Tiểu luận Thực tiễn áp dụng luật phá sản ở Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC

Lời cảm ơn . Trang 3

Mục lục . Trang 4

Lời mở đầu . Trang5

Nội dung

 CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG PH Á S ẢN HI ỆN NAY C ỦA DOANH

NGHIỆP TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI. Trang 6

 CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN . Trang 13

 CHƯƠNG III : LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 ĐÃ CÓ NHỮNG SỬA ĐỔI

TIẾN BỘ. . Trang 15

 CHƯƠNG IV: THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM

. Trang 18

 CHƯƠNG V: MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT PHÁ SẢN 2004 CẦN SỬA ĐỔI.

. Trang 21

Kết luận . Trang 26

Nhận xét của giáo viên. Trang 27

Tài liệu tham khảo . Trang 27

pdf27 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 25/06/2013 | Lượt xem: 3205 | Lượt tải: 37download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thực tiễn áp dụng luật phá sản ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hiệp Nhà nƣớc đang là một trong những vấn đề "nóng" nhất của Chính phủ nƣớc này. +) Trƣớc tình hình trên, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã phải can thiệp bằng cách bơm tiền vào Iceland, Hungary, và Ukraine để ngăn chặn những kết cục tồi tệ hơn có thể xảy ra. +) Trong ba tháng, tính tới cuối tháng 9, đã có hơn 30.000 doanh nghiệp Mỹ phá sản. Nước Mỹ và cộng đồng quốc tế đặt nhiều hy vọng vào thay đổi từ những chính sách mới của Obama. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 9 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà +) Chƣa dừng lại ở đó, mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn nữa nếu ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu là Ford, General Motors (GM), và Chrysler phá sản. Kể từ đầu năm đến nay, ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ đã bị khủng hoảng tài chính "quật" cho tơi tả. Với việc doanh số bán xe trong tháng 10 của Mỹ tụt xuống mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua, và dự đoán sẽ tồi hơn do khủng hoảng tài chính, ba đại gia trên đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, mà trƣớc mắt là cạn kiệt tiền mặt. Việc nước Mỹ lâm vào suy thoái đang tạo ra nhiều khó khăn cho người dân. Ảnh: motorhomefun.co.uk. Chrysler từ ngày 18/12 đã ngừng hoàn toàn hoạt động sản xuất tại khu vực Bắc Mỹ. Chính phủ Mỹ đang cân nhắc kế hoạch cho GM và Chrysler, hai tập đoàn nguy ngập nhất, "vay nóng" 14 tỷ đôla, đƣợc trích từ nguồn hỗ trợ 700 tỷ đôla dành cho việc mua nợ xấu nhà băng. Theo ƣớc tính của các nhà kinh tế, nếu các công ty đƣợc coi là biểu tƣởng của nền công nghiệp xe hơi Mỹ phá sản, sẽ có thêm khoảng 2,5 triệu lao động mất việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ từ đó cũng sẽ leo thang với tốc độ chóng mặt. +) Theo thống kê tính đến tháng 5/2009, đã có đến 7.514 doanh nghiệp của Mỹ nộp đơn xin phá sản. Tính trung bình, mỗi ngày trong tháng có 376 doanh nghiệp xin Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 10 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà phá sản. Đây là mức cao nhất kể từ khi Luật Phá sản đƣợc thay đổi và có hiệu lực hồi tháng 10 năm 2005. +) Tổng số ngân hàng Mỹ đóng cửa trong năm 2009 lên tới 123. Những ngân hàng bị đóng cửa bao gồm Century Bank, Federal Savings Bank, Orion Bank và ngân hàng Pacific Coast National Bank.. Khách hàng của những ngân hàng bị đóng cửa đƣợc bảo hiểm. Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi, cơ quan đã bảo hiểm tiền gửi khách hàng từ thời Đại Khủng hoảng, hiện bảo hiểm tài khoản tiền gửi khách hàng lên tới mức trần 250 nghìn USD. Khách hàng của những ngân hàng bị đóng cửa sẽ tiếp tục tiếp cận với tài khoản của họ thông qua sử dụng thẻ ATM hoặc thẻ ghi nợ. Trong 4 năm tới, Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi tính toán tổng số vụ sụp đổ của các ngân hàng sẽ khiến tập đoàn thiệt hại 100 tỷ USD. Số lƣợng các ngân hàng Mỹ đóng cửa trong năm 2009 nhƣ vậy vẫn thấp hơn nhiều so với con số 534 ngân hàng của năm 1989. _Theo Cơ quan thống kê chuyên cung cấp các số liệu về phá sản của Mỹ (AACE), con số nêu trên bao gồm cả những công ty xin bảo hộ phá sản cũng nhƣ những cá nhân đang hoạt động kinh doanh. Dự báo, tỷ lệ phá sản sẽ tiếp tục tăng cao trong cả năm 2009 với con số ƣớc tính đạt 1,5 triệu vụ và dừng lại ở năm 2010 với 1,6 triệu vụ. _Suy thoái kinh tế trên thế giới đã tác động đến hoạt động kinh tế ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp (DN), nhất là doanh ngiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn và đang đứng trƣớc bờ vực phá sản. +) Theo số liệu điều tra tại 108 Tổng công ty 90, 91 của Công ty tƣ vấn Mekong, số nợ phải thu tồn đọng tính đến hết năm 2006 là 2.272 tỉ đồng, chiếm 4,7% Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 11 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà tổng số nợ phải thu. Nợ phải trả tồn đọng là 21.904 tỉ đồng, chiếm 13,7% tổng nợ phải trả. Riêng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc, nợ quá hạn (nợ xấu) lên tới 10.046 tỉ đồng. Nếu tính cả ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển, tổng số nợ xấu lên đến 13.659 tỉ đồng. Còn theo số liệu ƣớc tính của các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB, nợ xấu của các DN VN vào khoảng 6,2 tỉ USD, tức là chiếm hơn 13% GDP cả nƣớc. +) Cho đến cuối năm 2006, theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, các DNNN mới xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nƣớc với tổng số tiền là 314,91 tỉ đồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỉ đồng, chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản đảm bảo, sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng. Trong số DN đã CPH, có khoảng 2.000 DN có nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị DN. +) Theo Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) thì số nợ phải trả của DNNN thƣờng gấp 1,2 -1,5 lần vốn nhà nƣớc tại DN, thậm chí có nhiều DN nợ gấp vài lần đến hàng chục lần vốn chủ sở hữu. Số nợ phải thu cũng chiếm từ 50-60% vốn chủ sở hữu, đặc biệt nợ khó đòi chiếm đến 15-20% lợi nhuận hàng năm, nhƣng lại không đƣợc ghi đầy đủ trong sổ sách kế toán DN. Đến thời điểm này, việc xử lý các khoản nợ tồn đọng của khối DNNN mà Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nƣớc đƣa ra biện pháp vẫn chủ yếu là giãn nợ, khoanh nợ. Riêng các DNNN hiện nay, thực trạng nợ quá hạn với các ngân hàng thƣơng mại theo các nhóm chủ yếu sau đây: Các TCT xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải, đây là nhóm DN có số nợ quá hạn lớn nhất, kéo dài nhất và nan giải đối với các ngân hàng thƣơng mại. Số nợ vốn vay này tập trung chủ yếu ở các ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc, nhƣ: Ngân hàng Công thƣơng VN, Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển VN… Số nợ của các TCT này ƣớc tính hiện nay lên tới trên 12.300 tỷ đồng, chủ yếu là nợ xấu, đã đƣợc các ngân hàng thƣơng mại xử lý dự phòng rủi ro đƣa ra theo dõi ngoài bảng. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 12 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà  Một số TCT xây dựng cũng có số nợ xấu khá lớn, thuộc một số bộ, ngành và địa phƣơng khác nhau. Số nợ xấu của khối DN này ƣớc tính cũng lên tới trên 2.000 tỷ đồng.  Các DN xuất nhập khẩu, thƣơng mại, dịch vụ, công trình giao thông, xây dựng, chế biến nông sản, may mặc, cung ứng vật tƣ nông nghiệp, in ấn và bao bì, mía đƣờng,… thuộc địa phƣơng. nợ xấu của khối DN này ƣớc tính cũng lên tới 2.500–3.000 tỷ đồng. +) Một nửa doanh nghiệp dệt may VN có thể phá sản sau 2 năm nữa khi gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO). Đó là nhận định của hãng tin kinh tế, tài chính uy tín Bloomberg (Mỹ). Nhận định này căn cứ vào sự lo lắng của các nhà lãnh đạo các công ty dệt may VN và các đối tác nƣớc ngoài khi VN gia nhập WTO. Ngành dệt may VN mang về số lƣợng ngoại tệ nhiều thứ hai, chỉ đứng sau dầu thô, khoảng 3 tỷ USD. Ƣu thế của ngành dệt may VN trong nhiều năm qua là giá nhân công thấp. Tuy nhiên, ƣu thế này sẽ không kéo dài mà sớm trở thành quá khứ. Công nhân dệt may hiện nay thu nhập khoảng 100 USD (gấp đôi mức lƣơng tối thiểu) nhƣng nhiều công nhân may đã bỏ nghề chuyển sang các khu vực khác nhƣ ngân hàng, khách sạn có mức thu nhập cao hơn. Sự thiếu hụt triền miên công nhân may ở các khu công nghiệp ở TP.HCM là một dẫn chứng. Thực tế này cho thấy ngành dệt may VN và TP.HCM phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt, VN lại thiếu nguồn nguyên liệu tại chỗ, thiếu ngành công nghiệp phụ trợ nên ngành dệt may VN phải nhập khẩu hầu hết nguyên liệu, phụ liệu. Trong khi đó, Trung Quốc có thể tìm nguồn nguyên liệu, phụ liệu ngay trong nƣớc. Trong nƣớc thì ngƣời lao động không còn thiết tha với ngành dệt may. Còn đối với các đối thủ thì ƣu thế về chi phí nhân công thấp không còn, ngành công nghiệp phụ trợ lại yếu. Đó là do những căn cứ cho thấy sự thua kém trong cuộc cạnh tranh khốc liệt sắp tới. Đó cũng là căn cứ báo động sự phá sản hàng loạt của doanh nghiệp dệt may VN sắp đến. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 13 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà CHƢƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN 1) Phá sản là gì? _ Thuật ngữ "Phá sản" thƣờng đƣợc sử dụng để chỉ những chủ thể bị lâm vào tình trạng hỗn loạn về tài chính và không còn khả năng thanh toán các khoản nợ. Có nhiều mức độ phá sản khác nhau, bao gồm từ tình trạng bị mất khả năng thanh toán tạm thời cho đến những trƣờng hợp chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp với tƣ cách một thực thể kinh doanh. 2) Các tác động của phá sản: _ Xét tổng thể, các tác động của phá sản là tiêu cực dƣới các mặt sau:  Về mặt kinh tế: Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn đến những tác động tiêu cực. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lƣợng bạn hàng ngày càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng domino" - phá sản dây chuyền.  Về mặt xã hội: Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về mặt xã hội bởi nó làm tăng số lƣợng ngƣời thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí các tội phạm.  Về mặt chính trị: Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị. Nhƣ vậy, xét ở ba mặt trên, phá sản với tính cách là một hiện tƣợng xã hội tiêu cực cần đƣợc hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa. Để hạn chế các tác động tiêu cực, phá sản cần phải đƣợc coi là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của chính phủ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Yêu cầu này cần phải đƣợc thể hiện một cách nhất quán trong pháp luật phá sản qua các nội dung nhƣ: tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, vấn đề hồi phục doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thứ tự ƣu tiên thanh toán các khoản nợ khi tuyên bố phá sản… Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 14 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà 3) Đặc điểm của phá sản:  Phá sản là thủ tục thanh toán nợ đặc biệt.  Thanh toán theo danh sách chủ nợ đến hạn và chƣa đến hạn.  Thanh toán nợ trên cơ sở giá trị tài sản cò lại của doanh nghiệp.  Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp.  Chế tài đƣợc áp dụng đối với ngƣời quản lý, điều hành doanh nghiệp (cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp từ 1 – 3 năm) 4) Phân loại phá sản: _ Thông thƣờng có 3 cách phân loại chủ yếu sau:  Phá sản trung thực và phá sản gian trá.  Phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc.  Phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân. a) Phá sản trung thực và phá sản gian trá: _ Phá sản trung thực: nguyên nhân phá sản doanh nghiệp là do năng lực cạnh tranh, quản lý, điều hành yếu kém dẫn đến kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ ngoài mong muốn của chủ doanh nghiệp. _Phá sản gian trá: tình trạng mất khả năng thanh toán nợ là giả tạo do chủ doanh nghiệp tạo ra nhằm lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ. Ví dụ: Các doanh nghiệp gian lận trong việc ký kết hợp đồng, chuyển giao, tẩu tán tài sản, cố tình báo cáo sai sự thật hoặc đƣa ra những thông tin không trung thực để qua đó tạo ra lý do phá sản. Trong trƣờng hợp này pháp luật phá sản của hầu hết các nƣớc trên thế giới đều coi đây là một hành vi cạnh tranh nguy hiểm và quy định hình thức xử lý nghiêm khắc về mặt hình sự. Việc phân loại có ý nghĩa khi xác định thái độ đối xử của Pháp luật đối với doanh nghiệp mắc nợ. b) Phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc: _Phá sản tự nguyện: do chủ doanh nghiệp mắc nợ tự đề nghị gửi đơn yêu cầu tuyên bố phá sản khi nhận thấy doanh nghiệp của mình hoàn toàn mất khả năng thanh Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 15 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ. Trƣờng hợp này đƣợc pháp luật phá sản ở các nƣớc khuyến khích. _Phá sản bắt buộc: đƣợc thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ nợ, ngƣời lao động nằm ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp. c) Phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân: _Pháp luật phá sản của một số nƣớc nhƣ Liên bang Nga, Mỹ, Úc … điều chỉnh phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân. Luật phá sản của Việt Nam chỉ áp dụng cho daonh gnhiệp, hợp tác xã. Cá nhân lâm vào tình trạng phá sản thì giải quyết theo thủ tục đòi nợ dân sự. -------------------------------------------- CHƢƠNG III : LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 ĐÃ CÓ NHỮNG SỬA ĐỔI TIẾN BỘ. Ngày 6-7, Văn phòng Chủ tịch nƣớc đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nƣớc công bố Luật Phá sản. Luật này khắc phục những bất cập của Luật Phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-1994. 1) Nhƣ̃ng quy điṇh chung : Nhìn chung, so với Luâṭ Phá sản doanh nghiêp̣ 1993, Luâṭ phá sản năm 2004 xác định thời điểm phá sản sớm: ngay khi doanh nghiêp̣, hơp̣ tác xa ̃không có khả năng thanh toán nơ.̣ Việc xác định sớm tình trạng phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu xác định tình trạng này muộn sẽ có rất ít cơ hội thành công, cho dù đó là thủ tục thanh toán hay thủ tục phục hồi. Luật phá sản năm 2004còn quy định cụ thể thủ tục phá sản , thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, thủ tục thanh lý tài sản các khoản nợ và tuyên bố doanh nghiệp , hợp tác xã bị phá sản (Điều 5). Không chỉ thế , luâṭ còn qui điṇh rõ về thẩm quyền tiến hành thủ tuc̣ phá sản của Toàn án nhân dân các cấp (Điều 7). Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 16 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà 2) Nộp đơn và thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản : Để phù hơp̣ với nền kinh tế nhiều thành phần , bô ̣luâṭ mở rộng thành phần những ngƣời có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: đó là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nƣớc, cổ đông các công ty cổ phần và thành viên của công ty hợp doanh. Đồng thời Luật cũng quy định rõ nghĩ vụ nộp đơn yêu cầu mở thục tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15). Bổ sung các quy định mới về tạm ứng chi phí phá sản, về những trƣờng hợp trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, về thủ tục chuyển việc giải quyết phá sản cho Tòa án có thẩm quyền và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền (các Điều 21,26). Để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản năm 2004 cũng đã bổ sung các quy định về việc tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cụ thể là việc thi hành án dân sự, tạm đình chỉ giải quyết các vụ án đòi tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của các chủ nợ có bảo đảm (Điều 27). 3) Nghĩa vụ về phá sản: Luâṭ Phá sản năm 2004 quy điṇh các căn cứ để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 33). Đối với doanh nghiệp đã đƣợc Nhà nƣớc áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhƣng vẫn không phục hồi đƣợc mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì luâṭ qui điṇh phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã đƣợc áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nƣớc trƣớc khi thực hiện việc phân chia tài sản (Điều 36). Luật phá sản năm 2004 không ƣu tiên thanh toán các khoản nợ thuế nhƣ Luật phá sản doanh nghiệp hiện hành, mà coi đó là một trong các khoản nợ không có bảo đảm nhƣ các khoản nợ của các chủ nợ không có bảo đảm khác, thứ tự thanh toán nhƣ nhau (Điều 37). Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 17 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà Trong trƣờng hợp đối tƣợng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của ngƣời có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đƣa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 38). 4) Các biện pháp bảo toàn tài sản : Căn cƣ́ vào Luâṭ Phá sản mới này , ta có thể xác định các giao dịch bị coi là vô hiệu và tuyên bố giao dịch vô hiệu. Các quy định này nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã cho các giao dịch đƣợc thực hiện trƣớc khi tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( Điều 43 và Điều 44). Bổ sung quy định về đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực. Thực tế cho thấy khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thông thƣờng họ đều có những hợp đồng đang có hiệu lực nhƣng chƣa thi hành hoặc đang thi hành và do đó, cần đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu xét thấy việc đình chỉ có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Vì vậy, tại Điều 45 có quy định theo hƣớng: những hợp đồng không có lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì bị đình chỉ. 5) Thủ tục phục hồi , thủ tục thanh lí : Luật Phá sản năm 2004 quy định cụ thể về điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; nội dung phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh; xem xét phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh trƣớc khi đƣa ra Hội nghị chủ nợ; xem xét, thông qua, công nhận nghị quyết về phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh; giám sát, thực hiện, thời hạn thực hiện phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh; sửa đổi, bổ sung phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh; đình chỉ và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 18 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà Luật phá sản năm 2004 cũng bổ sung quy định chi tiết về nội dung phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh. Việc xem xét, công nhận, giám sát thực hiện phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh đƣợc quy định rất chặt chẽ, cụ thể và trong thời hạn thực hiện phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh (3 năm ) các bên có quyền thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh (Điều 75). Theo quy định về thủ tục thanh lý tài sản thì có 3 trƣờng hợp áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, cụ thể là Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trƣờng hợp đặc biệt (Điều 78); Quyết định mở thủ tục thanh lý khi Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79) và Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất (Điều 80). 6) Tuyên bố doanh nghiêp̣ , hơp̣ tác xã bi ̣ phá sản: Trong luâṭ này có quy định mới về việc Quyết định tuyên bố doanh nghiệp , hợp tác xã bị phá sản trong trƣờng hợp đặc biệt (Điều 87). Trong trƣờng hơp̣ này , các doanh nghiêp̣ , hơp̣ tác xa ̃không còn khả năng thanh toán bất cƣ́ chi phí gì se ̃đƣơc̣ tuyên bố phá sản, không phải qua thủ tuc̣ phƣ́c tap̣. Ngoài ra Luật Phá sản năm 2004 còn bổ sung quy định về trƣờng hợp đối với chủ doanh nghiệp tƣ nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản họ không đƣợc miễn trừ nghĩa vụ về tài sản đối với chủ nợ chƣa đƣợc thanh toán nợ, trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 90). Điều này nhằm đảm bảo quyền lơị cho chủ nơ.̣ -------------------------------------------- CHƢƠNG IV: THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM _Thực tế, trong xã hội hiện nay luật phá sản ít đƣợc áp dụng hiệu quả. Việt nam là một nƣớc đang phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế, luật phá sản còn mang nhiều khó khăn, bất cập trong cơ chế quản lí của nó. Một Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 19 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà trong những lí do cơ bản của sự bất cập này là tính mục đích của luật phá sản chƣc thể hiện rõ ràng. Không riêng gì ở Việt Nam, hầu hết các nƣớc, việc ban hành luật này, mục đích chính là khôi phục hoạt động cho các doanh nghiệp khi đã và đang rơi vào tình trạng phá sản. _Tính bất cập còn thể hiện ở chỗ mà chúng ta dễ nhận thấy nhất. Đó là sự chênh lệch quá lớn giữa số doanh nghiệp tuyên bố phá sản với số lẽ ra phải tuyên bố phá sản. Bên cạnh đó đã không ít trƣờng hợp doanh nghiệp đã đùn đẩy trách nhiệm, trốn tránh nghĩa vụ dẫn đến việc làm nhiễu thông tin gây khó khăn trong việc tuyên bố phá sản mà trong luật phá của ta lại chƣa đề cập tới, thậm chí ngay trong Dự luân hiện nay cũngchƣa có quy định cụ thể về việc phải xử lý nghiêm các hành vi "cản trở tuyên bố phá sản", "phá sản trá hình" hay "phá sản để vụ lợi". _Theo thống kê, hiện cả nƣớc có 2,5 triệu hộ kinh doanh cá thể có phạm vi và quy mô kinh doanh không kém hơn HTX và các loại DN khác là mấy. Sự phát triển cũng nhƣ sụp đổ của hệ thống này không thể không gây nên những ảnh hƣởg nhất định trong đời sống kinh tế. Bỏ qua đối tƣợng này, cũng cónghĩa là Pháp luật đã có sự phân biệt đối xử trong các thành phần kinh tế - điều mà ở một văn bản Nhà nƣớc đều khẳng định sự bình đẳng. Vì thế, Luật phá sản doanh nghiệp sửa đổi nếu chỉ đóng khung trong các doanh nghiệp sẽ là bất hợp lý với thực tế của đời sống kinh tế thị trƣờng với khả năng phát triển các hộ kinh doanh cá thể chắc chắn sẽ ngày một nhiều hơn. Bên cạnh đó, luật quy định quá khắt khe, chủ doanh nghiệp tuyên bố phá sản phải có trách nhiệm tiếp tục trả các món nợ còn thiếu sau khi đã bán toàn bộ tài sản hiện có trong kinh doanh và trong dân sự. “Đây là chế tài quá cứng nhắc”. Quy định nhƣ vậy thì những doanh nhân dù có khả năng, nhiệt huyết đến mấy cũng không hăng hái trong việc kinh doanh nữa vì chẳng ai muốn tiếp tục kinh doanh để rồi khi có lãi lại cho ngƣời khác hƣởng. _Cũng song song với thực trạng phá sản hiện nay, các Tòa án thụ lí đơn phá sản rất ít. Theo báo cáo tổng kết ta có số lƣợng vụ việc phá sản qua các năm nhƣ sau:  Năm 1994: Tòa án nhân dân địa phƣơng thụ lý 05 vụ việc liên quan tới yêu cầu phá sản. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 20 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà  Năm 1995: Số đơn yêu cầu tuyên bố phá sản có tăng hơn, thành phần cũng đa dạng hơn, theo thống kê đã có 17 tỉnh thành phố thụ lý 27 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó có 9 doanh nghiệp tƣ nhân, 8 công ty TNHH, 6 doanh nghiệp nhà nƣớc, 1 công ty cổ phần và 2 hợp tác xã, 1 doanh nghiệp thành lập theo luật đầu tƣ nƣớc ngoài.  Năm 1996: Tòa án đã thu lý đƣợc 22 đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản, đã thực hiện xong 11 vụ trong đó có 7 doanh nghiệp tƣ nhân, 2 công ty TNHH, 2 doanh nghiệp Nhà nƣớc trong đó các vụ đã giải quyết có 4 quyết định của tòa án kinh tế cấp tỉnh bị khiếu nại, kháng nghị, tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao đã thu lý và giải quyết 4 vụ ( hủy 3 cải sửa 1 vụ).  Năm 1997 tổng số đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà toà án thụ lý là 22.  Năm 1998 chỉ có 15/61 tỉnh thành phố thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp với tổng số 23 trƣờng hợp, trong đó chỉ có 3 trƣờng hợp đƣợc tòa án tuyên bố phá sản ( 2 doanh nghiệp Nhà nƣớc 1 doanh nghiệp tƣ nhân).  Năm1999 tòa án nhân dân đã thụ lý 22 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, ra quyết định tuyên bố phá sản 7 doanh nghiệp. Riêng toàn án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 5 vụ giải quyết 3 vụ.  Năm 2000 Tòa án nhân dân các địa phƣơng đã thụ lý đƣợc 8 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ( cộng 1 đơn yêu cầu từ năm 1999 chuyển sang) tòa án đã ra quyết định phá sản 8 doanh nghiệp.  Năm 2001 toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý đƣợc 6 vụ, số vụ cũ còn lại 4 vụ, cộng phải giải quyết là 10 vụ, đã giải quyết xong 6 vụ.Năm 2002 thì toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý 8 vụ đã giải quyết xong 7 vụ ( trong đó 1 vụ không mở thủ tục 1 vụ tạm đình chỉ hòa giải thành, 5 vụ tuyên bố phá sản )  Năm 2005 tòa án nhân dân tối cao tổng kết thì năm 2005 các Tòa đã giải quyết 14 vụ trong đó mới thụ lý đƣợc 11 vụ và có 3 vụ của năm 2004 chuyển qua. Các tòa mới chỉ giải quyết đƣợc 1 vụ đạt 1, 19% còn lại 13 vụ chƣa giải quyết. Nhƣ vậy lƣợng đơn xin phá sản gởi Tòa án tăng hơn 2004 ( 2004 chỉ thụ lý 5 vụ ). Thực tiễn áp dụng Luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 21 NHÓM KFC Giáo viên hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Nam Hà  Năm 2006 ngành Tòa án có 48 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, trong đó tuyên bố phá sản đƣợc 11 doanh nghiệp, nhiều trƣờng hợp tuyên bố phá sản doanh nghiệp nhƣng Tòa án không thể ra quyết định mở thủ tục phá sản vì không đủ tài liệu để tiến hành kiểm toán xem có đúng là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay không. Do đó giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản còn gặp nhiều khó khăn trở ngại.  Năm 2007 Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án đã thụ lý đƣợc 175 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, trong đó quyết định mở thủ tục phá sản là 164 đơn. Quyết định không mở thủ tục phá sản là 10 đơn. Trong những trƣờng hợp mở thủ tục phá sản có 28, ra quyết định tuyên bố phá sản trong trƣờng hợp đặ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfThực tiễn áp dụng luật phá sản ở Việt Nam hiện nay.pdf
Tài liệu liên quan