Tiểu luận Gia công phần mềm ở Việt Nam, tại sao chỉ dừng lại ở tiềm năng

Chiếm 10% trong tổng giá trịngành gia công phần mềm trong toàn thế

giới tạo ra, Việt Nam được đánh giá là một thịtrường đầy tiềm năng không chỉvề

nguồn nhân lực mà còn vềthịtrường với mức độ ổn định cao (ít bịbiến động của

cuộc khủng hoảng kinh tếvừa qua). Đất lành chim đậu, trong thời gian gần đây,

quy mô đầu tưvào thịtrường gia công phần mềm của cảtrong và ngoài nước

càng ngày càng phát triển và gia tăng không ngừng tạo một tiền đềvô cùng

thuận lợi cho thời gian tới

pdf14 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 11/09/2013 | Lượt xem: 1772 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Gia công phần mềm ở Việt Nam, tại sao chỉ dừng lại ở tiềm năng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ạm bản quyền hay sự đầu tư ồ ạt của nước ngoài...Nhưng “tiềm năng” vẫn chỉ là tiềm năng nếu nó không có những yếu tố thúc đẩy mang tính đột phá, không quá khi nhận định những tiềm năng lớn này vẫn chỉ nằm trong vỏ bọc mà chưa thể khai thông được.Sẽ có rất nhiều điều phải làm cho tương lai... 2. Hiện trạng thực tế: a.Nhập cuộc không dễ dàng: Nhìn lại những năm 2004-2007,có thể nói đây là những năm tạo y tín,và thương hiệu về gia công phần mềm ở Việt Nam trên thị trường quốc tế.Bế tắc với thị trường trong nước,rất nhiều doanh nghiệp đi theo phong trào outsourcing. Các công ty đều rục rịch tuyển quân,xây dựng các nhóm làm gia công, nhỏ có lớn có, hang trăm mối bắt tay , hàng trăm mối quan hệ được căng ra để tìm kiếm hợp đồng dự án outsourcing ra nước ngoài. Nhưng điều không mấy khả quan, với 2 thị trường gia công lớn Trung Quốc và Ấn Độ, hợp đồng gia công VN ít và độ phức tạp chưa cao.Thậm chí có nơi còn chưa biết gì về thị trường outsourcing ở VN, cho đến mãi sau này. 4 Với vai trò đầu mối, hiệp hội danh nghiệp phần mềm Việt Nam(VINASA) cũng tổ chức lien tiếp các chuyến thăm,giao lưu, tìm kiếm hợp tác giữa VN với thị trường như Mỹ,Nhật Bản,Hàn Quốc…Tuy nhiên,không máy khả quan. Kết thúc đều là thất vọng và mệt mỏi…và những tấm danh thiếp. Những năm khó khăn hơn,các công ty đành phải chấp nhận rủi ro khi gia công cho đối tác trong tình trạng khách hang có thể “đứt gánh” toàn bộ hoạt động…Các công ty trong khi nằm dài chờ hợp đồng thì phải nuôi quân dự trữ với trung bình 300USD/người/tháng, do thế không ít công ty đã sớm “bỏ cuộc vui”,phí lại những hoài công gầy dựng…Vì thế đòi hỏi sự đầu tư kiên trì từ phí doanh nghiệp,nếu không chị đầu tư, theo ông Lê Xuân Hải, CEO Vietsoftware Internâtionl thì “Sẽ không bao giờ có cơ hội hoặc cơ hội đến mà không đủ sức làm”. Bênh cạnh đó, mặc dù bài toán hợp tác chưa được giải quyết xong, các doanh nghiệp đối đầu mới với bài toán đội ngũ kỹ thuật có chất lượng, việc giữ họ ở lại công ty thực sự trở thành vấn đề đau đầu. Giá nhân lực VN trong thời gian này tăng cao 200% so với trước, việc nhảy “hãng” như đi chợ của nhân lực có kinh nghiệm là điều khó tránh khỏi. Đây cũng chính là nguyên nhân kiến khách hang Nhật Bản và Âu Mỹ rút khỏi thị trường Ấn Độ.Các doanh nghiệp tranh nguồn nhân lực này làm cho bức tranh outsourcing của VN mang nhiều mảng tối. Doanh thu của ngành không đều, chủ yếu từ phía các doanh nghiệp Việt Kiều (Mỹ) tranh thủ sự đầu tư,và hợp đồng từ Mỹ như TMA,PSV, GlobalCyberSoft, SilkRoad, GlassEgg, PSD, GHP… nhóm doanh nghiệp trong nước là FPT,nhóm doanh nghiệp phát triển thị phần trong nước Lạc Việt, HPT, VietSoftware, AZ solutions, CMS…yếu tố trên tạo sự phân cấp cho bức tranh outsourcing ở nước ta. b.những mặt hạn chế trong thị trường Việt Nam. Có thể nói hạn chế lớn nhất ở Việt Nam là vấn đề nhân lực có chất lượng kỹ thuật. Bức cảnh outsourcing ở Việt Nam chứng kiến cảnh ra đi của nhiều nhân lực có kỹ thuật cao làm việc cho các công ty nước ngoài , các nhân lực có trình độ tay nghề trong nước thì lại nhảy như đi chợ ở các doanh nghiệp. Việt Nam chưa thu hút được các tập đoàn lớn và cũng chưa có công ty đạt 1.000 kỹ sư Do đó bài toán nhân lực luôn đâu đầu cho các chuyên gia,Nhà Nước.Hơn nữa các công ty doanh nghiệp ở nước ta không những nhỏ,và rời rạc,tập trung được vài thương hiệu quốc tế,Trong khi đó Việt Nam sẵng sang đẩy mạnh nhân công, tài lực,kinh phí, để xây dựng thương hiệu quốc gia. Ông Phí Anh Tuấn nhận định (AZ solutions): “Việt Nam, vì thế đang cần những doanh nghiệp mạnh làm đầu tầu thúc đẩy nghành công nghiệp phần mềm tăng tốc”. Mặc định hướng của nhà nước trong vai trò phát triển gia công phần mềm chỉ rõ nét trong những năm gần đây,thực chất chưa làm được nhiều. Nói chung, đang đẩy mạnh công nghiệp đầy tiềm lực này. Do đó việc chậm trễ hơn so với một số quốc gia như Ấn Độ,Trung Quốc, Israel…sở dĩ phát triển mạnh lĩnh vực này cũng nhờ có các chính sách hỗ trợ kịp thời của nhà nước. Khi đó ở Việt Nam, chưa có việc sát hạt cụ thể,quy mô, đầu tư vào nghành công nghiệp phần mềm.Những năm qua đó là nguồn trợ cấp từ phía nhà nước…Và đây là thiệt thòi lớn trong cạnh tranh quốc tế. Một nét làm xấu đi bức tranh outsourcing ở nước ta là vấn đề bản quyền.Thời điểm hiện tại,dù tỷ lệ cao nhưng lần đầu tiên Việt nam đã thoát khỏi top 10 thế giới về vi phạm bản quyền(đứng thứ 12)...Việc qui phạm bản quyền ở nước ta xem ra sắc thái rất nhẹ,nhưng đến các nước phát triển đó là vấn đề không thể chấp nhận được, điều đó làm họ kỳ thị,khinh mệt và chần chừ khi đối tác với Việt Nam.Thấy vậy nhưng không phải đơn giản, bằng chứng của sự không them quan tâm là một số công ty nước ngoài thực sự chưa biết gì đến thị trường outsourcing ở nước ta. Biết là như vậy, nhưng vấn đề qui phạm bản quyền phần mềm ,là vấn đề bức xúc , nan giải, khó triển khai triệt để…đứng thứ 12 cũng đã là cố gắng khi su hướng open source phát triển. Gia nhập WTO, chính sách pháp luật về vấn đề luật thương mại được bổ sung,nhân đó cần có sự định hướng rõ rang từ từ, dần dần , chế tài để đưa Việt Nam rời xa top qui phạm bản quyền,nâng cao uy tín trên thương trường quốc tế. 5 c. Đề xuất phương hướng cho nghành gia công phần mềm Việt Nam. Để mở ra một sự sáng lạn hơn cho tương lai của nghành gia công phần mềm ở Việt Nam,cần có sự đầu tư một cách toàn diện trên mọi mặt về Giáo Dục, Pháp Luật,Chính sách nhà nước , và cả ý thức của mọi người về nghành công nhiệp đầy tiềm năng này. Tuy rất đơn giản khi đề cập nhưng thực hiện thì lại rất khó, chẳng hạn: +Về Giáo Dục: Nâng cao chất lượng giảng dạy, cải cách phương thức làm việc,học tập , giảng dạy trong trường , làm sinh viên có nhiều điều kiện cọ xát thực tế hơn,..nâng cao chất lượng đầu ra cho nghành gia công.Bênh cạnh đó,thúc đẩy số lượng trường đào tạo,không những nhiều mà còn phải chất lượng. ÎCần có chính sách ưu đãi , học bổng khuyến khích học hỏi,nâng cao tay nghề +Về Nhà Nước: mang tính chủ lực cao, tính định hướng, sự đầu tư thiết thực xây dựng thương hiệu quốc gia.Mở rộng đối ngoại hợp tác lâu dài với thị trường tiềm năng , (Mỹ,Nhật….), khuyến khích phát triển doanh nghiệp cho thị phần trong nước để phần nào khắc phục vấn đề bản quyền ,nâng cao uy tín trên bản đồ gia công trên thế giới +Về Pháp Luật : cũng cần có chế tài xác định , những bộ luật cụ thể về vấn đề phần mềm,và bản quyền…cũng như là bằng chứng cho sự tiến lên của quốc gia sạch về phần mềm, xu hướng phát triển trong tương lai. II.Ảnh hưởng của văn hóa đến GCPM: 1. Thực trạng: Đại đa số người dung phần mềm ở Việt Nam đều có “chủ trương” chung: 1.Miễn phí hoặc bản crack không bản quyền . 2.Tính chuyên môn cao( các phần mềm có tính chuyên môn cao)…việc vi phạm bản quyền ở Việt Nam diễn ra 1 cách tràn lan khó kiểm soát…đến nỗi một số người xem việc đó là hiển nhiên!...Tuy nhiên, đã ảnh hưởng ít nhiều về vị trí của VN về gia công phần mềm trên thế giới..Doanh nghiệp cũng rất ý tứ trong khâu đặt hàng,và sử dụng phần mềm.Các công ty lớn cũng đang dần dần hợp phí hóa mô hình CNTT trong sản xuất. Nhà nước chủ trương khuyến khích dung phần mềm bản quyền, cho tới nay VN thoát khoải top 10 nước qui phạm bản quyền…Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề khó thực hiện. Thực ra xem xét vấn đề về văn hóa sử dụng máy tính cũng như các phần mềm máy tính là điều không dư thừa. Việc sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền quá nhiều đã tạo ra tiền lệ xấu cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân người sử dụng sau này. Khi đó các công ty hoạt động trong lĩnh vực GCPM trong nước sẽ cảm thấy hụt hẫng vì mất đi một nguồn thu lớn từ nội địa khi các phần mềm trong nước chưa đủ khả năng cạnh tranh với các phần mềm lớn ở nước ngoài. Hơn nữa, thiện cảm của các công ty nước ngoài đối với thị trường Việt nam cũng sẽ mất đi. 2. Hướng khắc phục: Ở đây chúng tôi không xét đến khía cạnh tài chính của các cá nhân cũng như doanh nghiệp sử dụng phần mềm máy tính. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một chút về vấn đề ý thức người sử dụng. Dường như việc dùng phần mềm lậu đã ăn sâu vào tiềm thức của họ, đây là điều gây bức xúc đối với ngành GCPM nói riêng và ngành công nghệ thông tin nói chung. Khắc phục vấn đề này sẽ thực sự khó khăn nhưng đi đầu và chủ chốt nhất vẫn là nhận thức của người sử dụng. Bên cạnh đó, cần gia tăng việc tuyên truyền, tổ chức các buổi nói chuyện để cho người dân hiểu được lợi ích của việc dùng phần mềm bản quyền cũng như tác hại của việc dùng phầm mềm crack. Sự góp mặt của Nhà nước là rất quan trọng. Chúng ta cần có những chế tài quy định rõ ràng, minh bạch trong việc sử lý các trường hợp dùng phần mềm crack. 6 Phần II: Vấn đề pháp luật Được sự ưu đãi lớn từ phía Nhà nước không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn về pháp luật. Mặc dù chỉ là một ngành công nghiệp mới mẻ nhưng ngành gia công phần mềm ở Việt Nam đang được Nhà nước ta đặc biệt chú trọng thúc đẩy phát triền với những chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực nay. Bên cạnh sự thuận lợi đó còn có nhiều bất cập vẫn còn tồn đọng. 1. Tiềm năng - chính sách ưu đãi của nhà nước + Về thuế đối với doanh nghiệp.Theo thông tư số 123/2004/TT-BTC, DNPM mới thành lập được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 10% trong 15 năm; được miễn thuế TNDN 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo + Về thuế giá trị gia tăng. Sản phẩm và dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế giá trị gia tăng. +Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu phục vụ trực tiếp cho họat động sản xuất sản phẩm phần mềm mà trong nước chưa sản xuất được. Theo danh mục do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) ban hành, miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm phần mềm. +Ưu đãi về tín dụng.Những đơn vị hợp tác tại Khu CNPM có các họat động sản xuất và dịch vụ phần mềm được áp dụng các hình thức hỗ trợ đầu tư Quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 43/1999/NĐ – CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. +Về đào tạo phát triển nguồn nhân lực.Những đơn vị hợp tác tại Khu CNPM được thành lập các cơ sở đào tạo về công nghiệp thông tin. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các họat động đào tạo về công nghệ thông tin như đối với doanh nghiệp phần mềm Ngoài ra nghành gia công phần mềm ở nứơc ta được hưởng một số thuận lợi khác từ pháp luật như việc quản lý lỏng lẻo của pháp luật nên một số lập trình viên có thể dùng các phần mềm lậu, vi phạm bản quyền để phục vụ tốt hơn cho công việc của mình. Việc rút ngắn các công đoạn trong thành lập công ty cũng giúp ngành gia công phần mềm ở Việt Nam phát triển mạnh… 2.Những hạn chế mà pháp luật mang lại: Tuy nhiên pháp luật ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế khiến nghành gia công phần mềm ở Việt Nam chỉ ở mức tiềm năng. Những hạn chế mà pháp luật mang lại là: + Thủ tục hành chính quá rườm rà.Dù có cải cách nhưng so với nỗ lực cải thiện môi trường của nhiều nước Việt Nam vẫn chưa theo kịp. Ví dụ như doanh nghiệp phải tốn không ít khoản chi phí không thể ghi lại bằng hoá đơn chứng từ để chứng minh là chi phí hợp lí, hợp lệ. Trong khi đó cơ quan thuế lúc nào cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có đầy đủ hồ sơ giấy tờ chứng minh các khoản chi tiêu đó là hợp lệ. Trong nghành gia công phần mềm các doanh nghiệp muốn xuất khẩu phần mềm thì phải đăng kí và chờ kiểm duyệt, nhưng do chờ quá lâu nên bạn hàng có thể tìm đến nơi khác… + Luật quá sơ sài.Luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam quy định, tác giả của chương trình máy tính (phần mềm) là các cá nhân trực tiếp tham gia xây dựng chương trình. Các tác giả có tất cả các quyền nhân thân như tác giả các tác phẩm văn học nghệ thuật khác - ví dụ như quyền đặt tên, quyền đứng tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác 7 phẩm. Luật Sở hữu trí tuệ không cho phép đăng ký tác giả là một pháp nhân – đây chính là mấu chốt của mọi rắc rối trong thực tế ngành phần mềm hiện nay. Theo như luật thì các lập trình viên đuợc thuê gia công phần mềm sẽ có quyền đứng tên sở hữu phần mềm đó. Cũng chính vì những bất hợp lý của việc coi lập trình viên là tác giả phần mềm, nên ngay sau khi Luật SHTT có hiệu lực, đã có một số tranh chấp liên quan đến bản quyền phần mềm. Đầu tiên là vụ kiện tụng giữa Công ty Định Gia (DigiNet) và Công ty P.C.I ở TP.HCM, tiếp đến là vụ kiện giữa Công ty Hà Nội Software và Công ty Thương mại Số ở Hà Nội. Hai vụ kiện này đều liên quan đến việc nhân viên phát triển phần mềm chuyển sang làm việc công ty khác, sử dụng phần mềm của công ty cũ để kinh doanh. Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay bảo hộ bản quyền phần mềm như tác phẩm viết theo công ước Berne tương tự như Việt Nam. Nhưng các nước có quy định riêng rõ ràng với việc bảo hộ bản quyền phần mềm, đặc biệt là với vấn đề tác giả phần mềm, còn luật Việt Nam rất sơ sài và thiếu các quy định chi tiết. Ví dụ như Trung Quốc, luật bản quyền cho phép định nghĩa tác giả có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nên hoàn toàn tránh được các bất cập nói trên mà vẫn tuân thủ công ước Berne. Luật Mỹ cũng quy định rõ tác phẩm làm thuê hoặc làm theo nhiệm vụ được giao thuộc sở hữu công ty, không phải bản thân cá nhân tham gia phát triển như Việt Nam. Còn các nước châu Âu (EU) không cho phép tác giả là một pháp nhân như Việt Nam nhưng họ có quy định rõ về quyền của pháp nhân sở hữu phần mềm không phải là tác giả. Tuy nhiên để bảo đảm quyền lợi, doanh nghiệp vẫn phải có thỏa thuận riêng với các lập trình viên và nhân viên liên quan. Luật pháp quá sơ sài làm mức độ vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam luôn ở mức cao thế nhưng quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm bản quyền lại chưa đủ sức để răn đe. Theo pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi bổ sung năm 2008 trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: “Lĩnh vực: sở hữu trí tuệ Pháp lệnh năm 2002 quy định mức phạt tiền tối đa là 100.000.000 đồng nay đã nâng lên là 500.000.000 đồng”. Ở nước ta hiện nay việc xử phạt chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính, chưa xử lý hình sự hoặc chuyển qua tòa dân sự yêu cầu người xâm phạm sở hữu trí tuệ bồi thường như các nước trên thế giới. Tuy đã có luật rồi nhưng việc áp dụng các luật đó vẫn chưa đựoc áp dụng rộng rãi, nếu vi phạm thì cũng chỉ là giơ cao đánh khẽ. Nhà nước vẫn lơi lỏng việc quản lý các luật đó, hàng ngày hàng giờ vẫn có hàng triệu ngưòi, hàng trăm công ty vẫn đang dùng các phần mềm vi phạm bản quyền. Bên cạnh đó nhiều ý kiến cũng cho rằng môi trường chính sách phát triển CNPM trong 5 năm qua còn hạn chế do hầu như chưa có một chương trình, kế hoạch tổng thể, hay bản quy hoạch phát triển CNPM nào được phê duyệt. Điều này có thể do trong thời gian qua bộ máy chuyên trách quản lý nhà nước về CNTT từ trung ương đến các địa phương mới được thành lập, đang trong quá trình kiện toàn tổ chức. Việc thiếu các chương trình, kế hoạch cụ thể đã hạn chế phần nào sự tăng trưởng của các DNPM. Mặt khác, các cơ chế chính sách cụ thể chậm được ban hành cũng khiến cho việc mở rộng thị trường ở khu vực nhà nước gặp trở ngại. Sự thiếu nhất quán trong việc thực thi các chủ trương chính sách ưu đãi cho phát triển CNPM cũng đem lại những quan ngại cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. 3.Kết luận: Với sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Chính phủ, sự nỗ lực của các DN, ngành gia công phần mềm ở Việt Nam mấy năm qua đã có nhiều khởi sắc. Điển hình thành công của các DNPM lớn đã khẳng định khả năng gia công phần mềm của Việt Nam là hoàn toàn có thể thành một thị trường lớn hấp dẫn. Tuy nhiên sự phát triển của ngành này vẫn chưa đạt được như mong muốn . 8 Phần III: Qui mô đầu tư và vấn đề chảy máu chất xám Chiếm 10% trong tổng giá trị ngành gia công phần mềm trong toàn thế giới tạo ra, Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng không chỉ về nguồn nhân lực mà còn về thị trường với mức độ ổn định cao (ít bị biến động của cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua). Đất lành chim đậu, trong thời gian gần đây, quy mô đầu tư vào thị trường gia công phần mềm của cả trong và ngoài nước càng ngày càng phát triển và gia tăng không ngừng tạo một tiền đề vô cùng thuận lợi cho thời gian tới. 1. Quy mô đầu tư a. Nước ngoài + Thực trạng: - Là một thị trường thu hút đầu tư lớn của các nước phát triển như: Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ … Hàng năm các công ty Âu Mỹ, Nhật Bản phải chi tới 27 tỷ USD để outsourcing trên khắp thế giới, riêng về Nhật Bản doanh số thị trường này 140 tỷ USD/năm, chiếm 20% thị phần giá trị nhập khẩu khoảng 3 tỷ USD. Và tổng doanh thu của Việt Nam trong thị phần đó là 10% tức là 300 triệu USD/ năm. - Vào năm 2004,tập đoàn tư vấn quốc tế Kearrney đã xếp nước ta vào thứ hạng 20/25 quốc gia có khả năng thu hút gia công dịch vụ tốt nhất. - Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR(*) 2009, năm 2008, doanh thu ngành CNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD. + Nguyên nhân: - Sở dĩ có được những có số lạc quan và đáng khích lệ đó là nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công rẻ hơn so với các nước phát triển như Ấn Độ, Mỹ. Ở Ấn Độ, lương bình quân của một người Coder là 5 USD/ giờ, trong khi đó ở Việt Nam thì trung bình chỉ là 2 USD/ giờ. - Hơn nữa, do quan hệ ngoại giao hợp tác tốt đẹp của Nhà nước ta với các nước phát triển. Từ khi mở cửa đến nay, Chính phủ đã rất coi trọng việc ngoại giao, kí kết các hiệp định song phương, giúp đỡ, hợp tác trên diện rộng với các nước đã và đang phát triển. b. Trong nước: + Thực trạng: - Quy mô đầu tư manh mún,nhỏ lẻ: - 90% doanh nghiệp GCPM thuộc cỡ nhỏ(1-25 nv). - Chỉ có 3-4 Cty cótrên 1000 nhân sự. 650 doanh nghiệp GCPM, ~20.000 nhân sự - Năng suất 10.000$/người/năm. - Trong số 1000 DN GCPM của VN thì có 2 DN đạt tiêu chuẩn CMMI mức 5. Vậy là chúng ta còn rất"non"trong việc tham gia vào thị trường GCPM thế giới. => Với quy mô trong nước hiện tại thì gần như chúng ta chưa có đủ khả năng đề gia công các phần công việc lớn đòi hỏi cần có một quy trình làm việc chuyên nghiệp và nhân công chất lượng cao. 9 + Nguyên nhân: - Chúng ta học rất nhanh, làm rất nhanh, nhưng khi biết làm rồi thì lại làm ẩu, làm không có kế hoạch hoặc cắt xén công đoạn. Trong gia công thì không thể như vậy vì chúng ta đang làm một phần trong cả sản phẩm của họ. Chỉ cần sáng tạo một chút, tưởng là đẹp hơn, nhưng lại không khớp được vào sản phẩm của họ. - Thiếu nguồn nhân công chất lượng cao. Chúng ta học trong môi trường đại học chỉ là những kiến thức nền tảng, chưa có thể áp dụng cụ thể vào thực tế. Và khi ra đi làm, các kiến thức dường như quá mới lạ với chúng ta. Không chỉ dừng ở đó, chất lượng đào tạo ở các bật dưới còn quá thấp, tỉ lệ đậu vào các trường thuộc đại học còn rất ít. - Định hướng gia công phần mềm thực sự chỉ mới được biết đến và quan tâm trong thời gian gần đây. Với chúng ta, nó còn thực sự mới trong khi các nước khác đã phát triển đến một mức độ nhất định. - Thiếu tính chuyên nghiệp và kỉ luật. Không chỉ vậy chúng ta cần hoàn thiện quy trình làm việc theo một chuẩn quốc tế trong giai đoạn hội nhập hiện nay. - Sự quan tâm của Nhà Nước còn hạn hẹp. Nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước vào ngành công nghiệp còn mới mẻ và đầy tiềm năng này thực sự còn quá ít ỏi so với khả năng của nó. 2. Vấn đề chảy máu chất sám: + Thực trạng: - Đây thực sự là một vấn đề đầy nan giải và là vấn đề bức bối của Nhà nước ta hiện nay. Hằng năm, có hàng ngàn lượng nhân công chất lượng cao đi làm việc ở nước ngoài và định cư ở đó. - Nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước còn quá ít ỏi, chưa đáp ứng được nhu cầu cao của ngành gia công phần mềm ở Việt Nam. + Nguyên nhân: - Còn quá nhiều những bất cập, hủ tục trong các cơ quan nhà nước hiện nay. Hiện nay, trên các bài báo đang lên án việc trong các cơ quan nhà nước xảy ra các tệ nạn như ô dù, đút lót … nhưng động thái của Nhà nước thực sự chưa mạnh mẽ và thỏa đáng. - Chính sách đãi ngộ của nhà nước còn chưa cao. Với mức lương hiện nay của các cơ quan nhà nước thì còn quá thấp so với các công ty ở nước ngoài. + Đề xuất: - Nhà nước cần xem xét các vấn đề đãi ngộ nhân tài sau khi theo học ở các trường đại học trong và ngoài nước với các hoạt động thực tiễn như: chính sách ưu đãi về lương, về thuế, về cuộc sống, nhà cửa … - Dần xóa đi những hủ tục trong các cơ quan hành chính. - Có những chế tài rõ ràng và minh bạch trong việc thưởng và phạt ở các cơ quan Nhà nước hiện nay. 10 Phần IV: Ảnh hưởng của giáo dục tới chất lượng nguồn nhân lực Trong ngành công nghiệp gia công phần mềm, bên cạnh yếu tố về xã hội thì yếu tố về con người là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vai trò của nhân công trong ngành công nghiệp công nghệ nói chung và gia công phần mềm nói riêng là yếu tố xuyên suốt và không thể thay thế được. Hiểu được vai trò quan trọng đó, nhóm chúng tôi đi sâu phân tích những nhân tố của giáo dục ảnh hưởng tới nguồn nhân công hiện nay. Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích những mặt hạn chế để rồi đưa ra những ý kiến góp phần cải thiện nguồn nhân lực hiện nay. 1.Nhân lực có chất lượng là gì? Thật sự mà nói khó có thể định nghĩa rõ ràng về khái niệm “chất lượng” của nguồn nhân lực, bởi sẽ có rất nhiều mặt phải bàn tới như năng lực vốn có, môi trường đào tạo, làm việc...Và điều này còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận của từng cá nhân, tập thể hay các nơi tiếp nhận nguồn lao động.Vì vậy ở đây nhóm nghiên cứu đề tài chỉ xin đưa ra cho người đọc ý kiến tổng quan nhất về tiêu chí để đánh giá chất lượng của nguồn lao động : 1.Vận dụng tốt kiến thức nền tảng để tạo đà cho công việc thực tế. Đây là điều hoàn toàn đúng bởi bất cứ ngành nghề hay công việc gì cũng cần người lao động phải có hiểu biết ban đầu, nó giúp họ không cảm thấy quá bỡ ngỡ với công việc thực tế. Chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc hòa nhập với công việc khi có một lượng kiến thức nhất định. 2.Biết cách tiếp cận công nghệ mới.Khi xã hội hiện đại hóa, đa phần công việc đều có máy móc hỗ trợ, những kỹ thuật, công nghệ mới có lợi đều được áp dụng, điều này đòi hỏi người làm phải cập nhật cho mình những thông tin đầy đủ nhất và có thể vận hành tốt các thiết bị, hệ thống...Điều này càng đúng với những người làm việc trong ngành CNTT 3.Sáng tạo là không thể thiếu.Trong môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt, bạn sẽ bị đào thải nếu thiếu đi tính sáng tạo. Công việc không bao giờ cũng thuân lợi như ý bạn, nó luôn đi kèm với rất nhiều khó khăn mà đôi khi có thể giết chết tương lai của bạn, và lúc này cái cần nhất chính là những ý tưởng sáng tạo từ bản thân của bạn, nó sẽ giúp bạn giải quyết công việc dễ dàng và có hiệu quả hơn. 4.Mạnh dạn áp dụng cái mới vào quá trình làm việc. Thực tế thì có rất nhiều người khi làm việc nảy sinh rất nhiều ý tưởng táo bạo, rất khả thi nhưng họ lại thiếu một chút quyết tâm để đưa ra đề xuất của mình, họ vô tình đánh mất cơ hội thăng tiến của bản thân, cũng như mang lại lợi ích chung cho tập thể. 5.Có trách nhiệm,sự kỷ luật trong công việc,đặc biệt là khi ở trong một tập thể. Nhắc đến yếu tố trách nhiệm, sự kỷ luật phải thú nhận rằng điều này còn thiếu rất nhiều trong đội ngũ lao động Việt Nam. Môi trường làm việc của nước ngoài thật sự đáng để chúng ta học hỏi, bởi ở đó mỗi cá nhân luôn tôn trọng ý kiến của các cá nhân khác, họ cũng sẵn sang nhận trách nhiệm khi mắc lỗi cũng như hoàn thành rất tốt công việc được giao. 6.Rất cần tới những cá nhân có khả năng xây dựng và hình thành những ý tưởng lớn,nói đúng hơn là những “kiến trúc sư” trong ngành phần mềm nước ta. Yếu tố này xin được nói riêng với ngành GCPM. Việt Nam có thể được biết đến là thị trường tiềm năng trong lĩnh vực CNTT nói chung và ngành GCPM nói riêng nhưng lại chưa thể đột phá và giới thiệu với khách hàng những dự án có qui mô lớn, mang tính khẳng định thương hiệu. Cho nên chúng ta cần phải đào tạo và thu hút những nhân tài có khả năng “vẽ đường” cho ngành GCPM. 11 2.Góc nhìn thực tế-Các số liệu khảo sát: Trước tiên chúng tôi xin đưa ra cho người đọc những số liệu trong một cuộc khảo sát của Tiến sĩ Trương Mỹ Dung (Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên) với các doanh nghiệp CNTT trong cả nước. +80 doanh nghiệp(DN) :62,25% DN vốn trong nước,33,75% DN vốn nước ngoài,5% DN vốn liên doanh.Số DN phần mềm chiếm 66,25% +Tiêu chí công nghệ & kỹ năng chuyên môn đánh giá : rất tốt 5%,tốt 23%, đạt 56%, chưa đạt 16%. +Tiêu chí ngoại ngữ : rất tốt 0%, đạt 62%, chưa đạt 38%. Có thể nêu khái quát về tiêu chí để đánh giá như sau : +Rất tốt : hiểu vấn đề nhanh, tiếp cận tốt với những cái mới, thực hiện công việc đúng theo qui trình được giao, biết cách xử lý vướng mắc khi gặp phải. Về ngoại ngữ thì có thể hiểu mọi thuật ngữ chuyên ngành cũng như giao tiếp, không mắc sai sót khi tham khả

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfGIA CÔNG PHẦN MỀM Ở VIỆT NAM, TẠI SAO CHỈ DỪNG LẠI Ở TIỀM NĂNG.pdf
Tài liệu liên quan