính và mức độ rủi ro của các tổ chức này thì phương pháp tính phí đồng hạng tỏ ra không còn phù hợp. b/Phương pháp tính phí trên cơ sở rủi ro là phương pháp tính phí mà tổ chức BHTG áp dụng mức phí trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi ,cụ thể tổ chức BHTG sẽ thu mức phí cao đối với các tổ chức tham gia BHTG có mức độ rủi ro cao và ngược lại đối với các tổ chức tham gia BHTG có mức độ rủi ro thấp sẽ được hưởng mức phí BHTG thấp hơnBài viết “BHTG góp phần duy trì ổn định hệ thống tài chính – ngân hàng” T.S. Lê Thị Kim Xuân (Tạp chí phát triển kinh tế tháng 7/2008). . Trước đây theo Quyết định số 101/TC-QĐ ngày 01/02/1994 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành các quy tắc bảo hiểm, trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kì hạn của khách hàng đã quy định: các quỹ tín dụng nhân dân phải nộp phí cho Bảo Việt bằng 0.165% trên số dư tiền gửi có kì hạn mỗi quý. Đây được xác định là mức phí đồng hạng cho tất cả các Quỹ tín dụng nhân dân khi tham gia BHTG của Bảo Việt. Có thể nói quy định của Quyết định 101/ TC-QĐ của Bộ trưởng Bộ tài chính là quy định “khởi thuỷ” về việc thu phí BHTG đồng hạng ở nước ta. Tiếp tục phát huy tinh thần của Quyết định 101/ TC-QĐ của Bộ trưởng Bộ tài chính, hiện nay ở nước ta phí BHTG được quy định là mức phí đồng hạng với tỷ lệ phí là 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Nếu như trước đây do hoạt động ngân hàng chưa phát triển, để tạo môi trường chung cho hoạt động tài chính ngân hàng thì quy định mức phí đồng hạng là phù hợp. Song đến nay, khi Việt Nam đã và đang hoà chung vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới, hoạt động tài chính ngân hàng phát triển, các TCTD hoạt động đã thể hiện có những khoảng cách nhất định, thì việc quy định mức phí đồng hạng cần xem xét lại. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường và trong thời buổi hội nhập hiện nay, cạnh tranh là một quy luật. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng diễn ra khốc liệt mà hệ quả của nó là những ngân hàng yếu kém sẽ bị đào thải. Do vậy, nếu cứ duy trì mãi mức phí bảo hiểm đồng hạng như hiện nay sẽ đồng nghĩa với sự bao cấp cho những ngân hàng yếu kém, làm giảm uy tín đối với hệ thống ngân hàng, không tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hệ thống, đi ngược lại với quy luật thị trường. Việc duy trì tỉ lệ phí đồng hạng chỉ phù hợp với giai đoạn đầu BHTG mới thành lập, có tác dụng kích thích sự tham gia

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc2115.doc
Tài liệu liên quan