Thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 04

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT QUY ƯỚC . 06

LỜI NÓI ĐẦU . 07

 

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH . 09

1.1 Thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính 09

1.1.1. Bản chất của thủ tục phân tích . 09

1.1.2. Các loại hình phân tích . 16

1.1.3. Ý nghĩa của thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính 26

1.1.4. Mức độ tin cậy của thủ tục phân tích . 28

1.2 Vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính 29

1.2.1. Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán . 30

1.2.2. Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán . 33

1.2.3. Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn kết thúc kiểm toán . 45

CHƯƠNG II: THỰC TẾ VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM . 47

2.1 Đặc điểm của công ty kiểm toán Việt Nam ảnh hưởng tới việc thực hiện thủ tục phân trong kiểm toán Báo cáo tài chính . 47

2.1.1. Sự ra đời và phát triển của công ty kiểm toán Việt Nam . 47

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty kiểm toán Việt Nam . 51

2.1.3. Đặc điểm quy trình hoạt động kiểm toán của công ty kiểm toán Việt Nam 55

2.2 Thực tế vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam . 59

2.2.1. Thực hiện thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT do VACO thực hiện . 59

2.2.1.1. Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT . 59

2.2.1.2. Thực hiện thủ tục phân tích chi tiết trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT . 72

2.2.1.3. Thực hiện thủ tục phân tích soát xét trong giai đoạn kết thúc kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT . 81

2.2.2. Thực hiện thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty cổ phần ABC do VACO thực hiện . 86

2.2.2.1. Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty cổ phần ABC . 87

2.2.2.2. Thực hiện thủ tục phân tích chi tiết trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty cổ phần ABC . 95

2.2.2.3. Thực hiện thủ tục phân tích soát xét trong giai đoạn kết thúc kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty cổ phần ABC . 98

CHƯƠNG III: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM . 105

3.1 Nhận xét về quá trình vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam 105

3.1.1. Về phạm vi áp dụng thủ tục phân tích . 106

3.1.2. Về phương pháp phân tích 108

3.1.3. Về phương pháp trình bày hồ sơ kiểm toán khi áp dụng thủ tục phân tích . 110

 

doc119 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 21/08/2015 | Lượt xem: 654 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ện những vấn đề chưa hợp lý, những lĩnh vực cần phải kiểm tra thêm. Thực hiện thủ tục phân tích soát xét Về bản chất, thủ tục phân tích soát xét tương tự như thủ tục phân tích sơ bộ nhưng mục tiêu của chúng thì lại hoàn toàn khác nhau. Thủ tục phân tích soát xét là để khẳng định những thay đổi trên Báo cáo tài chính là hoàn toàn phù hợp với hiểu biết của kiểm toán viên về khách hàng, phù hợp với bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán và bảo đảm tất cả các thay đổi đều có thể giải thích thoả đáng. Thủ tục phân tích soát xét trong giai đoạn kết thúc kiểm toán được thực hiện qua hai bước: Bước 1: So sánh thông tin Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, cơ sở để tiến hành so sánh là số liệu của năm nay so với số liệu của năm trước. Còn trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ so sánh kết quả được kiểm toán của năm nay so với năm trước (số liệu sau điều chỉnh). Từ đó kiểm tra xem liệu tất cả thay đổi đã được giải thích thoả đáng chưa, nếu chưa thì những thủ tục kiểm toán cần thiết tiếp theo là gì. Cũng tương tự như thủ tục phân tích sơ bộ, phân tích soát xét cũng sử dụng phân tích ngang và phân tích tỷ suất. Bước 2: Phân tích kết quả Căn cứ để tiến hành phân tích soát xét là dựa trên hiểu biết của kiểm toán viên về khách hàng và những bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình kiểm toán. Đối với những thay đổi đã được giải thích thoả đáng và không có sai sót trọng yếu thì có thể bỏ qua. Còn đối với những thay đổi mà không tìm được giải thích thoả đáng thì cần tiến hành các thủ tục kiểm toán bổ sung. ở đây kiểm toán viên nên tập trung vào những tài khoản đã xác định mức độ rủi ro lớn ở phần lập kế hoạch kiểm toán. Chương II: Thực tế vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán việt nam 2.1. Đặc điểm của công ty Kiểm toán Việt nam ảnh hưởng tới việc thực hiện thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính 2.1.1. Sự ra đời và phát triển của công ty Kiểm toán Việt nam Công ty Kiểm toán Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Auditing Company (VACO) được thành lập theo quyết định số 165/TC/QĐ/TCCB ngày 13/5/1991 của Bộ Tài chính. Khi mới thành lập VACO chỉ có văn phòng chính tại Hà nội với số lượng cán bộ nhân viên là 9 người song VACO cũng đã thực hiện cung cấp các dịch vụ kiểm toán và kế toán cho khách hàng có nhu cầu. Các năm tiếp sau,VACO mở rộng dần quy mô và lĩnh vực hoạt động của mình bằng việc mở 2 chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đồng thời tăng số lượng nhân viên của mình lên 54 người vào năm 1993. Bên cạnh đó, ngay từ 2 năm đầu kể từ khi thành lập, VACO là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam đã sớm hoà nhập và bắt tay hợp tác kinh doanh với các hãng kiểm toán lớn trên thế giới như: Deloitte Touche Tohmatsu (DTT), Anthur Andersen(A.A), Price waterhouse cooper (P.W.C), KPMG, Ernst and Young (E&Y) nhằm tiếp thu những kiến thức kiểm toán quốc tế, kỹ thuật, phương pháp và kinh nghiệm kiểm toán của thế giới. Đồng thời VACO cũng là chiếc cầu giúp cho các hãng kiểm toán lớn tiếp cận và hiểu được môi trường kinh doanh ở Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật của Việt Nam. Trên cơ sở hợp tác kinh doanh đó, tháng 4/1995 VACO đã liên doanh với DTT thành lập liên doanh VACO-DTT đánh dấu bước phát triển mới của ngành kiểm toán Việt Nam, điều này giúp VACO có điều kiện tiếp cận một cách đầy đủ và có hệ thống quy trình kiểm toán tiên tiến của thế giới. Cũng trong năm này, theo chủ trương của Bộ Tài chính hai chi nhánh của VACO tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã tách ra thành hai công ty độc lập là công ty Kiểm toán và tư vấn (A&C) và công ty Kiểm toán Đà Nẵng (DACO). Trên nền tảng là chi nhánh của VACO tách ra, cho đến nay hai công ty này đang hoạt động rất hiệu quả. Đến năm 1996, chi nhánh của VACO tại thành phố Hồ Chí Minh được tái thành lập và không ngừng phát triển, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động của VACO. Cũng trong năm này chi nhánh tại Hải Phòng được thành lập và đến tháng 4 năm 2004 chi nhánh tại Miền trung cũng đã được thành lập, điều này cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của VACO nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Sau hai năm hoạt động dưới hình thức liên doanh, với một quy trình kiểm toán đã được chuyển giao và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam cùng với một đội ngũ nhân viên ngang tầm với các hãng kiểm toán quốc tế, từ tháng 10/1997 DTT đã chính thức công nhận VACO với đại diện là phòng dịch vụ quốc tế là thành viên của DTT là đại diện hợp pháp duy nhất của DTT tại Việt Nam. Điều này đã đưa VACO trở thành công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam đạt trình độ quốc tế và đánh dấu bước phát triển mới của VACO nói riêng và ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam nói chung. Việc tổ chức quản lý của VACO - thành viên của DTT đã tạo điều kiện cho VACO khai thác tối đa những trợ giúp của DTT về chuyển giao kỹ thuật kiểm toán và quản lý quốc tế, về chuyên môn, tài liệu. Đồng thời, DTT đã trợ giúp đào tạo đội ngũ nhân viên Việt Nam một cách có hệ thống về kiểm toán và kế toán quốc tế, giúp VACO đưa vào sử dụng hệ thống phương pháp kiểm toán AS/2 (Auditing System /2) và chuẩn mực phục vụ khách hàng của DTT. Hiện nay với 8 phòng nghiệp vụ tại Hà Nội gồm phòng nghiệp vụ I, II, III, phòng Kiểm toán xây dựng cơ bản, phòng dịch vụ quốc tế I, phòng dịch vụ quốc tế II và đào tạo, phòng dịch vụ quốc tế III, phòng Tư vấn thực hiện các chức năng kiểm toán và tư vấn cùng với 3 chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Miền trung đã đưa hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế, … của VACO trải dài trên 61 tỉnh thành trong cả nước. Cùng với sự mở rộng các phòng ban, chi nhánh là sự tăng lên về số lượng lao động của VACO. Biểu đồ dưới đây sẽ phản ánh sự tăng trưởng số lượng lao động của công ty. Sơ đồ 2.1: Qui mô lao động của VACO qua các năm VACO là công ty chuyên ngành cung cấp các loại dịch vụ về kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp, báo cáo tài chính dự án quốc tế, tư vấn kế toán, thuế, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình xây dựng cơ bản,… Với phương châm hoạt động: “Luôn cung cấp mọi dịch vụ mà khách hàng cần chứ không chỉ những dịch vụ đã có, với chất lượng cao vượt trên sự mong đợi của khách hàng và nhân viên trong công ty”, trong nhiều năm qua công ty đã không ngừng mở rộng các loại hình dịch vụ cả về số lượng cả về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường. Trong các dịch vụ trên, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng lớn nhất sau đó đến dịch vụ tư vấn, dịch vụ kiểm toán xây dựng cơ bản và còn lại là các dịch vụ khác. - Kiểm toán Báo cáo tài chính: 88,9% - Tư vấn thuế, tài chính: 8,6% - Dịch vụ kiểm toán XDCB: 2% - Các dịch vụ khác: 0,5% Sơ đồ 2.2: Cơ cấu doanh thu theo loại hình dịch vụ năm 2004 Sau hơn 14 năm đi vào hoạt động với những nỗ lực không ngừng của tập thể cán bộ nhân viên toàn công ty và từng thành viên Ban giám đốc, công ty đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường Việt Nam với sự tăng trưởng doanh thu ngày càng cao qua các năm. Bảng số 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của VACO Chỉ tiêu Đơn vị 1991 1995 2000 2003 2004 KH2005 Hợp đồng HĐ 6 235 500 674 758 850 Doanh thu Tỷ đ 0,46 4,43 24.75 47 52 55 Để ghi nhận những kết quả công ty đã đạt được, Nhà nước đã nhiều lần tặng bằng khen và nhiều giải thưởng: Chính phủ tặng Bằng khen năm 1999 Bộ tài chính tặng Bằng khen từ năm 1994 đến năm 1998 Bộ công an tặng Bằng khen năm 1999 Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng ba năm 2000 UBND Thành phố Hà nội tặng Bằng khen năm 2002 Đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh từ năm 1992 đến năm 2004 Vào năm 2003, Công ty đã vinh dự đón nhận giải thưởng “Sao vàng đất việt”. Một trong những nhân tố tạo nên những kết quả như ngày nay của VACO chính là đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp của mình. Kể từ khi thành lập đến nay, mục tiêu đào tạo và phát triển nhân viên luôn được VACO coi là mục tiêu chiến lược và coi đó là chiến lược đầu tư cho tương lai. Hiện nay với tổng số cán bộ nhân viên của VACO là 379 người, trong đó có 12 nhân viên tham gia chương trình phát triển nghề nghiệp toàn cầu tại Mỹ trong 2 năm, 95 người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên quốc gia (CPA) chiếm 20% tổng số CPA cả nước, trên 50% số nhân viên đã được đào tạo dài hạn và ngắn hạn về kế toán và kiểm toán tại nước ngoài, có số lượng kiểm toán viên quốc tế lớn nhất trong số các công ty kiểm toán ở Việt Nam (23 người có chứng chỉ CPA quốc tế, 12 người có chứng chỉ ACCA), 4% nhân viên có bằng thạc sỹ trong nước và quốc tế, 10% số nhân viên đã và đang học chương trình ACCA, 95% số nhân viên có trình độ đại học trở lên và sử dụng thành thạo máy vi tính trong công việc, 35% số nhân viên có 2 bằng đại học trở lên và 90% số nhân viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong công việc. Có thể thấy trình độ của đội ngũ nhân viên của VACO là rất cao, là nhân tố quan trọng tạo nên những thành công của VACO như ngày hôm nay. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty Kiểm toán Việt Nam Tổ chức bộ máy quản lý của VACO được thiết kế và thực hiện theo mô hình trực tuyến (Sơ đồ 2.3). Với mô hình như trên, Ban lãnh đạo công ty có quyền chỉ đạo, điều hành trực tiếp đối với các phòng cấp dưới. Mọi hoạt động của nhân viên các phòng đều trực tiếp nhận lệnh và sự phân công của người lãnh đạo. Đứng đầu công ty là Giám đốc. Giúp việc cho Giám đốc là 5 phó Giám đốc trực tiếp phụ trách 8 phòng nghiệp vụ và 3 chi nhánh của công ty. Giám đốc công ty là người đại diện toàn quyền của công ty. Đó là người có trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của công ty. Tại VACO, Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý tài chính và nhân sự là chủ yếu. Ngoài ra, Giám đốc còn trực tiếp phụ trách phòng tư vấn, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh và một bộ phận phòng Hành chính tổng hợp. Hiện nay, các Phó Giám đốc theo sự phân công của Giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của công ty: 1 Phó Giám đốc phụ trách Phòng nghiệp vụ I và III. 1 Phó Giám đốc phụ trách Phòng nghiệp vụ II, Phòng ISD3, Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản và chi nhánh Miền trung. 1 Phó Giám đốc phụ trách Phòng ISD1. 1 Phó Giám đốc phụ trách Phòng ISD2, Phòng hành chính tổng hợp và chi nhánh Hải phòng. 1 Phó Giám đốc phụ trách Phòng tư vấn và giải pháp. Ban Giám đốc công ty có quyền trực tiếp ký kết hợp đồng hoặc uỷ quyền cho những người có trách nhiệm căn cứ vào giá trị hợp đồng và tính chất của hợp đồng. Giám đốc có quyền quyết định cuối cùng đối với công tác lập và luân chuyển chứng từ trong suốt quá trình hoạt động của công ty. Các phòng trong công ty được phân chia về mặt quản lý hành chính, tạo điều kiện cho công tác quản lý và phân công công việc. Mỗi phòng đều có chức năng và nhiệm vụ thực hiện hoạt động dịch vụ kiểm toán tương tự nhau nhưng loại hình dịch vụ và mạng lưới khách hàng có sự khác nhau. Phòng nghiệp vụ I, II, III, có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án.Tại phòng nghiệp vụ I, Tổng công ty Xi măng; rượu bia; thuốc lá là những khách hàng chủ yếu. Phòng nghiệp vụ II chuyên về kiểm toán tại Tổng công ty Hàng không. Tổng công ty Bưu chính viễn thông và Tổng công ty Than là những khách hàng thường xuyên của công ty do phòng nghiệp vụ III thực hiện kiểm toán. Giám đốc P. Giám đốc P. Giám đốc P. Giám đốc P. Giám đốc P. Giám đốc Phòng NV 3 Phòng ISD 3 Phòng tư vấn Phòng tư vấn Phòng NV 1 Phòng NV 2 Phòng ISD 1 Phòng HCTH Phòng K’T XDCB Phòng ISD 2 & Đào tạo Chi nhánh Hải Phòng Chi nhánh Miền Trung Chi nhánh TP HCM Sơ đồ 2.3: Bộ máy tổ chức và quản lý của công ty Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản có chức năng kiểm toán các công trình xây dựng cơ bản của Nhà nước và các doanh nghiệp. Dịch vụ này chỉ mang tính hỗ trợ bởi phí kiểm toán tương đối thấp. Phòng tư vấn và giải pháp chuyên làm tư vấn về thuế, về giải pháp kinh doanh, tư vấn về tài chính doanh nghiệp và về quản trị nói chung. Bộ phận thông tin là một bộ phận trực thuộc phòng này. Phòng dịch vụ quốc tế (ISD) – thành viên của DTT có chức năng thực hiện dịch vụ kiểm toán dưới tên hãng DTT cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các dự án quốc tế và các Tổng công ty lớn có vay vốn của World Bank và các Tổng công ty lớn khác. Cụ thể phòng ISD 1 kiểm toán khối dịch vụ, khách sạn; phòng ISD 2 kiểm toán khối sản xuất; phòng ISD 3 kiểm toán các dự án quốc tế. Sự phân chia các phòng như trên tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý trong công ty, nhất là một công ty có đặc điểm đặc thù, vừa là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính vừa là công ty kiểm toán thực hiện hoạt động kiểm toán độc lập theo quy trình quốc tế. Đặc biệt, khi triển khai hoạt động kiểm toán tại một Tổng công ty lớn, công ty có thể lập nhóm kiểm toán với các thành viên được huy động từ các phòng khác nhau. Đây cũng là một lợi thế rất lớn cho công ty khi thiếu nhân viên thực hiện kiểm toán bởi các nhân viên đều được trang bị những kiến thức lý luận và thực hành kiểm toán căn bản như nhau. Các phòng khi thực hiện các cuộc kiểm toán đều phải có sắp xếp kế hoạch để tạo điều kiện cho việc phê chuẩn, ký nhận các chứng từ về những khoản phí hợp lý, hợp lệ cho cuộc kiểm toán. Mặc dù với tư cách là công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán hoạt động kế toán của đơn vị khác nhưng công ty, cụ thể là các phòng nghiệp vụ cũng bảo đảm sự luân chuyển và giá trị hợp pháp của các chứng từ liên quan đến hoạt động kiểm toán và hoạt động chung của công ty. Ngoài ra, để tăng cường công tác quản lý, 2 phòng chức năng là phòng đào tạo và phòng hành chính tổng hợp được thiết lập để thực hiện chức năng đào tạo và quản lý nhân sự, kế toán và hành chính nói chung. Phòng đào tạo không chỉ tiến hành công tác đào tạo nội bộ, đào tạo bên ngoài (khi có nhu cầu) mà còn kiểm toán báo cáo tài chính chung với các hãng khác hay các công ty thuộc lĩnh vực tài chính như bảo hiểm. Công tác hành chính, quản trị, văn thư và kế toán của công ty được quản lý tại Phòng hành chính tổng hợp. Như vậy, mô hình quản lý trực tuyến theo nghiệp vụ và chức năng của công ty được thiết kế tương đối gọn nhẹ, quy mô vừa. Các chi nhánh của công ty VACO tại thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng và Miền trung cũng được tổ chức theo mô hình quản lý tương tự. Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc công ty. Chi nhánh thành phố Hải Phòng và Miền trung do một phó Giám đốc điều hành. Các chi nhánh được trực tiếp ký kết hợp đồng trên cơ sở uỷ quyền của Giám đốc công ty. Điều này tạo quyền chủ động cho các chi nhánh mà vẫn bảo đảm sự giám sát, kiểm tra của cấp trên thông qua những chứng từ cụ thể như giấy uỷ quyền, hợp đồng kinh tế, v.v… Ngoài ra, một bộ phận không kém phần quan trọng trong bộ máy quản lý của công ty, đó là Hội đồng tư vấn DTT. Một nhóm nhân viên có trình độ tương xứng có trách nhiệm kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán thông qua Báo cáo kiểm toán và file kiểm toán. Thường niên, các chuyên gia của DTT đồng thời thực hiện công tác kiểm soát chất lượng trước, trong và sau khi kiểm toán. Hội đồng tư vấn cũng thực hiện những biện pháp cần thiết để tham mưu, tư vấn cho Phòng tư vấn và giải pháp và Phòng dịch vụ quốc tế. Như vậy, mỗi phòng nghiệp vụ, phòng chức năng đều có nhiệm vụ cụ thể riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ với nhau trong việc trao đổi nhân sự, dịch vụ trợ giúp bảo đảm nguyên tắc “ bất kiêm nhiệm”, tránh ôm đồm, tránh lãng phí mà vẫn duy trì tính liên tục, hợp lệ của quy trình luân chuyển chứng từ, sổ sách và sẵn sàng tham mưu cho Ban Giám đốc khi cần. 2.1.3. Đặc điểm quy trình hoạt động kiểm toán của công ty Kiểm toán Việt Nam Với định hướng và mục tiêu chiến lược được duy trì trong suốt thời gian hình thành và phát triển, công ty kiểm toán Việt Nam luôn luôn xác định cho mình những hướng đi cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ. Là một công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ chuyên ngành về kế toán và kiểm toán, là thành viên của một hãng kiểm toán đa quốc gia, VACO đã thực hiện quy trình hoạt động kiểm toán của mình chủ yếu dựa trên phương pháp kiểm toán AS/2. AS/2 là công cụ, phương tiện kiểm toán tiên tiến nhất, VACO có được nhờ sự trợ giúp của DTT. Công ty luôn xác định cho nhân viên của mình “công cụ này chỉ thực sự hiệu quả giúp kiểm toán viên giảm nhẹ một phần lao động, tránh được rủi ro nghề nghiệp khi sử dụng thành thạo AS/2 cộng với năng lực hiểu biết và sự năng động trong mỗi nhân viên”. Hệ thống kiểm toán AS/2 bao gồm: Hệ thống phương pháp kiểm toán. Hệ thống hồ sơ kiểm toán. Phần mềm kiểm toán. Trước hết, một cách tổng quan nhất, nội dung bao trùm cuộc kiểm toán bao gồm 4 nội dung cơ bản: Quản lý cuộc kiểm toán. Đánh giá rủi ro cuộc kiểm toán. Thực hiện theo các chuẩn mực phục vụ khách hàng. Lập, soát xét và kiểm soát hồ sơ, giấy tờ làm việc. Mỗi một nội dung không phải tách biệt nhau mà gắn bó, kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên một chu trình thực hiện kiểm toán khép kín, đầy đủ và thống nhất. Mỗi một nội dung này có thể được thực hiện gắn liền với mỗi giai đoạn của cuộc kiểm toán. Ví dụ, giai đoạn đầu tiên của mỗi cuộc kiểm toán là các công việc thực hiện trước khi kiểm toán, người tham gia vào chu trình kiểm toán cũng cần thực hiện việc đánh giá, kiểm soát rủi ro cuộc kiểm toán. Việc lựa chọn nhóm kiểm toán hay thiết lập các điều khoản trong hợp đồng kiểm toán cũng cần thực hiện dựa trên các chuẩn mực phục vụ khách hàng. Hơn nữa, dù thực hiện giai đoạn nào của cuộc kiểm toán cũng cần phải quản lý, kiểm tra, soát xét nội dụng, kết quả kiểm toán và việc ghi chép lại công việc mà kiểm toán viên đã thực hiện. Có như vậy, cuộc kiểm toán mới diễn ra theo quy trình chặt chẽ mà vẫn linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tế trong mỗi cuộc kiểm toán khác nhau, phục vụ mỗi loại hình khách hàng khác nhau. Các giai đoạn và các nhóm công việc cơ bản của mỗi giai đoạn trong một cuộc kiểm toán được khái quát như (Bảng số 2.2) Công việc thực hiện trước khi kiểm toán Đánh giá, kiểm soát và xử lý rủi ro của cuộc kiểm toán Lựa chọn nhóm kiểm toán Lập và thảo luận các hợp đồng trong kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng Tìm hiểu môi trường kiểm soát Tìm hiểu các chu trình kế toán áp dụng Thực hiện các bước phân tích tổng quát Xác định mức độ trọng yếu Lập kế hoạch giao dịch và phục vụ khách hàng Tổng hợp kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán cụ thể Xác định rủi ro tài khoản và rủi ro tiềm tàng Xác định bằng chứng kiểm toán Mô hình về độ tin cậy của kiểm toán Ma trận kiểm tra Hình thức kiểm tra hệ thống kiểm soát Lập kế hoạch kiểm toán cho từng tài khoản Kế hoạch kiểm tra hệ thống Kế hoạch kiểm tra chi tiết Tổng hợp kế hoạch kiểm toán Thực hiện kế hoạch kiểm toán Kiểm tra hệ thống kiểm soát Thực hiện các bước phân tích Thực hiện kiểm tra chi tiết Tổng hợp kết quả kiểm toán và báo cáo Thực hiện việc soát xét những sự kiện sau ngày lập báo cáo Thu thập thư giải trình của Ban giám đốc Lập bản tổng hợp kết quả kiểm toán Soát xét, kiểm soát và hoàn thiện giấy tờ làm việc Lập báo cáo kiểm toán Tổng kết cuộc kiểm toán Công việc thực hiện sau kiểm toán Đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán Giữ mối quan hệ với khách hàng Bảng số 2.2: Quy trình kiểm toán theo phương pháp AS/2 Mỗi giai đoạn của cuộc kiểm toán được thực hiện bởi một nhóm kiểm toán. Trước hết, những công việc đánh giá, xử lý rủi ro cuộc kiểm toán và thiết lập các điều khoản hợp đồng kiểm toán là những công việc mà Ban Giám đốc công ty có sự tham mưu của các chuyên gia thực hiện trước khi kiểm toán. Sau khi tiến hành lựa chọn nhóm kiểm toán, trên cơ sở phân công của cấp trên, các trưởng nhóm – có thể là kiểm toán viên cao cấp hoặc kiểm toán viên sẽ tiến hành lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và chi tiết. Kế hoạch này bao gồm những nhóm công việc đã nêu trong Bảng số 2.2. Tiếp đó, các kiểm toán viên cùng trợ lý kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với việc tiến hành các bước kiểm tra chi tiết, soát xét báo cáo tài chính để có đủ cơ sở đưa ra kết luận kiểm toán. Trưởng (phó) nhóm kiểm toán thực hiện soát xét các file kiểm toán, giấy tờ làm việc của kiểm toán viên, xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo của đơn vị được kiểm toán để lập bảng tổng hợp kết quả kiểm toán và báo cáo kiểm toán chính thức. Các hoạt động sau kiểm toán cũng vô cùng quan trọng bởi đây là thời điểm cho Ban Giám đốc đánh giá kết quả, chất lượng cuộc kiểm toán. Hội đồng cố vấn và các chuyên gia DTT có thể tham gia soát xét, đánh giá chất lượng kiểm toán, nhất là đối với những cuộc kiểm toán quy mô lớn, loại hình dịch vụ phức tạp. Đây là một quy trình hoạt động kiểm toán cơ bản mà công ty đang áp dụng nhưng VACO vẫn có sự vận dụng linh hoạt có chọn lọc cho phù hợp với chế độ kế toán hiện hành ở Việt Nam. Với quy trình thực hiện như trên, hệ thống hồ sơ kiểm toán cũng cần được áp dụng có chọn lọc. Trong hồ sơ kiểm toán thông thường, công ty lập nên hệ thống chỉ mục cho các giấy tờ làm việc và cấu trúc file kiểm toán theo quy định chung và phù hợp với từng cuộc kiểm toán. Ví dụ: chỉ mục 1000 cho biết giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm tra chi tiết tài sản được trình bày ở chỉ mục 5000. Hồ sơ còn lập nên mẫu giấy tờ làm việc chuẩn để thực hiện có hiệu quả và thống nhất với phương pháp kiểm toán. Với AS/2, công ty đã tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng phương pháp và hồ sơ kiểm toán đối với các hãng thành viên, đồng thời vi tính hoá hệ thống hồ sơ kiểm toán. Do vậy, hệ thống hồ sơ kiểm toán thông minh xuất hiện có tác dụng rút ngắn quá trình lập kế hoạch kiểm toán, có thể đưa ra các khả năng rủi ro ở các phần hành khi lập kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, thiết lập được giấy tờ làm việc cho phần kiểm tra chi tiết. Như vậy, với quy trình kiểm toán mang tính quốc tế áp dụng trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam đòi hỏi VACO luôn có sự quản lý chặt chẽ đối với tổ chức hoạt động kinh doanh, hoạt động cung cấp dịch vụ của công ty. 2.2. Thực tế vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam Nhìn chung việc sử dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Việt Nam được thực hiện một cách thống nhất trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. Việc sử dụng thủ tục phân tích về cơ bản là giống nhau đối với các loại khách hàng khác nhau từ việc xác định mục tiêu đến trình tự thực hiện. Sau đây em sẽ trình bày cụ thể việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính vào hai khách hàng đại diện cho hai loại hình doanh nghiệp tiêu biểu cho các khách hàng của VACO, một là công ty trách nhiệm hữu hạn và một là công ty cổ phần. 2.2.1. Thực hiện thủ tục phân tích trong Kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT do VACO thực hiện 2.2.1.1. Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ trong Kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty TNHH TTT Công việc đầu tiên trong giai đoạn lập kế hoạch cũng như thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ đó là thu thập các thông tin có liên quan đến khách hàng. Kiểm toán viên sẽ tiến hành thu thập và lưu trong phần 1410 của kế hoạch kiểm toán. Bảng số 2.3: Thu thập thông tin KH VACO công ty kiểm toán việt nam Tham chiếu: 1410 Vietnam auditing company Khách hàng: Công ty TNHH TTT Người lập: TNA Ngày: 2/2/2005 Kỳ kế toán: 31/12/2004 Người soát xét: PKA Ngày: 21/2/2005 Nội dung: Thu thập các thông tin KH Các nhân tố nội bộ ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh: Công ty TNHH TTT là công ty liên doanh giữa bên Việt Nam là công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội và Bên Hàn Quốc là công ty MSA Co.Ltd. được thành lập theo quyết định số 18/GP-KCN-HN ngày 14/9/2000 của Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất Hà Nội. Tên giao dịch tiếng anh là: Hanoi Joint Venture MSA-HP Co.Ltd. (TTT). Vốn đầu tư của công ty liên doanh là 1.500.000 USD, vốn pháp định là 1.000.000 USD. Trong đó: Bên nước ngoài góp 600.000 USD chiếm 60% vốn pháp định bằng tiền. Bên Việt Nam góp 400 USD chiếm 40% vốn pháp định bằng tiền. Vốn vay của công ty là 500.000 USD. Thời hạn hoạt động của liên doanh là 45 năm kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư. Phòng tổ chức LĐ-TL Phòng hành chính Phòng TC-KT Phòng cơ điện Phòng kỹ thuật Phòng KD Xưởng SX Phó giám đốc TC-KT Phó giám đốc KD Ban giám đốc Cty Hội đồng quản trị Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty: Ngành nghề kinh doanh: Công ty được thành lập để sản xuất, gia công các sản phẩm may mặc sau đó xuất khẩu ít nhất 80% số sản phẩm sản xuất ra, số còn lại được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Quy trình sản xuất: Đơn đặt hàng => Khách hàng chuyển định mức tiêu hao về công ty (Phòng kỹ thuật) kiểm tra định mức => Nếu đảm bảo về mức tiêu hao –> Không khiếu nại, nếu không đảm bảo -> khiếu nại => Thông báo cho khách hàng để chuyển NVL về công ty => Phòng kinh doanh làm thủ tục nhập nguyên phụ liệu => Nhập kho => Xuất cho bộ phận SX trên cơ sở lệnh sản xuất từ phòng kỹ thuật (Phòng kế toán lập phiếu nhập và xuất kho) – Xưởng cắt => May => giặt là (thêu ngoài) =>nhập lại bộ phận hoàn thiện => hoàn thiện xong => nhập kho thành phẩm => xuất kho trả khách hàng. Hoạt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docK0009.doc
Tài liệu liên quan