Tóm tắt Luận văn Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm được thể hiện trong thành ngữ chỉ

mới được chú ý khoảng mươi năm trước đây. Tuy vấn đề này đã được đề cập

đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc được trình bày rải

rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chưa có một tác phẩm chuyên

khảo nào dành cho vấn đề này. Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành

ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ như Lâm Thị

Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng

Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trường Phúc với luận văn Đặc điểm

của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng

Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảmtrong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có

chứa bộ phận cơ thể người) (2006).

pdf15 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 18/12/2020 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt Luận văn Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH ĐỐI CHIẾU NHÓM THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2009 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác, trừ phần trích dẫn, tham khảo có ghi xuât xứ. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mỹ Hạnh LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội. Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến GS. TS. Nguyễn Đức Tồn, người thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn. Mặc dù tôi đã rất cố gắng viết luận văn này song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những góp ý quí báu của quí thầy cô và các bạn. Học viên Nguyễn Thị Mỹ Hạnh MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ, ngữ và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng như đặc trưng riêng cho ngôn ngữ đó. Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của mỗi ngôn ngữ, bởi nó phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc bản ngữ. Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn được lưu giữ lại trước nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng là sự phản ánh sâu sắc và giầu hình ảnh chiều sâu của tư duy cũng như những tư tưởng tôn giáo, lễ giáo; những quan niệm về văn hóa và phong tục truyền thống; thậm chí là cả những thói quen thường nhật..của người bản ngữ. Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị sâu sắc. Liên bang Nga là nước anh em đã giúp đỡ Việt Nam vượt qua rất nhiều khó khăn trong cả thời chiến tranh chống Mĩ và thời bình xây dựng lại đất nước. Tiếng Nga cũng đã từng là một ngoại ngữ bắt buộc trong các trường trung học phổ thông của Việt Nam từ thế kỷ trước và hiện nay vẫn thu hút đươc nhiều sự quan tâm trong các trường chuyên ngữ và đại học chuyên ngữ. Bởi lẽ đó, đối chiếu thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt sẽ cho ta một cái nhìn toàn vẹn hơn về dân tộc Nga, những quan niệm, truyền thống, văn hóa, phong tục và quan trọng nhất là đời sống tinh thần, thế giới nội tâm của dân tộc Nga. Đồng thời qua đó chúng ta cũng lại càng hiểu rõ hơn dân tộc mình. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt Ở Việt Nam, trong giới Việt ngữ, công trình đầu tiên đề cập đến thành ngữ tiếng Viêt có lẽ là của V. Barbier, một tác giả người Pháp với cuốn Les expressions comparatives de la langue anamite (Thành ngữ so sánh tiếng Việt-Quy Nhơn, 1925). Mấy năm sau, tác giả Cẩm Giang (1933) có bài viết Phê bình sách thành ngữ của ông Bửu Cân đăng trên tờ Nam Phong (1933, số 190), đặc biệt Dương Quảng Hàm (1943) còn nêu sự khác biệt giữa tục ngữ và thành ngữ. Tuy nhiên phải đến những năm 70 của thế kỷ trước trong giới Việt ngữ mới có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến địa hạt thành ngữ. Một số công trình về từ vựng học và thành ngữ, tục ngữ bắt đầu được công bố. Năm 1978, cuốn từ điển Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực và Lương Văn Đang sưu tầm được xuất bản đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ. Khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học đã đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và những đặc trưng văn hóa - dân tộc của thành ngữ. Các tác giả có những đóng góp quan trọng là Hoàng Văn Hành (1980), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thái Hòa (1982), Phan Xuân Thành (1980, 1983), Nguyễn Đức Tồn (1988), Nguyễn Văn Khang (1994). Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm được thể hiện trong thành ngữ chỉ mới được chú ý khoảng mươi năm trước đây. Tuy vấn đề này đã được đề cập đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc được trình bày rải rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chưa có một tác phẩm chuyên khảo nào dành cho vấn đề này. Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ như Lâm Thị Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trường Phúc với luận văn Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảm trong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể người) (2006). Tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn Специфика лексико - семантического поля названий частей человеческого тела (1988) đã đề cập đến đặc trưng tư duy dân tộc của người Nga và người Việt thông qua các trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người, nhưng không dành cho việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm của hai dân tộc. Nguyễn Văn Hòa với luận án Tiến sĩ tiếng Nga Русские фразеологии, обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи во Въетнамском языке (2008) đã nghiên cứu thành ngữ Nga biểu thị trạng thái nội tâm của con người chủ yếu thông qua biểu trưng душa (tâm hồn) và cердце (trái tim) và những phương thức chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Việt. Như vậy cho đến nay việc đối chiếu thành ngữ Nga - Việt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện các trạng thái tâm lí tình cảm vẫn đang còn là một địa hạt bỏ ngỏ. 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân loại toàn bộ thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm của con người như vui, buồn, yêu, giậntrong tiếng Nga và tiếng Việt, sau đó đối chiếu để tìm những điểm giống và khác nhau trong cách tư duy dân tộc khi giao tiếp bằng thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận văn là đi sâu tìm hiểu những nét đặc trưng về cấu trúc và ngữ nghĩa của các thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt, từ đó tìm ra nét tương đồng và sự khác biệt trong sự tri nhận thế giới, quan điểm, tư duy và các đặc trưng văn hóa của hai dân tộc để có thể hiểu đúng cũng như sử dụng chính xác các thành ngữ trong giao tiếp. Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Các quan niệm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Nga; - Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tương đương; - Thành ngữ biểu hiện các trạng thái tâm lý tình cảm xét trên phương diện ngôn ngữ học, tâm lý học và tiêu chí nhận diện thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm. - Phân loại thành ngữ tâm lý tình cảm theo các phạm trù và sắc thái tình cảm. - Tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ tâm lý tình cảm. - So sánh - đối chiếu các nguồn biểu trưng trạng thái tâm lí tình cảm trong hai ngôn ngữ để thấy được đặc trưng văn hóa - dân tộc của hai dân tộc. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu Phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp đối chiếu tương phản và phương pháp phân tích thành tố trực tiếp. Phương pháp đối chiếu tương phản giúp chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hình thức, cấu tạo và cách sử dụng thành ngữ của hai ngôn ngữ. Còn phương pháp phân tích thành tố trực tiếp chỉ rõ cấu tạo bên trong của thành ngữ theo tầng bậc và khả năng kết hợp của các thành tố trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ. Luận văn sử dụng các tài liệu chính sau đây: - Về tiếng Nga: Р. И. Яранцев, Словарь - справочник по Русской фразеологии для иностранцев và А. И. Молотков (1986) Фразеологический словаръ Рус. языка - Về tiếng Việt: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 1997), Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, 1993),vv... 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài Thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm lý tình cảm là những thành ngữ diễn tả “sự hoạt động của nội tâm”, việc thể hiện cảm xúc của mình qua thành ngữ là biểu hiện sự tự nhận thức và khả năng liên hội bản thân với giới tự nhiên. Qua việc đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt, luận văn hi vọng sẽ góp phần giúp nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thành ngữ - một đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa và giá trị sử dụng đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những đặc trưng văn hoá – dân tộc của thành ngữ, cung cấp những thông tin về các yếu tố văn hóa, dân tộc và tâm lý xã hội của dân tộc Nga trong sự so sánh đối chiếu với dân tộc Việt. Các kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nga nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng đạt được hiệu quả cao hơn, đồng thời cũng giúp ích cho quá trình biên dịch và phiên dịch thành ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt và ngược lại. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chương: - Chương 1: Một số cơ sở lý luận về thành ngữ và thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt - Chương 2: Cấu trúc của thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm tiếng Nga và tiếng Việt - Chương 3: Ngữ nghĩa của thành ngữ biểu hiện trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt CHƢƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt Thành ngữ tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tư cách là đơn vị từ vựng được dùng làm chất liệu để tạo ra câu thực hiện chức năng giao tiếp. Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, thành ngữ trong tiếng Việt là cụm từ cố định (CTCĐ), hay ngữ cố định – đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương như từ xét cả về chức năng định danh và chức năng tham gia tạo câu. Hai đặc tính cơ bản của CTCĐ là tính cố định về cấu trúc và tính thành ngữ về nội dung ngữ nghĩa. Tuy vậy, không phải CTCĐ nào mang hai đặc tính này cũng được gọi là thành ngữ. Chỉ có loại cụm từ cố định nào hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, đồng thời nghĩa của nó phải có tính hình tượng và gợi tả thì mới được coi là thành ngữ . Hơn nữa, nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại (17;8). Như vậy, khái niệm về mặt biểu hiện nghĩa và mặt kết cấu hình thái của thành ngữ như nêu trên lại dễ gây nhầm lẫn với khái niệm đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ. Theo Nguyễn Thiện Giáp, một tổ hợp từ được coi là mang tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là hoàn toàn mới, khác với tổng số ý nghĩa của các từ thành phần tạo thành. Tuy nhiên, theo một số nhà ngôn ngữ học khác thì khái niệm trên chưa thực sự rõ ràng. Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng yếu tố tương đương (giữa hai ngôn ngữ) để định nghĩa tính thành ngữ. Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ mà khi dịch toàn bộ tổ hợp thì người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố - yếu tố đó chỉ tương đương với từ ấy chỉ khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong một trật từ nhất định). Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác. Hay thường gặp nhất là cách hiểu như sau: Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c hợp thành X = a+b+c. Nếu ý nghĩa của X không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c thì kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ (4;154). Đây là những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu các cụm từ cố định và từ ghép vì chúng đều có cấu trúc ổn định và chặt chẽ, đều có tính thành ngữ và đều là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ. Điều này cho thấy rõ ràng rằng tính thành ngữ có các mức độ cao thấp khác nhau trong các tổ hợp cấu trúc khác nhau vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đường và phương cách khác nhau (4;154). Vì vậy một đơn vị ngôn ngữ - hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, tồn tại dưới dạng làm sẵn, được cấu tạo với số lượng thành tố ổn định, không thay đổi và có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó – là đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ. Tất cả những đơn vị có đầy đủ những đặc điểm như trên sẽ mang tính thành ngữ - một tính chất cú pháp, ngữ nghĩa chung giống nhau cho một loạt các đơn vị ngôn ngữ. Còn thành ngữ lại là tên gọi của một tổ hợp từ thuộc đơn vị từ vựng. Một mặt, các đơn vị này mang tính thành ngữ, mặt khác mang tính cố định, có những đặc điểm hình thức và nội dung riêng biệt. Để hiểu được ý nghĩa của thành ngữ, chúng ta không chỉ dựa vào ý nghĩa của các từ thành phần cấu tạo thành ngữ và cấu trúc ổn định của thành ngữ mà còn phải dựa vào tình huống giao tiếp, đối tượng sử dụng, những biến đổi về mặt xã hội hay thói quen sử dụng thành ngữ của địa phương..Thành ngữ là cách nói bóng bẩy, gợi tả có hình tượng về một sự vật, hiện tượng khách quan. Thành ngữ là cách diễn đạt ý tưởng mang tính đặc trưng của ngôn ngữ. Về mặt cấu trúc, phần lớn thành ngữ không thành câu với những từ ngữ mặc dù có thể phân tích nhưng không thể tách rời. Về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thủy. Thành ngữ có ý nghĩa độc lập với từng nghĩa riêng lẻ của mỗi từ ngữ trong thành ngữ. Thành ngữ cũng có các hình thức mô tả, so sánh và ẩn dụ như phú, tỷ, hứng như trong ca dao hoặc tục ngữ. Các hình thức tu từ này không chỉ làm cho thành ngữ mang đậm đặc trưng hình tượng – một đặc trưng cơ bản của thành ngữ mà còn hỗ trợ, liên kết với nhau làm cho ý nghĩa của thành ngữ vừa sâu, vừa rộng, vừa bóng bẩy lại vừa gợi tả. Nó làm cho những hình ảnh, hiện tượng hay những sự vật cụ thể được mô tả, so sánh và ẩn dụ một cách bay bổng hơn. Nó giúp cho một ý tưởng thông thường được diễn tả bằng một lối rất riêng, rất hình tượng và mang tính văn hóa. Theo quan niệm của Nguyễn Công Đức (7) thì thành ngữ là “những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh – tức là gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy. Ngoài những đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, có tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc”. Nếu tạm thời chấp nhận khái niệm tính thành ngữ và các đơn vị mang tính thành ngữ như đã nêu trên, trong tiếng Việt người ta phân biệt các loại ngữ như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ngữ tự do và từ ghép. Đó là những đơn vị ngôn ngữ hay những tổ hợp từ đáp ứng đầy đủ ba điều kiện cần và đủ cho một đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ: là một tổ hợp từ, có nghĩa hình tượng, có cấu trúc cố định ở một mức độ nào đó. Vậy làm sao có thể nhận diện được những đơn vị ngôn ngữ trên một cách rõ ràng? Những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng là gì? Đây là câu hỏi đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và giải đáp. 1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép Nói chung, giới hạn sẽ gặp ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép. Giới hạn cao nhất của thành ngữ là câu. Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị giáp ranh, nằm giữa hai đơn vị này. Trước đây, trong việc phân biệt giữa từ ghép và thành ngữ đã tồn tại nhiều quan niệm rất khác nhau. Trước hết, thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị từ vựng có sẵn và có chức năng định danh. Hai đơn vị ngôn ngữ này trong tiếng Việt đều thuộc cụm từ cố định nhưng chúng vẫn được phân biệt nhau ở thành tố cấu tạo, ý nghĩa và cấu trúc (4;154). Từ ghép được cấu tạo dựa trên phương thức tổ hợp hoặc ghép các tiếng lại mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có mối quan hệ về nghĩa với nhau (4;145). Đây là đơn vị tiếng Việt có ít nhất từ hai thành tố cấu tạo trở lên biểu hiện khái niệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng thái. Nghĩa của từ ghép diễn đạt một khái niệm một cách hoàn chỉnh. Trong quá trình phát triển, do nhu cầu giao tiếp, từ ghép được sử dụng một cách phổ biến và thông dụng với một kết cấu vững chắc và ý nghĩa phong phú. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp thành tố cấu tạo (hoặc hình vị cấu tạo nên từ ghép) lại là những yếu tố không có nghĩa hoặc không rõ ràng về nghĩa. Trong trường hợp các thành tố cấu tạo nên từ ghép có nghĩa thì nghĩa của từ ghép có thể là nghĩa tổng hợp từ các khái niệm biểu trưng của các thành tố (nhà cửa, đường sắt, xe đạp...) còn trong trường hợp một hay đa số các thành tố cấu tạo đều không rõ nghĩa hay bị mờ nghĩa thì từ ghép sẽ chỉ mang một ý nghĩa biểu niệm hoặc biểu vật duy nhất (chợ búa, bếp núc, gà qué, cỏ rả). Giống như từ ghép, thành ngữ là cụm từ cố định luôn tồn tại mối quan hệ phi cú pháp giữa các thành tố. Mặt biểu hiện nghĩa của thành ngữ là một mặt rất phức tạp. Theo một số nhà nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, một bộ phận thành ngữ tiếng Việt cũng có tính đa nghĩa nhưng trong số các nghĩa đó, nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả. Nghĩa này có tính khái quát tượng TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Lâm Thị Hòa Bình (2000), Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn Ths. Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG HN. 2. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 3. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội. 4. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội. 5. Nguyễn Đức Dân (1996), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, (C3) 6. Nguyễn Văn Độ, Tìm hiểu mối liên hệ giữa Ngôn ngữ - văn hóa, NXB ĐHQGHN, Hà Nội. 7. Nguyễn Công Đức (1995), Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, Luận án PTS. Ngữ văn, HN. 8. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội. 9. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội. 10. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Xã hội, Hà Nội. 11. Hoàng Văn Hành (chủ biên) (1994), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 12. Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội - những vấn đề lí luận, NXB Khoa học Xã hội, HN. 13. Nguyễn Xuân Hòa (1992). Đối chiếu ngôn ngữ trong cách nhìn của Ngữ dụng học tương phản (Thử nghiệm trên các đơn vị thành ngữ), TC Ngôn ngữ, (1). 14. Nguyễn Xuân Hòa (1996), Đối chiếu thành ngữ Nga - Việt trên bình diện giao tiếp, Luận án PTS. Ngữ văn, HN. 15. Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Thị Hoài Nhân (1999), Các quan điểm về thành ngữ trong tiếng Nga, Nội san Ngoại ngữ, (5), Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG HN. 16. Nguyễn Lạc, Thế Anh (1978), Thành ngữ Nga – Việt, Trường ĐHSP HN I, HN. 17. Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1978), Thành ngữ tiếng Việt, NXB KHXH, HN. 18. Đức Minh, Phạm Cốc, Nguyễn Thị Xuân (1962), Tâm lý học, NXB Giáo dục, HN. 19. Triều Nguyên (2006), Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc, Tạp chí Ngôn ngữ, (5). 20. Vi Trường Phúc (2005), Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán có đối chiếu với tiếng Việt, Luận văn Ths. Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG HN. 21. Lê Quang Thiêm (1989). Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN. 22. Nguyễn Đức Tồn (1994). Tên gọi các bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với biểu trưng tâm lí tình cảm, Tạp chí Văn hóa dân gian, (3). 23. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng Văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt, NXB ĐHQG, HN. 24. Nguyễn Văn Trào (2006). Thành ngữ biểu thị tâm lí tính cảm trong tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt (Trên ngữ liệu các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể người). Trong sách: Những vấn đề Ngôn ngữ học. Khoa Ngôn ngữ học, ĐHKHXHNV - ĐHQGHN, NXB ĐHQGHN. 25. Nguyễn Ngọc Trâm (1991). Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Việt, Luận án PTS. Khoa học ngữ văn, HN. 26. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, NXB Giáo dục, HN. Tiếng Nga 27. В. В. Виноградов (1972), Рус. язык Граматическое учение о слове, Москва, Высшая школа. 28 В.Г.Гак (1977), Сопоставителъная Лексикология, Москва, Международные отношения. 29 А. И. Молотков (1986) Фразеологический словаръ Рус. языка, Москва, Рус. язык. 30 А. И. Молотков (1977) Основы фразеологии Рус. языка. Москва. Наука. 31 Нгуен Дык Тон (1988) Специфика лексико - семантического поля названий частей человеческого тела (на материале рус. и въетнамского языков), диссертации на соискание ученой степени канд. фил. наук. Москва. 32 Чыонг Донг Сан (1972) Фразеологические обороты в рус. языке и способы их передачи на Въетнамский язык, Автореферат диссертации на соискание ученой степени канд. фил. наук. Москва. 33 Нгуенъ Ван Хоа (2008), Русские фразеологизмы, обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи во Въетнамском языке, диссертация на соискание ученой степени канд. фил. наук. Ханой. 34 Н. М. Шaнский, Лексикология сов. Рус. языка, Москва Просвещение, 1972. 35 Р. И. Яранцев, Словарь - справочник по Русской фразеологии для иностранцев . Москва Изд. Московского Университета.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l2_01788_3964_2006776.pdf
Tài liệu liên quan