Tiểu luận Học thuyết Mac về hình thái kinh tế – xã hội và sự vận dụng của đảng ta trong thời kì đổi mới gắn với hoạt động ngân hàng

Đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1999 kết luận của hội nghị Trung ương 8 ghi rõ:

- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1999 theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 (lần 1) và nghị quyết 06 của Bộ chính trị, mặc dù gặp phải khó khăn và thách thức to lớn do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới chúng ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 5%.

Theo số liệu thống kê của bá Nguyễn Thị Hằng - Đăng trên tạp chí Cộng sản 2/2000.

Hàng năm chúng ta giải quyết việc làm mới cho 1,2 -1,3 triệu người lao động có trình độ nghề.

Đời sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ đói nghèo cả nước đã giảm từ 20,3%(năm 1995)- xuống 14% (1999).

Bình quân mỗi năm giảm 300 ngàn hộ (2% tổng số hộ đói nghèo) 805 người có công đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư cùng xã, phường nơi cư trú.

 

 

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 08/09/2013 | Lượt xem: 2806 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Học thuyết Mac về hình thái kinh tế – xã hội và sự vận dụng của đảng ta trong thời kì đổi mới gắn với hoạt động ngân hàng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mười "Đẻ non"...do chỗ dựa chưa có ''tất yếu kinh tế" cứ để qua chế độ tư bản chủ nghĩa rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội rồi chủ nghĩa cộng sản theo đúng quy luật". Lúc còn sống Lênin đã bác bỏ quan điểm này, song đến nay vẫn tồn tại, kể cả biến thể của nó là loại quan điểm cho rằng chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do hệ tư tưởng Mác-Lênin sai trong đó có"lý luận hình thái kinh tế-xã hội". Đối với nước ta những năm gần đây cũng có một số ý kiến tương tự, cho rằng ta chưa có"tất yếu kinh tế" để lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa và để bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Bác bỏ gián tiếp: Loại quan điểm này thể hiện dưới dạng: Chứng minh chủ nghĩa xã hội không có tương lai, tất yếu bị diệt vong. Chủ nghĩa tư bản là nấc thang cao nhất của lịch sử xã hội, nó tồn tại vĩnh viễn. Muốn thay thế học thuyết hình thái kinh tế xã hội bằng học thuyết khác. Điển hình cho loại quan điểm này là tiếp cận theo nền văn minh. Xã hội phát triển từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Sai lầm căn bản của cách tiếp cận này là "coi trình độ phát triển khoa học, công nghệ, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định duy nhất bỏ qua vai trò của quan hệ kinh tế, giai cấp, chế độ chính trị". Qua đó chúng ta rút ra: ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế- xã hội và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Học thuyết hình thái kinh tế- xã hội vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển xã hội, tìm ra nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổi những hiện tượng xã hội đặt ra cơ sở lý luận cho khoa học và xã hội học nâng nó lên thành khoa học thực sự. Chống lại quan điểm duy tâm về lịch sử, coi xã hội là sự kết hợp có tính chất máy móc của nhiều cá nhân và gia đình, coi sự vận động và phát triển của xã hội là lý do ý chí của những nhà cầm quyền chi phối, coi kỹ thuật là cái chung quyết định tính chất chế độ xã hội, là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế-xã hội. Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội vũ trang cho chúng ta phương pháp khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ xã hội khác nhau, hiểu rõ cơ cấu chung của hình thái kinh tế-xã hội và những quy luật phổ biến tác động, chi phối sự vận động và phát triển của xã hội . Rõ ràng, học thuyết Mác về hình thái kinh tế -xã hội là một thành tựu vĩ đại của khoa học xã hội, là một bước tiến khổng lồ trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Sự ra đời của học thuyết này là một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế- xã hội đối lập với quan niệm trừu tượng, duy tâm về xã hội. Nó bác bỏ cách miêu tả xã hội nói chung, một xã hội cấu thành chỉ bởi những con người tự nhiên sinh vật. Nó đánh đổ hẳn quan niệm cho rằng xã hội là một tổ hợp có tính máy móc, có thể biến đổi tùy ý theo đủ mọi kiểu, một tổ hợp sinh ra và biến hóa một cách ngẫu nhiên. Các- Mác đã vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội và phân tích xã hội tư bản, vạch ra các quy luật vận động và phát triển của nó. Từ đó dự báo về sự ra đời của hình thái kinh tế-xã hội cao hơn là: Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, chúng ta vẫn giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại,và tuy nhiên chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ. Chúng ta phải trải qua những bước đi tất yếu mà không thể bỏ qua được. Chúng ta phải kế thừa và phát triển để tạo ra những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội trên tất cả các mặt: từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. II. Sự nghiệp đổi mới của Đảng HIệN NAY GắN VớI HOạt Động ngân hàng 1. Thực trạng kinh tế: Những thành tựu và tiến bộ : Nền kinh tế nước ta tiếp tục phát triển và đạt mức tăng trưởng khá. Năm 1997, GDP tăng 9% cao hơn bình quân của năm trước là 8,2%. Năm 1999, tăng 4,7%- 5%. Theo số liệu Ban chấp hành Trung ương Đảng- Hội nghị lần thứ VIII- khóa 8 thì mức độ thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế nước ta năm 1999 như sau: - Tổng sản phẩm trong nước(GDP) tăng 4,7%- 5% - Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2%- 5,5% - Sản lượng lương thực quy thóc đạt 33,8 triệu tấn. - Giá trị sản lượng công nghiệp tăng 10,3%- 10,5% - Giá trị các ngành dịch vụ tăng 3,5%- 3,8% - Kim ngạch xuất khẩu tăng 14,3% - Lạm phát 2% - Bội chi ngân sách 4,9%(so với GDP) - Số hộ đói nghèo giảm 40 vạn hộ. - Tạo việc làm mới cho 1,2 triệu người. - Số tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ là 58/61 tỉnh. -Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn và thách thức nhưng nền kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Mặc dù GDP năm 1999 tăng 5% so với năm 1998 có kém hơn so với tốc độ của các năm trước nhưng mức tăng trưởng đã nhích dần từng tháng, từng quý: Quý I, GDP tăng 4,2%- Quý II tăng 4,5%- Quý III tăng 5%... làm xuất hiện khả năng chặn đà giảm sút, tuy còn phải phấn đấu rất cao mới biến khả năng đó thành hiện thực. Đặc biệt giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,2% so với năm 1998, mức tăng cao nhất từ trước tới nay và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra. Với sản lượng lương thực 33,8 triệu tấn đủ khẳng định khả năng của ngành nông nghiệp với nền kinh tế quốc dân là rất lớn. Cùng với nông nghiệp trồng trọt các ngành khác như chăn nuôi, đánh bắt thủy sản, hải sản đều có mức tăng trưởng khá và ổn định. Về công nghiệp, mặc dù chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng trên thế giới, cũng như khu vực, thị trường bị thu hẹp, đầu tư nước ngoài giảm nhưng mức tăng trưởng vẫn duy trỳ trên 10%, đó là một sự cố gắng lớn của toán ngành công nghiệp. Nhất là sản phẩm quan trọng có nhu cầu lớn và thị trường đạt mức tăng trưởng khá so với năm 1998: Dầu thô tăng 20,5%, điện tăng 8,2%, thép tăng 11,8%, may mặc tăng 12%, xe đạp tăng 16,3%, động cơ Diêzen tăng 31%... Các cân đối kinh tế vĩ mô được duy trỳ tạo điều kiện cho phát triển. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn kế hoạch dự kiến, thu hẹp đáng kể chênh lệch xút nhập khẩu. Trong điều kiện, bối cảnh kinh tế thế giới giảm sút, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, giá hầu hết các mặt hàng giảm mạnh nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 1999 vẫn đạt 10,7 tỷ USD, vượt hai lần so với kế hoạch dự kiến. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 11,3 tỷ USD giảm 2% so với năm 1998 làm cho mức nhập siêu khoảng 600 triệu USD, bằng 5,6% so với kim ngạch xuất khẩu. Đây là mức thấp nhất trong nhiều năm qua, nhờ có cán cân thanh toán quốc tế cả năm có được cải thiện, bội thu khá làm cho dự trữ ngoại tệ được tăng lên. Trong bối cảnh đầu tư nước ngoài giảm do hậu quả của khủng hoảng kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới, với tư tưởng chỉ đạo của TW4 và nghị quyết TW6 lần 1, chúng ta đã có một bước tiến trong việc phát huy nội lực để bù đắp và bổ xung một phần thiếu hụt cho đầu tư phát triển do sự giảm sút của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đánh giá sơ bộ cho thấy tổng đầu tư xã hội năm 1999 đạt 105 ngàn tỉ (tăng 9% so với năm 1998), đây là một sự cố gắng lớn. Nét nổi bật là trong khi vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm từ 24,3 ngàn tỉ (năm 1998) xuống còn 18,8 ngàn tỉ đồng (năm 1999) nhưng tổng vốn đầu tư phát triển vẫn tăng 9%. Điều đó nói lên tư tưởng phát huy nội lực của các Nghị quyết Trung ương bước đầu đi vào cuộc sống. Nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội đã được tập trung đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp then chốt, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, bưu điện, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa... Thu ngân sách có nhiều cố gắng đạt dự toán năm. Việc thông qua và đưa vào áp dụng lần đầu tiên ở nước ta thuế V.A.T là một cố gắng lớn, bước đầu có sự chuyển biến tích cực ở một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Như vậy, mặc dù đứng trước hoàn cảnh kinh tế thế giới giảm sút, khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhưng nền kinh tế nước ta cơ bản có sự phát triển và đổi sắc, góp phần nâng cao cuộc sống của người dân, ổn định xã hội. Thành tựu đó là phần góp của mọi người dân lao động, công nhân sản xuất và sự lãnh đạo tài tình của Đảng về mọi mặt của xã hội. 1.2 .Những mặt yếu kémvà tồn tại: Mặc dù duy trì được sự ổn định trong bối cảnh phức tạp, song tình hình kinh tế xã hội còn chứa đựng những yếu tố đáng lo ngại. - Nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp từ năm 1990 đến nay, cụ thể: Giai đoạn 1991-1995 GDP tăng 8,2%, năm 1996 tăng 9,3%, năm 1997 tăng 8,2%, năm 1998 tăng 5,8%, năm 1999 GDP chỉ tăng 4,7%-5% và vẫn trên đà giảm sút, mặc dù nhịp độ giảm sút có chậm lại. Nếu không có biện pháp đủ mạnh “chặn đà suy giảm và phục hồi nhịp độ tăng trưởng” cao thì khó có khả năng đạt được những mục tiêu chính sách đến năm 2020 là cơ bản biến nước ta thành nước công nghiệp và gần đây nhất là các chỉ tiêu kinh tế năm 2000. Mức sản xuất bình quân đầu người còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ do thị trường ngày càng thu hẹp và càng khó tính trong khi chúng ta chưa bắt kịp được với thời thượng. Các biện pháp kích cầu mới được triển khai chưa phát huy được tác dụng như mong muốn làm cho thị trường kém sôi động, một số sản phẩm vẫn còn tồn đọng, dư thừa. Khu vực dịch vụ tăng quá quá chậm, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 3,5-3,8% (kế hoạch đề ra là 4-5%) thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng năm trước là 6%. Ngành thương nghiệp chiếm tỉ trọng cao thong lĩnh vực dịch vụ nhưng chỉ đạt mức tăng trưởng dưới 2%. Tốc độ tăng tỉ trọng vốn đầu tư toàn xã hội đang có xu hướng giảm dần: từ 28%GDP (năm 1997) xuống còn 26,7% (năm1998) và 26,3% (năm 1999). Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vẫn tiếp tục giảm mạnh. Điều này nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế ở những năm đầu thế kỷ XXI. Chỉ số giá tiêu dùng giảm mạnh dẫn đến hàng hóa ứ đọng, thị trường kém sôi động, cơ hội và môi trường đầu tư còn bấp bênh. Tỉ lệ nợ quá hạn trong hệ thống tín dụng vượt quá giới hạn an tòan (mức an toàn là 5%, nhưng hiện nay đã lên tới 14%). Trong số nợ quá hạn thì trên 7% là nợ khó đòi. Đây là vấn đề bức xúc trong ngành tín dụng-ngân hàng. Một vấn đề được toàn xã hội quan tâm đó là tình trạng thất nghiệp. Hiện nay thất nghiệp ở Hà Nội đã dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội vì tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 10%, Thành phố Hồ Chí Minh 7%. Đặc biệt ở nông thôn số thời gian lao động mới được sử dụng khoảng 70%. * Một số vấn đề cản trở sự phát triển: Vấn đề chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp vẫn là tồn tại lớn nhất của nền kinh tế nước ta, vấn đề này đã được hội nghị trung ương khóa VIII chỉ ra song trong hai năm qua không có chuyển biến tích cực. Biểu hiện rõ nét nhất là chi phí vật chất trong việc sản xuất kinh doanh có chiều hướng tăng cao và khó tiêu thụ. Chi phí sản xuất vật chất toàn bộ các ngành kinh tế chiếm khoảng 48% trong giá trị sản xuất năm 1998 và tăng lên 50% trong năm 1999. Sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta đã thấp lại càng thấp hơn khi các nền kinh tế bị khủng hoảng trong khu vực đang có dấu hiệu phục hồi. Điều này chúng ta không thể đổ lỗi cho các ngành sản xuất kinh doanh vì trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội: Điện, nước, đường, bến cảng, viễn thông... ở nước ta còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm nên chưa phát huy được nguồn lực các thành phần kinh tế trong từng ngành và từng vùng để phát triển. Đặc biệt khu vực kinh tế Nhà nước: Chỉ có 21% các doanh nghiệp, thậm chí 15-20% có nguy cơ bị phá sản. Việc thực hiện cổ phần hóa và các bện pháp sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế. Ngân sách Nhà nước luôn trong tình trạng căng thẳng bởi vì quy mô kinh tế còn quá nhỏ bé, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, tỷ lệ thất thu lớn dẫn tới chi đầu tư phát triển ngân sách chủ yếu còn phải dựa vào nguồn vay trong nước và nước ngoài. Chất lượng tín dụng thấp cũng là tồn tại lớn cản trở phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta. Nợ quá hạn cao hơn mức dự kiến (5%- mức dự kiến). Gây khó khăn cho ngân sách quốc gia. Chúng ta chủ trương thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhưng đến nay các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đồng bộ, môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng chưa được tạo lập đầy đủ. Trong chính sách, thể chế quản lý của Nhà nước còn tồn tại nhiều hình thức hành chích bao cấp, vẫn mang nặng cơ chế "Xin -cho", gắn với thủ tục phiền hà thiếu tính công khai, nhưng lại có nhiều mặt buông lỏng quản lý, không giữ được trật tự kỷ cương. Tình hình đó khiến cho kinh tế vận hành trục trặc, không ăn khớp... Từ những nhận định và đánh giá ấy ta đi tìm nguyên nhân của thành tựu thắng lợi cũng như những mặt tồn tại và yếu kém. 1.3 . Đánh giá chung nguyên nhân Đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 1999 kết luận của hội nghị Trung ương 8 ghi rõ: - Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 1999 theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4, Trung ương 6 (lần 1) và nghị quyết 06 của Bộ chính trị, mặc dù gặp phải khó khăn và thách thức to lớn do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới chúng ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 5%. Theo số liệu thống kê của bá Nguyễn Thị Hằng - Đăng trên tạp chí Cộng sản 2/2000. Hàng năm chúng ta giải quyết việc làm mới cho 1,2 -1,3 triệu người lao động có trình độ nghề. Đời sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ đói nghèo cả nước đã giảm từ 20,3%(năm 1995)- xuống 14% (1999). Bình quân mỗi năm giảm 300 ngàn hộ (2% tổng số hộ đói nghèo) 805 người có công đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư cùng xã, phường nơi cư trú. Để đạt được những thành tựu đó là do: Sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn dân, toàn Đảng, sự cố gắng của các ngành, các cấp thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 1). Cơ chế, chính sách, pháp luật đã được đồng bộ hóa thêm một bước. Công tác chỉ đạo, điều chỉnh của Chính phủ, các ngành, các cấp có tiến bộ. Bám sát kịp thời những biến động bất thường trong tình hình kinh tế - xã hội. Một số mặt tồn tại và yếu kém của Đảng- Nhà nước ta xuất phát từ các nguyên nhân sau: Công tác dự báo có cố gắng nhưng cũng có nhiều thiếu sót là một trong những nguyên nhân dẫn đến cơ cấu đầu tư kém hiệu quả. Khó khăn ngày càng tồn đọng là áp lực đè nặng lên sự phát triển. Các chính sách, cơ chế được ban hành chưa thực sự đồng bộ, hợp với thực tiễn và thực hiện các đường lối kinh tế vừa chậm và vừa không đến nơi, đến chốn. Thu nhập dân cư thấp, thị trường bị thu hẹp, nên sức mua bị hạn chế, giá thị trường giảm liên tục, sản xuất có dấu hiệu bị đình trệ, hàng tồn kho tăng nên kìm hãm sự phát triển. Các doang nghiệp trong nước chậm chuyển biến, không gắn kết sản xuất với thị trường trong từng sản phẩm, dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm đầu tư theo hướng phát triển năng lực sản xuất không chú ý tới đầu ra của sản phẩm, gây ứ thừa, tồn kho, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp. Nguồn lực phát triển của đất nước chưa đủ sức điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát huy lợi thế trong ngành, vùng. Huy động vốn trong dân cư còn thấp nên dự trữ tiền tệ trong tín dụng ngân hàng chưa cao, chưa phát huy được những tiềm lực kinh tế. Cuối cùng là bộ máy quản lý điều hành còn cồng kềnh trùng lặp chức năng. Sự phối hợp giải quyết các công việc giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ. Phân công công việc chưa rõ ràng, chưa đảm bảo tập trung thống nhất lại vừa thiếu dân chủ trong điều hành nên gây nhiều chủ trương, quyết định đúng đắn không được tổ chức triển khai kịp thời nên hiệu quả kém. Trên đây ta đã nghiên cứu thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới đặc biệt là năm 1998-1999 là hai năm đánh dấu những bước ngoặt kinh tế của thế kỷ XX mở đầu cho những định hướng kinh tế trong tương lai. Với những thành tựu đã đạt được là nguồn cổ vũ khích lệ cho các cấp, các ngành để cùng nhau tiến bộ. Nhưng những yếu kém và tồn tại cũng là những bài học đầy ý nghĩa cần phải được nghiên cứu lại một cách hòan thịên bộ máy Nhà nước và sau nữa là định hướng đường lối phát triển cuả đất nước nhằm biến nước ta thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, trở thành một nước công nghiệp để có thể "sánh vai" với những cường quốc năm châu - như ý nguyện của Bác Hồ vĩ đại. Với những tiên đề tiền lệ đó Đảng ta có những chính sách, chủ trương gì để phát triển đất nước trong thời kì đổi mới ? Một trong những chính sách và chủ trương lớn của Đảng, của Nhà nước là: ta tiếp tục nghiên cứu: 2.Đường lối lãnh đạo của Đảng. Với chủ trương "''Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng ở nước ta'', Đảng ta đã vận dụng linh hoạt học thuyết hình thái kinh tế-xã hội vào thực tiễn và lý luận nhằm phát triển nền kinh tế nước ta. 2.1 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở việt nam Những nhược điểm và sai lầm của cơ chế quản lý kinh tế theo mô hình kinh tế hóa tập trung thật ra đã được Đảng và Nhà nước ta phát hiện từ lâu. Ngay từ 1972 Hội nghị TW Lần thứ 20( khóa III )đã dề ra “Xóa bỏ lối quản lý hành chính cung cấp”. Đặc biệt từ sau khi thống nhất đất nước, những ý đồ chủ quan , duy ý chí , muốn áp đặt cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trên cả nước đã gặp không ít những phản ánh từ cơ sở ,địa phương , nhất là ở các tỉnh miền Nam. Các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước, các nhà nghiên cứu và quả lý kinh tế đều nhận thức được rằng trong suốt một thời gian quá dài chúng ta điều hành nền kinh tế chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính ,bằng bằng những Nghị quyết của Đảng là chủ yếu mà không coi trọng đầy đủ các quy luật khách quan, coi nhẹ lợi ích kinh tế, quan hệ thị trường, quan hệ hàng hóa tiền tệ. Chúng ta từ lâu cũng đã nhìn thấy tính chất bao cấp tràn lan trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đơn thuần dựa vào chế độ cấp phát và giao nộp, hạch toán kinh tế chỉ là giả tạo hình thức chính vì vậy mà các cơ sở kinh doanh luôn ở trong tình thế bị gò bó, thụ động và ỷ lại mất hết động lực kinh tế, không quan tâm tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy đỏi mơí chính sách kinh tế ở việt nam là một yếu tố cấp thiết cần sớm được thực hiện. 2.2. Đổi mới quản lý kinh tế tất yếu phải đổi mới hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng Nền kinh tế hiện đại thực chất là nền kinh tế tiền tệ nền kinh tế đã được tiền tệ hóa cao độ. Những công trình nghiên cứu về các nước công nghiệp mới trong khu vực trong những năm gần đây để đi đến một kết luận thống nhất là nền kinh tế nào được tiền tệ hóa cao thì nền kinh tế đó có điều kiện tăng trưởng tốt nhất. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường về thực chất cũng là một quá trình tiền tệ hóa mọi hoạt động của đất nước. Trong cơ chế quản lý hành chính tập trung quan liêu bao cấp như văn kiện đại hội VI đã vạch rõ: “ Cơ chế đó chưa chú ý đầy đủ đến quan hệ hàng hóa- tiền tệ và hiệu quả kinh tế, dẫn tới cách quản lý và kế hoạch hóa thông qua chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật là chủ yếu”. Cơ chế bao cấp ở nước ta thể hiện qua bao cấp qua giá, bao cấp qua chế độ lương hiện vật, bao cấp qua chế độ cấp phát vốn, kể cả vốn tín dụng ngân hàng với lãi suất rất thấp. Rõ ràng là trong một cơ chế quản lý như vậy mọi động lực kinh tế đều bị triệt tiêu, các hoạt động kinh tế không thể điều tiết và kiểm soát được, tính năng động và sáng tạo bị tê liệt, và hiệu quả kinh tế thật sự thấp kém, mọi hiện tượng tiêu cực và rối ren trong xã hội đều phát sinh từ đó. Quan hệ hàng hóa tiền tệ trong điều kiện đó, dù có khơi dậy và áp đạt bằng mệnh lệnh hành chính cũng không thể nào phát huy được hiệu quả. Như vậy, quá trình đổi mới cơ chế quản lý đã tạo điều kịên cho quan hệ hàng hóa phát sinh và phát triển tạo quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ ,tín dụng, ngân hàng. Nhưng ngược lại quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ, tín dụng, ngân hàng lại đóng vai trò “bà đỡ” trong tiến trình đối mới kinh tế. Chính vì vậy, trong điều kiện kinh tế của ta hiện nay, như trong nhiều Nghị quyết của Đảng đã đánh giá, còn ở trong tình trạng phân tán, chia cắt, cơ chế thị trường đang ở dạng hoang sơ , quá trình đổi mới kinh tế còn phải tiến hành trong một thời gian tương đối dài mới trở nên tương đối hoàn chỉnh, quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ tín dụng, ngân hàng nhất thiết phải được coi như một khâu quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong công cuộc đổi mới cơ chế kế hoạch và quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Ngân hàng phải thực sự là một tác nhân thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới, thực sự là “bà đỡ” của tiến trình đổi mới kinh tế theo những định hướng mà Đảng đã đề ra. 2.3. Tiếp tục đổi mới và chấn chỉnh hệ thống ngân hàng Trong nhiệm vụ chấn chỉnh và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, cùng với việc xúc tiến mạnh hơn các biện pháp theo chương trình đã đề ra, cần giả quyết vấn đề bức xúc hiện nay là tỉ lệ quá cao của nợ quá hạn đang gây ách tắc, ứ đọng vốn trong hoạt động tín dụng. Giải pháp cơ bản và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi suất, đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, trả được nợ, nếu mất khả năng thanh tóan thì áp dụng luật phá sản, kể cả với doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống ngân hàng thương mại mà hạt nhân là các ngân hàng phải được chấn chỉnh và tổ chức lại để kinh doanh có hiệu quả, thực hiện đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tín dụng, chấm dứt việc ngân hàng thương mại cho vay cho vay theo lệnh hành chính. Chính phủ tạo nguồn vốn để hỗ trợ việc giải quyết các khoản nợ quá hạn, có cơ chế xử lý tài sản thế chấp bị xiết nợ đồng thời triển khai xây dựng công ty mua bán nợ, tạo cơ sở để sớm hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn xuống giới hạn cho phép, tăng khối lượng và vòng quay vốn qua ngân hàng. 2.4.Xây dựng chiến lược cải tổ hệ thống ngân hàng. Để công cuộc cải tổ thu được nhiều kết quả mong muốn đòi hỏi không chỉ thực hiện cải tổ toàn bộ hệ thống tài chính nói chung mà còn phải cải tổ hoạt động của các ngân hàng riêng lẻ. 2.4.1.Đánh giá: Để xây dựng một chiến lược hoạt động và xác định công cụ nhằm đạt được các mục tiêu của nó, các nhà hoạch định chính sách cần phải đánh giá điều kện tài chính và hoạt động của các ngân hàng riêng lẻ và những vấn đề trong hệ thống ngân hàng nói chung. Trong đánh giá cần phân loại các ngân hàng có khả năng đứng vững, có thể đưa vào chương trình cải tổ và những ngân hàng không đứng vững cần phải đóng cửa. 2.4.2.Phân bổ thiệt hại: Các khoản thiệt hại của các ngân hàng vỡ nợ trong những giai đoạn đầu của quá trình cải tổ cần được phân bổ một cách rõ ràng và công bằng đến mức có thể. Các khoản thệt hại trước tiên phải được bù đắp bằng vốn tự có để có thể nâng cao động cơ bảo toàn vốn của giới chủ ngân hàng tương lai. 2.4.3.Hoạch định chiến lược: Những thiếu sót trong quản lý và điều hành ngân hàng là những nguyên nhân chủ yếu gây nên các vấn đề của hệ thống ngân hàng. Do đó cải tổ hoạt động các ngân hàng riêng lẻ phải là một bộ phận không thể tách biệt của chiến lược. Đối với hệ thống ngân hàng như một thực thể thống nhất, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của ngân hàng là phải xây dựng khung pháp lý, thể chế đầy đủ và đồng bộ tăng cường cơ chế điều tiết giám sát và cơ cấu của khu vực ngân hàng không dược ngăn cản sự cạnh tranh và tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh. 2.4.4. Các công cụ thực hiện cải tổ: Mục tiêu cải tổ tài chính nhằm phục hồi khả năng thanh toán của các ngân hàng bằng cách lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản và báo cáo thu nhập để đảm bảo các tiêu chuẩn về vốn, khả năng sinh lời, tăng cường khả năng thanh toán, quản lý rủi ro. 3/ ý nghĩa rút ra đối với bản thân: Nhận thức được vai trò to lớn của “hoạt động đổi mới hệ thống ngân hàng” Đảng và Nhà nước ta luôn ra sức phát triển và xây dựng, nhằm phục vụ lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao cả là: Vì con người, do con người. Chính vì lẽ đó phát huy nhân tố con người, luôn là mục tiêu hàng đầu và thiết thực nhất. Đảng và Nhà nước ta đã luôn cố gắng không mệt mỏi để đấu tranh vì nhân quyền và nhân lợi đi đôi với giáo dục đào tạo vì một tương lai tươi sáng hơn. Là một sinh viên khoa Ngân Hàng Tài Chính, KTQD, em hiểu ý nghĩa của học thuết kinh tế-xã hội có tác dụng như thế nào đối với bản thân và luôn tự nhủ mình phải làm gì để học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đi sâu hơn vào cuộc sống. Sống và học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, mỗi sinh viên chúng ta được thừa hưởng những thành quả to lớn mà chế độ đã mang tới. Đó là một cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh với một hệ thống trường lớp từ thấp đến cao. Cộng với một đội ngũ thầy cô giáo được đào tạo căn bản và chuyên sâu là một nguồn tài sản vô giá của quốc gia bởi nguồn nhân lực của một nước mạnh hay yếu là phụ thuộc vào giáo dục và đào tạo. Thoát khỏi các cuộc chiến tranh liên miên, đặc biệt là sau chiến thắng năm 1975 cả nước ta đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa với một cơ sở hạ tầng bị tàn phá gần hết. Nhưng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chú

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHọc thuyết Mac về hình thái kinh tế – xã hội và sự vận dụng của đảng ta trong thời kì đổi mới gắn với hoạt động ngân hàng.Doc
Tài liệu liên quan