Luận văn Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong luật Việt Nam

MỤC LỤC

MỤC LỤC.1

Chương I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG.3

1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG.3

1.1 Khái niệm về hợp đồng:.3

1.2 Phân loại hợp đồng.4

1.2.1 Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.4

1.2.2 Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù.5

1.2.3 Hợp đồng ưng thuận, hợp đồng trọng thức và hợp đồng thực tại.5

1.2.4 Hợp đồng thương lượng, hợp đồng theo mẫu.5

1.2.5 Hợp đồng gắn liền với thân nhân của người giao kết.6

1.2.6 Hợp đồng với người tiêu dùng.7

1.3 Các điềukiện để hợp đồng có giá trị pháp lý.7

1.3.1 Điều kiện về nội dung.8

1.3.1.1 Năng lực giao kết.8

1.3.1.2 Nguyên tắc tư do ý chí.9

1.3.1.3 Các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng.10

1.3.2 Đối tượng của hợp đồng.15

1.3.2.1 Chuyển giao một quyền.16

1.3.2.2 Làm hoặc không làm một việc.17

1.3.2.3 Chế tài.18

1.3.3 Hình thức của hợp đồng.19

1.3.3.1 Một số quy định đặc biệt về hình thức .19

1.3.3.2 Một số quy định đặc biệt về thủ tục.21

1.3.3.3 Các chế tài.21

Chương II.24

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH -THƯƠNG MẠI BẰNG

TÒA ÁN THEO LUẬT VIỆT NAM.24

2.1 Khái quát chung về tranh chấp hợp đồng.24

2.1.1 Tranh chấp thương mại.24

2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.27

2.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường tòa án .29

2.2.1 Xác định thẩm quyền của tòa kinh tế.30

2.2.1.1 Thẩm quyền theo vụ việc.30

2.2.1.1.1 Những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải

quyết của tòa án .30

2.2.1.1.2 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải

quyết củatòa án .34

2.2.1.2 Thẩm quyền theo cấp xét xử.36

2.2.1.2.1 Tòa án nhân cấp huyện.36

2.2.1.2.2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh.36

2.2.1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao.37

2.2.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ.37

2.2.1.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn.38

2.3 Thủ tục xét xử sơ thẩm.40

2.3.1 khởi kiện và thụ lý vụ án.40

2.3.1.1 khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại.40

2.3.1.2 Thời hạn khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại, thời hạn yêu cầu

giải quyết việc kinh doanh, thương mại.40

2.3.1.3 Đơn khởi kiện.41

2.3.1.4 Thụ lý vụ án.44

2.3.2 chuẩn bị xét xử.45

2.3.2.1 Thu thập chứng cứ.46

2.3.2.2 Tiến hành hòa giải.50

2.4 Phiên tòa sơ thẩm.52

2.4.1 Thủ tục bắt đầu phiên tòa .53

2.4.2 Thủ tục hỏi tại phiên tòa.54

2.4.2.1 Hỏi các đương sự về yêu cầu của họ.54

2.4.2.2 Nghe lời trình bày của các đương sự.55

2.4.2.3 Hỏi từng đương sự từng vấn đề.57

2.4.3 Tranh luận tại phiên tòa.57

2.4.4 Nghị án.59

2.4.5 Tuyên án .60

2.5 Thủ tục phiên tòa phúc thẩm.61

2.5.1 Khái niệm.61

2.5.2 Chủ thể của quyền kháng cáo và kháng nghị.61

2.5.3 Trình tự thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị.63

2.5.4 Phiên tòa phúc thẩm.65

2.5.5 Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.67

2.5.6 Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng

cáo, kháng nghị.68

2.6 thủ tục giám đốc thẩm.69

2.6.1 khái niệm.69

2.6.2 Chủ thể khách thể của quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.70

2.6.3 Trình tự thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.71

2.6.4 Phiên tòa giám đốc thẩm.73

2.7 Thủ tục tái thẩm.75

2.7.1 khái niệm .75

2.7.2 Chủ thể và khách thể có quyền kháng nghị.76

2.7.3 Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh có yếu tố nước ngoài.77

Chương III.79

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.79

3.1 Thực trạng việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại bằng Tòa án .79

3.2 Một số kiến nghị.82

KẾT LUẬN.84

TÀI LIỆU THAM KHẢO.86

pdf90 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 21/01/2014 | Lượt xem: 3896 | Lượt tải: 57download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong luật Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mục đích lợi nhuận thì loại tranh chấp này không thuộc nhóm tranh chấp dân sự mà thuộc nhóm tranh chấp về kinh doanh thương mại. Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranh chấp về phần vốn góp của mổi thành viên với công ty TNHH ( thông thường phần vốn góp được tính bằng tiền nhưng cũng có thể được tính bằng hiện vật hoặc bằng Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 34 bản quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với một công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh ly các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan về việc thành lập, hoạt động, giải thể của công ty. Tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên của công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động giải thể công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định khác. 2.2.1.1.2 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết củatòa án Tranh chấp yêu cầukinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại Điều 30 BLTTDS. Những yêu cầu liên quan đến việc trong tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp. Theo pháp lện trọng tài thương mại thì có các yêu cầu sau: - Chỉ định, thay đổi trọng tài viên. - Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. - Hủy quyết định Trong Tài. - Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 35 Yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên.( Theo Điều 26 Pháp lệnh Trọng tài thương mại). - Nguyên đơn có yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn nếu trong thời hạn do pháp luật quy định mà bị đơn không chọn được Trọng tài viên. - Các Trọng tài viên không chọn được Trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch, thì các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên thứ ba. - Trong trường hợp các bên đã thỏa thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất để giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên duy nhất thì một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án chỉ định Trọng tài viên duy nhất để giải quyết tranh chấp. Yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên. ( theo Điều 27 pháp lệnh trọng tài thương mại). Trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn Hội đồng Trọng tài do các bênthành lập để giải quyết được việc thay đổi Trọng tài viên hoặc nếu hai Trọng tài viên hay Trong tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án quyết định. Yêu cầu Tòa án xem xét lại quyết định của Hội đồng Trọng tài về việc xem xétthỏa thuận trọng tài.( Theo Điều 30 Pháp lệnh Tố tụng thương mại). Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp nếu có đơn khiếu nại của một bên về việc hội đồngtrọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vụ tranh chấp không có thỏa thuận Trọng tài hoặc thỏa thuận Trọng tài vô hiệu thì do hội đồng trọng tài xem xét quyết định. Nếu không đồng ý với quyết định của Hội đồng Trọng tài thì cácbên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài. Yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.( Theo điều 33 Pháp lệnh Tố tụng thương mại). Trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết tranh chấp các bên có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp cân thiết. Yêu cầu hủy quyết định trọng tài.( Theo Điều 50 Pháp lệnh Tố tụng thương mại). Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 36 Nếu các bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài thì có quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định của hội đồng trọng tài. 2.2.1.2 Thẩm quyền theo cấp xét xử Thẩm quyền theo cấp xét xử là việc phân định thẩm quyền của tòa án theo cấp của tòa án các cấp cụ thể là căn cứ vào tính chất, mức độ phức tạp của từng loại tranh chấp để phân định thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hay tòa án nhân dân tối cao. Đặc trưng của vụ án kinh doanh, thương mại nói chung là những vụ án đòi hỏi kĩ năng xét xử cao của thẩm phán và hội đồng xét xử do đó không phải tất cả các vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án đều thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp huyện mà tòa án cấp huyện chỉ xét xử một số loại vụ việc theo thử tục sơ thẩm. Cụ thể, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thẩm quyền theo cấp xét xử được phân định như sau: 2.2.1.2.1 Tòa án nhân cấp huyện Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm các tranh chấp kinh doanhthương mại, được quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự cụ thể như sau: Mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lí; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; Tuy nhiên, những tranh chấp nói trên mà có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án ở nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Như vậy, Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu về kinh doanh thương mại. Đối với những tranh chấp về kinh doanh thương mại cũng chỉ giải quyết một số tranh chấp về kinh doanh thương mại. 2.2.1.2.2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả các vụ án kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 37 Tuy nhiên, pháp lệnh cũng quy định trong trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện. Các trường hợp cần thiết thường là: Khi vụ án có nhiều tình tiết phức tạp; khi vụ án có nhiều đương sự ở trên địa bàn khác nhau và xa nhau; Tòa án cấp huyện chưa có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, hoặc tuy có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, nhưng thuộc một trong các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán mà không có Thẩm phán khác để thay thế. Cũng theo sự phân cấp, Tòa án cấp tỉnh phúc thẩm những vụ án kinh doanh, thương mại mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với những bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị thì Ủy ban Thẩm phán của Tòa án cấp tỉnh xem xét và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 2.2.1.2.3 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm Tòa án nhân tối cao tiến hành phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa kinh tế thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa kinh tế thuộc tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao xem xét theo trình tựgiám đốc hẩm và tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới. 2.2.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án theo lãnh thổ được xác định là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 38 Tuy nhiên, luật cũng cho phép các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân, hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp vụ án liên quan đến bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản giải quyết. Đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: - Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu cho công nhận và cho thi hành bản án tại Việt Nam, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài. - Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu cho thi hành tại Việt nam. - Tòa án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài. - Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy đinh của pháp luật về trọng tài hương mại. 2.2.1.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây: Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 39  Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú cuối cùng của bị đơn giải quyết vụ án.  Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải quyết vụ án.  Nếu vụ án phát sinh từ quan hệ hợp đồng, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án.  Nếu bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư tú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của một trong các bị đơn giải quyết vụ án.  Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. Như vậy theo quy định tại điều 36 của Bộ Luật dân sự thì trong một số trường hợp nhất định, có nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết một vụ án kinh doanh thương mại cụ thể và nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Tòa án đó. Để tránh có tranh chấp về thẩm quyền thì Tòa án thuộc một trong các Tòa án có thẩn quyền mà nhận được đơn khởi kiện trước tiên của nguyên đơn, đã dự tính tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn và nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí, có thẩm quyền thụ lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại, nếu phát hiện việc giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền của mình, thì Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết, trong đó cần nêu rõ lý do chuyển hồ sơ vụ án, đồng thời phải thông báo ngay cho nguyên đơn biết. Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền, thì những Tòa án có tranh chấp phải báo ngay cho tòa án cấp trên trực tiếp để Tòa án đó quyết định việc giao cho Tòa án nào giải quyết vụ án, cụ thể như sau: - Tranh chấp về thẩm quyền của các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh thì do chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 40 - Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh do chánh án tòa án nhân dân tối cao giải quyết. 2.3 Thủ tục xét xử sơ thẩm 2.3.1 khởi kiện và thụ lý vụ án 2.3.1.1 khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại Theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, quyền khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là quyền của cá nhân hoặc pháp nhân có đủ tư cách của một chủ thể kinh doanh và có quyền và lợi ích hợp pháp bị tranh chấp hoặc bị xâm phạm. Quyền khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại là quyền tố tụng đầu tiên của các cá nhân hoặc pháp nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế. 2.3.1.2 Thời hạn khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại, thời hạn yêu cầu giải quyết việc kinh doanh, thương mại Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ tường hợp pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu, thời hiệu khởi kiện được xác định như sau: Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2005, thì thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2005; Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2005, thì thời hạn hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm; Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 41 Thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc kinh doanh, thương mại là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu. 2.3.1.3 Đơn khởi kiện Muốn khởi kiện thì người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện là sự thể hiện bằng văn bản các yêu cầu của người khởi kiện được gởi đến Tòa án có thẩm quyền đề nghị bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định, đơn khởi kiện phải có những nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; b) Tên tòa án nhận đơn khởi kiện; c) Tên, địa chỉ của ngươi khởi kiện; d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có; e) Tên, địa chỉ người bị kiện; f) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có; g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng nếu có; i) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp; j) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án; k) Người khởi kiện là cá nhân phải kí tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải kí tên và đóng dấu ở phần cuối đơn. Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Về mặt thủ tục, trước khi thụ lý vụ án, thẩm phán phải nghiên cứu kỹ đơn kiện và các điều kiện thụ lý vụ án. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải thực hiện những việc cụ thể sau đây: - Xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án mình hay không: Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 42 + Xác định vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án căn cứ vào Điều 25, 27, 29 và 31 Bộ luật tố tụng Dân sự; + Xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, căn cứ vào các điều 35 và 36 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xác định việc khởi kiện có còn thời hiệu khởi kiện hay không căn cứ vào Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự; “1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan , tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau: a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan , tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm; b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu”. - Xác định người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không căn cứ vào các Điều 161, 162 và 163 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 161 quy định: “cá nhân, cơ quan , tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Điều 162 quy định: “1. Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 43 2. Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động do pháp luật quy định. 3. Cơ quan , tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.” Điều 163 quy định: “1. Cá nhân, cơ quan , tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan , tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. 2. Nhiều cá nhân, cơ quan , tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan , một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau trong cùng một vụ án. 3. Cá nhân, cơ quan , tổ chức có thẩm quyền do Bộ luật này quy định có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan , tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.” - Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án, nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình theo quy định tại Điều 171 Bộ luật tố tụng Dân sự: 1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. 2. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. 3. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. 4. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì Toà án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo”. - Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện biết. Thủ tục chuyển đơn khởi kiện được thực hiện theo Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 44 quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng Dân sự và hướng dẫn tại mục 6 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NG- HĐTP ngày 31-3-2005. - Toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp quy định tại Điều 168: Bộ luật tố tụng Dân sự : 1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a) Thời hiệu khởi kiện đã hết; b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; d) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; đ) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. 2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện”. 2.3.1.4 Thụ lý vụ án Thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại là việc thẩm phán chấp nhận đơn khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý vụ án. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp thêm tiền tạm ứng án phí. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Trương Thanh Hùng SVTH: Phan Minh Giới Trang 45 Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện không phải nộp hoặc được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí thì Tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Sau khi thụ lý vụ án, Chánh án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án trong thờ gian ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục giải quyết vụ án thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. - Thông báo về việc thụ lý vụ án thực hiện theo đúng quy định tại Điều 174 BLTTDS: 1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn , cá nhân, cơ quan , tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. 2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; b) Tên, địa chỉ Toà án đã thụ lý vụ án; c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện; d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết; đ) Danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện; e) Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Toà án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có; g) Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu. 2.3.2 chuẩn bị xét xử Sau khi thụ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfGI7842I QUY7870T TRANH CH7844P V7872 H7906P 2727890NG TRONG PHamp193P LUamp7.PDF