Tiểu luận Những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành phép biện chứng

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

I. Phân biệt phép biện chứng và phép siêu hình

II. Sự hình thành phép biện chứng trong thời kỳ cổ đại

1. Phép biện chứng trong triết học Ấn Độ cổ đại

2. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại

3. Phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại

III. Sự hình thành phép biện chứng thời kỳ phục hưng và cận đại ở Tây Âu

1. Phép biện chứng trong thời kỳ phục hưng

2. Phép biện chứng trong thời kỳ cận đại

IV. Sự hình thành phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

1. Phép biện chứng của Imanuen Cantơ

2. Phép biện chứng của Hêghen

V. Sự hình thành phép biện chứng duy vật Mácxít

1. Phép biện chứng duy vật trong giai đoạn Mác - Ăngghen

2. Giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy vật Mácxít

VI. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu lịch sử hình thành phép biện chứng

Lời kết

Tài liệu tham khảo

 

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 2319 | Lượt tải: 32download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành phép biện chứng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
triết học đồng thời là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học,... Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai. Đời sống chính trị của Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan duy vật và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại. Có thể tìm hiểu các tư tưởng biện chứng nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại qua một số đại diện tiêu biểu sau đây: a. Talét Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự phát. Ông cho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới. Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Theo Talét, vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi. Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nền tảng là nước. Tuy nhiên, các quan điểm triết học duy vật của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính. Ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ khi ông cho rằng thế giới đầy rẫy những vị thần linh. b. Anaximăngđrơ Ông là người Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh và phát triển của các loài động vật. Theo ông, động vật phát sinh dưới nước và sau nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn, phát triển và hoàn thiện dần; con người hình thành từ sự biến hoá của cá. Phỏng đoán của ông còn chưa có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố biện chứng về sự phát triển của các giống loài động vật. Khi giải quyết vấn đề bản thể luận triết học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà người ta không thể trực quan thấy được. Nếu so với Talét thì Anaximăngđrơ có bước tiến xa hơn trong sự khái quát trừu tượng về phạm trù vặt chất. c. Hêraclít Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin, Hêraclít là người sáng lập ra phép biện chứng, hơn nữa, ông là người xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật. Phép biện chứng của Hêraclít chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học như sau này, nhưng hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã được ông đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Các tư tưởng biện chứng của ông thể hiện trên các điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất. Theo Hêraclít, không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại. Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập. Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai, nhưng về cơ bản là đúng đắn. ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có tư tưởng biện chứng nào sâu sắc như vậy. Heraclít đã đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng. Học thuyết của ông đã được nhiều nhà triết học cận đại, hiện đại kế thừa và phát triển sau này. Mác và Ăngghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Hêraclít, coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, Mác và Ăngghen cũng vạch rõ những hạn chế, sai lầm của Hêraclít về mặt chính trị. Đó là tính chất phản dân chủ, thù địch với nhân dân và ông chủ trương dùng chính quyền để dập tắt nhanh chóng phong trào dân chủ. d. Pácmênít Khái niệm trung tâm trong triết học của Pácmênít là tồn tại hết sức trừu tượng song cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát. Ông cho rằng với cách nhìn cảm tính thì thế giới vô cùng đa dạng, phong phú, biến đổi không ngừng và vô cùng sinh động. Nhưng bằng con đường cảm tính đơn thuần không thể khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Chỉ với cách nhìn triết học phù hợp với trí tuệ lý tính mới khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Ông cho rằng bản chất của mọi vật trong thế giới là tồn tại. Học thuyết về tồn tại của Pácmênít đánh dấu một bước tiến mới trong sự phát triển tư tưởng triết học Hy Lạp, mang tính khái quát cao. Tuy nhiên, hạn chế trong học thuyết về tồn tại của ông là ở chỗ ông đã đồng nhất tuyệt đối giữa tư duy và tồn tại và mang tính chất siêu hình vì ông cho rằng tồn tại là bất biến. e. Dênông Dênông là học trò của Pácmênít. Công lao của ông là đã đặt ra nhiều vấn đề biện chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính nhiều vẻ của thế giới, giữa vận động và đứng im, giữa tính gián đoạn của thời gian và không gian, giữa tính hữu hạn và tính vô hạn, và về sự phức tạp trong việc thể hiện quá trình vận động biện chứng của sự vật vào tư tưởng, vào lôgíc của khái niệm. Tuy nhiên, những nghịch lý Apôria của ông chỉ có thể được giải quyết nếu đứng trên lập trường duy vật biện chứng trong nhận thức sự vật. f. Empêđôcơlơ Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác động của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù. Quan điểm này là một bước thụt lùi so với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận động của vật chất là do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật. tuy nhiên, Empêđôcơlơ cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới hữu cơ. Sự giải thích này của ông tuy còn ngây thơ nhưng đã manh nha hình thành tư tưởng biện chứng về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đường từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. g. Đêmôcrít Đêmôcrít là một trong những người đã phát triển thuyết nguyên tử lên một trình độ mới. Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của Pácmênít khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan điểm của Hêraclít cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít đã nêu ra lý thuyết về vũ trụ học. Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học. Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt. Quan điểm của Đêmôcrít về vận động gắn liền với vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt. Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự nó. Tuy nhiên ông đã không lý giải được nguồn gốc của vận động. Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm quyết định luận. Đó là thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và khách quan của các hiện tượng tự nhiên. Đây là một quan điểm có giá trị của Đêmôcrít đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại. Về mặt bản thể luận, Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới. Khác với nhiều nhà triết học trước đó, phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai dạng là nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý. Mặc dù triết học của Đêmôcrít còn mang tính chất thô sơ, chất phác song những đóng góp của ông về các tư tưởng biện chứng và thế giới quan duy vật là rất đáng ghi nhận. h. Xôcrát và Platôn Xôcrát và Platôn là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại. Triết học Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bước tiến mới trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại. Nếu các nhà triết học trước Xôcrát chủ yếu bàn về vấn đề khởi nguyên thế giới, về nhận thức luận thì Xôcrát là người đầu tiên đưa đề tài con người trở thành chủ đề trọng tâm nghiên cứu của triết học phương Tây. Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những người trong đàm thoại, ngoài những yếu tố chủ quan còn có nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang tính tổng quát. Ông cho rằng nếu không hiểu cái chung, cái phổ biến thì người ta không thể phân biệt được cái thiện - cái ác, cái tốt - cái xấu. Muốn phát hiện ra cái thiện phổ biến thì phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận, toạ đàm, luận chiến. Đây chính là yếu tố biện chứng trong triết học Xôcrát, song nó lại dựa trên lập trường duy tâm vì Xôcrát cho rằng giới tự nhiên là do thần thánh an bài. Platôn là học trò của Xôcrát. Các quan điểm triết học của ông chứa đựng những yếu tố biện chứng. Ông thừa nhận sự vận động của thế giới song đó chỉ là vận động theo sự điều khiển của ý niệm. Ông chia thế giới thành hai loại: - Thế giới của những ý niệm: là thế giới tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối và là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính. - Thế giới của các sự vật cảm tính: là thế giới tồn tại không chân thực, thường xuyên biến đổi và phụ thuộc vào thế giới của những ý niệm. Lý luận nhận thức của Platôn cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng thông qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối chiếu những mặt đối lập. Nhưng đó là biện chứng duy tâm - biện chứng của các khái niệm, tách rời hiện thực, từ bỏ cảm giác, chỉ nhận thức bằng tư duy thuần tuý. Tóm lại, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn còn nhiều hạn chế do chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đương thời. Song sự xuất hiện của hệ thống triết học Platôn cùng với phép biện chứng duy tâm đã để lại dấu ấn trong lịch sử triết học bằng cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học Đêmôcrít và Platôn, tạo điều kiện cho tư duy triết học Hy Lạp cổ đại có cơ hội khám phá và phát triển. i. Arixtốt Xu hướng duy vật và tư tưởng biện chứng trong triết học tự nhiên của Arixtốt thể hiện ở ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác. Ông cho rằng, vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng định, vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động. Trong lập luận này, ông đã tiến gần đến quan niệm vận động là tự thân của vật chất. Song cuối cùng ông lại rơi vào duy tâm khi cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động. Tuy nhiên, nếu như trước đây Hêraclít và Đêmôcrít chưa phân biệt được các hình thức của vận động thì đến Arixtốt là người đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành sáu dạng khác nhau. Lý thuyết về vận động của Arixtốt là một thành quả có giá trị cao của khoa học cổ Hy Lạp. Về lôgíc học, Arixtốt đã cố gắng giải quyết mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng nhưng ông không giải quyết được vấn đề chuyển hoá từ cái riêng thành cái chung. Lôgíc học hình thức của Arixtốt tuy chưa hoàn hảo song ông đã để lại cho nhân loại một môn khoa học về tư duy. Chính ông đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng mà không tách rời chúng khỏi hiện thực. Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô Hy Lạp cho nên về bản thể luận triết học, ông dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nên ông lại rơi vào phái nhị nguyên luận. Tóm lại, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện rất rõ nét cuộc đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình mà song song với nó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Với các thành tựu nổi bật như thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát, Platôn và phép biện chứng chất phác của Arixtốt, triết học Hy Lạp cổ đại đã bao chứa mầm mống của tất cả thế giới quan về sau này và đánh dấu sự phát triển tư duy biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại. Chính vì vậy, Lênin coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử phép biện chứng. III. Sự hình thành phép biện chứng thời kỳ phục hưng và cận đại ở tây âu Trước khi bước sang thế kỷ XV- XVI ở Tây Âu là thời đại phục hưng, lịch sử triết học đã trải qua thời kỳ trung cổ với sự thống trị của tư tưởng thần học. Do đó, chủ nghĩa kinh viện trở thành nét chủ đạo của triết học Tây Âu thời trung cổ. Trong giai đoạn này, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm được biến tướng thành cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm của phái Duy danh và Duy thực. Có thể nói đây là bước lùi tạm thời trong lịch sử phát triển tư duy triết học nói chung và tư duy biện chứng nói riêng, song vẫn chứa đựng những nhân tố cho sự phát triển mới của triết học trong thời đại phục hưng. 1. Phép biện chứng trong thời kỳ phục hưng Trong thời kỳ này, chủ nghĩa duy vật được khôi phục và biến đổi cùng với sự biến đổi của khoa học tự nhiên và dựa vào những thành tựu của khoa học tự nhiên để tiến hành cuộc đấu tranh chống thế giới quan thần học. Nhiều học thuyết triết học thời kỳ này đã phục hồi phép biện chứng tự phát thời cổ đại và khái quát thành những thành tựu của khoa học tự nhiên tiên tiến. Một số tư tưởng biện chứng nổi bật của thời kỳ này được thể hiện trong triết học của Kudan và Brunô. a. Triết học Kudan Tư tưởng biện chứng của Kudan được thể hiện qua học thuyết về sự phù hợp của các mặt đối lập. Song lập trường triết học của ông lại không thoát khỏi tính chất duy tâm thần bí khi cho rằng Thượng đế là sự thống nhất giữa các mặt đối lập. Kudan cũng đã nêu lên tính tương đối của nhận thức con người, mặc dù còn hạn chế song nó đã đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng về quá trình nhận thức cho triết học về sau. b. Triết học của Brunô Brunô có vai trò quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng. Ông nêu ra tư tưởng biện chứng về sự phù hợp của các mặt đối lập trong sự thống nhất vô tận của vũ trụ. Theo ông, trong giới tự nhiên, mọi cái đều có liên hệ với nhau và đều vận động. Cái này mất đi thì cái khác ra đời, không chỉ là sự vận động mà còn là sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập, ví dụ như tình yêu chuyển thành căm thù và ngược lại hay thuốc độc cũng chữa được bệnh. Về mặt nhận thức luận, Brunô đã đưa ra quan niệm biện chứng trong việc nhận thức giới tự nhiên. Ông cho rằng ai muốn nhận thức những bí mật của giới tự nhiên thì hãy xem xét cái tối thiểu và cái tối đa của những mâu thuẫn và những mặt đối lập. Mặc dù có những tư tưởng tiến bộ nhưng thế giới quan triết học của Brunô vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học sai lầm của Arixtốt coi vật chất đầu tiên là hoàn toàn thụ động, phải nhờ đến tính năng động của hình dạng thì nó mới có tính năng động. 2.Phép biện chứng trong thời kỳ cận đại Triết học thời kỳ này gắn chặt với các thành tựu của khoa học tự nhiên. Nếu như triết học cổ đại dựa trên cơ sở quan sát và các phỏng đoán thiên tài thì thời kỳ này triết học lại dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên, khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và được chứng minh bằng khoa học tự nhiên. Các nhà khoa học tự nhiên thời kỳ này cũng đồng thời là nhà triết học. Tuy nhiên, triết học Tây Âu thời cận đại lại rơi vào siêu hình, máy móc. Các nhà khoa học thời kỳ này đi sâu vào từng lĩnh vực riêng biệt để nhận thức. Điều này cho phép nhận thức sâu sắc về tự nhiên song lại tạo ra một thói quen xem xét tự nhiên trong trạng thái cô lập, tĩnh tại của nó. Từ đó làm xuất hiện sự thống trị của phương pháp tư duy siêu hình. Tuy nhiên một số học thuyết triết học thời kỳ này vẫn chứa đựng những quan điểm biện chứng sâu sắc, với các đại biểu như Phrăngxi Bêcơn, Barút Xpinôda, Rơnê Đêcáctơ. a. Triết học của Phrăngxi Bêcơn Về cơ bản, P. Bêcơn là một nhà duy vật, ông thừa nhận thế giới là sự kết hợp những biến đổi khác nhau của vật chất và đã có vật chất thì nó luôn vận động, biến đổi. Ông đưa ra 19 hình thức vận động, trong đó có một hình thức đặc biệt là đứng im. Tuy bàn về sự vận động song ông lại quy vận động thành các hình thức vận động cơ học, vì vậy, P.Bêcơn chưa thoát khỏi quan điểm của một nhà duy vật siêu hình. Tuy nhiên, cống hiến mới của ông là đã coi đứng im là một hình thức vận động và coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất. Về nhận thức luận, P. Bêcơn có đóng góp lớn về phép quy nạp trong nhận thức, song ông lại đề cao nhận thức kinh nghiệm. Vì vậy, nhãn quan triết học của ông vẫn mang tính chất siêu hình. b. Triết học của Barút Xpinôda Xpinôda là một nhà tư tưởng duy vật xuất sắc của Hà Lan. Triết học của ông chứa đựng một số yếu tố biện chứng, thể hiện qua nguyên lý Causasui (nguyên nhân tự nó). Trong đó, ông cho rằng quan hệ giữa thực thể và dạng thức là sự thống nhất giữa cái chung và cái đơn nhất, giữa cái duy nhất và cái đa dạng. Tư tưởng này đã đi gần tới quan điểm về mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên. Về nhận thức luận, ông cho rằng con người có khả năng nhận thức thế giới song ông lại rơi vào quan điểm siêu hình khi cường điệu hoá nhận thức kinh nghiệm, hạ thấp vai trò của tư duy trừu tượng và khái quát khoa học. c. Triết học của Rơnê Đêcáctơ Rơnê Đêcáctơ là đại biểu xuất sắc nhất của triết học Pháp thế kỷ XVII. Đêcáctơ cho rằng không gian và thời gian là thuộc tính gắn liền với vật thể, vận động là không thể bị tiêu diệt, nó luôn luôn gắn liền với các vật thể, vật thể luôn vận động, chuyển đổi vị trí, tức là vận động trong không gian. Tuy nhiên, trong giai đoạn này khoa học chưa phát triển đến trình độ cho phép phát hiện ra các hình thức vận động khác nhau của vật chất cho nên Đêcáctơ hiểu vận động của vật chất chỉ là vận động cơ giới hay chuyển dịch vị trí trong không gian. Về nhận thức luận, Đêcáctơ đã tách rời hai giai đoạn cảm tính và lý tính của nhận thức nên ông vẫn là một nhà duy vật siêu hình. Như vậy, ngay cả trong giai đoạn phương pháp tư duy siêu hình giữ vị trí thống trị thì trong các học thuyết triết học vẫn xuất hiện những yếu tố biện chứng sâu sắc. Do sự kìm hãm của phương pháp siêu hình từ khoa học tự nhiên chuyển sang triết học, phép biện chứng chưa có cơ hội để phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ phục hưng và cận đại song đây là bước chuẩn bị cho phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức ra đời. IV. Sự hình thành phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trước sự đòi hỏi của sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã phát triển đạt đến trình độ cao. Phương pháp tư duy siêu hình đã bộc lộ những hạn chế và bất lực trong việc giải quyết các vấn đề về tự nhiên và xã hội. Triết học cổ điển Đức ra đời đem lại cái nhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại. Sự phát triển của các tri thức triết học trong thời kỳ này đòi hỏi phải có phép biện chứng với tư cách là một phương pháp lý giải các vấn đề cấp bách của triết học và hơn thế nâng nó lên thành một khoa học thật sự. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức bắt đầu được hình thành ở Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Triết học cổ điển Đức đã xây dựng phép biện chứng trở thành phương pháp luận triết học đối lập với phương pháp tư duy siêu hình trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Giả thuyết về sự hình thành vũ trụ của Cantơ cũng như việc phát hiện ra các quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng trong triết học của Hêghen làm cho phép biện chứng trở thành một khoa học đã thực sự mang ý nghĩa cách mạng trong triết học. 1. Phép biện chứng của Imanuen Cantơ Cantơ được đánh giá là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức. Ông là tác giả của hai phát minh quan trọng về khoa học tự nhiên. Phát minh thứ nhất là giả thuyết về sự hình thành vũ trụ từ những hạt bụi vật chất dưới tác dụng của các lực hút và lực đẩy của vật chất; phát minh thứ hai là giả thuyết về sự lên xuống của thủy triều dưới tác động của mặt trăng và trái đất. Vào thời kỳ đó, khi mà quan niệm siêu hình đang thống trị trong tư duy khoa học tự nhiên và triết học thì phát minh lý thuyết của Cantơ có một ý nghĩa tiến bộ vượt thời đại. ý nghĩa lớn lao của hai phát minh này thể hiện ở chỗ nó xuất phát từ chính bản thân những tính chất của vật chất để giải thích giới tự nhiên mà không cần cầu viện đến một thứ lực lượng thần bí siêu tự nhiên nào. Hơn nữa, hai phát minh này còn đem lại một quan điểm có tính chất biện chứng về giới tự nhiên. Nó cho thấy giới tự nhiên tác động qua lại lẫn nhau và vận động chuyển hoá không ngừng. Về nhận thức luận, Cantơ đưa ra phạm trù “vật tự nó” là cái nằm ngoài khả năng nhận thức của con người và tư duy khoa học. Có thể nói, Cantơ vẫn đứng trên lập trường của tư duy siêu hình để giải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con người, ông chưa thể giải quyết được mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng của tồn tại. 2. Phép biện chứng của Hêghen Hêghen là một nhà biện chứng lỗi lạc. Ông là người xây dựng nên phép biện chứng một cách có hệ thống trên lập trường duy tâm khách quan. Triết học của ông là một tiền đề lý luận của triết học Mácxít. Hêghen đã có công lao trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Ông khẳng định phép biện chứng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực; cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học. Như vậy, theo Hêghen, hiện thực không phải là tồn tại nói chung, mà là tồn tại trong tính tất yếu của nó, đó là hiện thực trong sự phát triển. Những luận điểm về phép biện chứng của triết học Hêghen được thể hiện rõ nhất và sâu sắc nhất trong lôgíc học. Biện chứng của khái niệm trong khoa học lôgíc bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Những khái niệm không những khác nhau mà còn có mối liên hệ với nhau; - Mỗi khái niệm đều phải trải qua một quá trình phát triển được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc: + Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau. Những chuyển hoá về lượng sẽ dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại; + Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển; Khi nghiên cứu các nguyên tắc này, Hêghen đã giải quyết một cách biện chứng mối liên hệ chuyển hoá giữa bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả. + Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn ra theo hình thức xoáy ốc. Khi lý giải nguyên tắc này, Hêghen đã giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lôgíc và lịch sử. Trong tác phẩm “Triết học tự nhiên”, Hêghen đã nêu lên những tư tưởng biện chứng tài tình về sự thống nhất của vật chất và vận động; về tính chất mâu thuẫn của những phạm trù không gian, thời gian và vận động; về sự phụ thuộc của những đặc tính hoá học vào những thay đổi về lượng... Tuy nhiên, do đứng trên lập trường duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng đời sống xã hội và lịch sử diễn ra là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối. Và một khi giới tự nhiên và lịch sử nhân loại đã đạt tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ nhất thì khi đó giới tự nhiên không vận động và phát triển về mặt thời gian mà chỉ vận động về mặt không gian. Đến đây, những tư tưởng biện chứng của ông lại bị giới hạn bởi quan điểm siêu hình vì ông cho rằng sự phát triển có tận cùng. Tóm lại, Hêghen đã khái quát một cách sâu sắc và có hệ thống về những vấn đề cốt lõi nhất của phép biện chứng và cần phải thừa nhận rằng những tư tưởng biện chứng của ông là những tư tưởng tiến bộ, cách mạng. Song hệ thống triết học của ông lại duy tâm, bảo thủ và đi ngược lại sự tiến bộ, cách mạng. Một đại diện tiêu biểu khác của nền triết học cổ điển Đức là Lútvích Phơbách. Chủ nghĩa duy vật của Phơbách là một sự phản ứng tất yếu đối với chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen. Là một nhà duy vật song Phơbách lại không kế thừa được những tư tưởng biện chứng của Hêghen. Vì vậy, Phơbách cũng chỉ đạt tới quan niệm duy vật siêu hình, trực quan về giới tự nhiên còn trong các quan niệm về xã hội và lịch sử, ông vẫn đứng trên lập trường duy tâm. Tuy nhiên, triết học của Phơbách được coi là “chiếc cầu nối” từ triết học Hêghen sang triết học Mác và Ăngghen. V. Sự hình thành phép biện chứng duy vật Mácxít Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được Mác và Ăngghen sáng lập nên và được Lênin phát triển hơn nữa vào đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên cần phải thấy rằng sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của Mác và Ăngghen là một quá trình đầy khó khăn, phức tạp, dựa trên các tiền đề kinh tế - xã hội, tiền đề lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên. - Tiền đề kinh tế - xã hội: đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát tr

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT093.doc
Tài liệu liên quan