Đề án Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam

LỜI GIỚI THIỆU 3

Chương 1: Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ 4

1.1. Chính sách tiền tệ 4

1.2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ 5

1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ 9

1.3.1. Công cụ tái cấp vốn 9

1.3.2. Công cụ dự trữ bắt buộc 10

1.3.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở 11

1.3.4. Công cụ hạn mức tín dụng 12

1.3.5. Công cụ lãi suất 14

1.3.6. Công cụ tỷ giá. 15

Chương 2: Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16

2.1. Những đổi mới về điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1986 đến nay 16

2.2. Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 18

2.2.1. Công cụ tái cấp vốn 20

2.2.2. Công cụ dự trữ bắt buộc 21

2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở 22

2.2.4. Công cụ hạn mức tín dụng 23

2.2.5. Công cụ lãi suất 24

2.2.6. Công cụ tỷ giá. 24

2.2. Đánh gía chung về hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ 26

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 27

3.1. Định hương điều hành công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 27

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 27

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách tiền tệ 27

3.2.1.1. Công cụ tái cấp vốn 27

3.2.1.2. Công cụ dự trữ bắt buộc 28

3.2.1.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở 29

3.2.1.4. Công cụ hạn mức tín dụng 30

3.2.1.5. Công cụ lãi suất 31

3.2.1.6. Công cụ tỷ giá. 32

3.2.2. Các giải pháp khác 32

3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ 33

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

 

doc37 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 3630 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề án Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ó tác động đến lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong đó, đặc biệt là lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Trung ương tác động mạnh đến lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Song khi các công cụ trên đây hoạt động chưa có hiệu quả, thì Ngân hàng Trung ương có thể trực tiếp quy định khung lãi suất hoặc trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Để tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Trung ương thường quy định mức lãi suất “sàn” tối đa cho tiền gửi và lải suất “trần” tối thiểu cho tiền vay. Nếu nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng của tổ chức tín dụng, thì Ngân hàng Trung ương thường quy định ngược lạị: mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi và mức tối đa cho tiền vay. Ngân hàng Trung ương muốn kiểm soát được lãi suất, bời vì lãi suất có tác động mạnh đến tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động vào tăng trưởng kinh tế và giá cả. Tuy nhiên, kiểm soát lãi suất của các tổ chức tín dụng sẽ triệt tiêu cạnh tranh trong quá trình hoạt động của nó. Hiện nay, các nước phát triển đã và đang chuyển sang qúa trình tự do hoá lãi suất. Ưu điểm: Biện pháp này có ưu điểm là giúp các tổ chức tín dụng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại bỏ các dự án kém hiệu quả. Nhược điểm: Tuy nhiên quy định khung lãi suất tiền gửi hay quy định lãi suất trần và sàn làm cho tính linh hoạt của thị trường tiền tệ bị suy giảm, các tổ chức tín dụng bị động trong kinh doanh, hạn chế đầu tư. Trong bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự linh động hơn trong việc sử dụng công cụ của chính sách tiền tệ và đòi hỏi có sự sáng tạo về công cụ tiền tệ để hoàn thành các mục tiêu kinh tế. 1.3.6. Công cụ tỷ giá Tỷ giá là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung - cầu ngoại hối. Đến lượt mình, tỷ giá là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung - cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ. Chế độ tỷ giá là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá ở mỗi nước và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, song về cơ bản là chế độ tỷ giá “thả nổ” theo đó thị trường quy định những biến động của tỷ giá, hoặc ngược lại hoàn toàn là chế độ tỷ giá “cố định” theo đó nhà nước sẽ can thiệp để tỷ giá giữa đồng tiền của nước mình với đồng tiền các nước khác không đổi, hoặc là một chế độ nằm giữa hai giải pháp gốc đó. Chế độ tỷ giá “thả nối có điều tiết” là một chế độ tỷ giá nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá thả nổi tốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nó quá bất ổn định. Tuy chế độ tỷ giá cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng Chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường. Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2.1. Những đổi mới về điều hành chính sách tiền tệ từ năm 1986 đến nay Để phù hợp với quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước, đòi hỏi phải đổi mới việc xây dựng chính sách tiền tệ. Trước hết việc xác định và lựa chọn mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ đã được thực hiện phù hợp với đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của chính sách tiền tệ đã hướng vào kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổn định hệ thống tài chính. Thực tế cho thấy sự ổn định của hệ thống tài chính là điều kiện hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam trước những năm 1990 đã nằm trong tình trạng lạm phát gia tăng với tốc độ phi mã. Đồng tiền Việt Nam mất giá trầm trọng, nền kinh tế suy thoái. Thêm vào đó, sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân đã làm giảm lòng tin của dân chúng vào hệ thống tài chính và giá trị của Việt Nam đồng. Đó chính là lý do giải thích cho việc lựa chọn các mục tiêu trên của chính sách tiền tệ. Đồng thời, chính việc lựa chọn mục tiêu cho việc điều hành chính sách tiền tệ là bằng chứng cho sự hoà nhịp của hệ thống tài chính với tiến trình đổi mới đất nước. Nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ đã lựa chọn, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là quản lý và điều hành khối lượng tiền cung ứng. Đối với Việt Nam, việc quản lý, vận hành cơ chế cung ứng tiền, điều hành, kiểm soát tiền tệ đã được đổi mới từng bước theo nội dung và nguyên tắc hoàn toàn khác với cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, chỉ tiêu phát hành tiền do Chính phủ quy định và thường xuyên được dùng bù đắp cho thâm hụt chi tiêu của Chính phủ. Do đó tổng mức cung ứng tiền vượt quá tổng cầu trong nền kinh tế dẫn đến vòng xoáy lạm phát gía - lương - tiền. Việc không kiểm soát chặt chẽ khối lượng tiền cung ứng qua kênh tín dụng; chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng thấp làm cho nhu cầu tiền mặt lớn, gây khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hoà tiền mặt. Từ năm 1990, Ngân hàng Nhà nước đã cải cách mạnh mẽ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ. Đã xác định được khối lượng tiền cung ứng hàng năm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát. Đồng thời Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn, chủ động điều hành linh hoạt lượng tiền cung ứng được Chính phủ phê duyệt hàng năm. Do vậy đã cung ứng đủ phương tiện thanh toán đảm bảo sản xuất - lưu thông không bị ách tắc, kinh tế tăng trưởng, đẩy lùi lạm phát phi mã. Đặc biệt từ năm 1993, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện quản lý, điều hành hiệu quả lượng tiền cung ứng, sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và kiểm soát lạm phát ở mức một con số. Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội. Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn bởi Quốc hội, Chính phủ tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Để tư vấn cho Chính phủ trong việc quyết định các vấn đề thuộc quyền hành về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ, Chính phủ thành lập Hội đồng tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia gồm: Chủ tịch là một Phó Thủ tướng Chính phủ; Uỷ viên thường trực là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Trưởng ban vật giá Chính phủ, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và một số chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Vào những năm đầu thời kỳ đổi mới (1986 - 1990), nền kinh tế Việt Nam chưa thực sự hội nhập với nền kinh tế thế thế giới. Nền kinh tế chậm phát triển, đang phải vật lộn với lạm phát phi mã với tỷ lệ lạm phát nên tới 774,7%. Mục tiêu lúc đó được đề ra là đẩy lùi, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái bởi khủng hoảng kinh tế kéo dài. Đứng trước tình hình như vậy, Việt Nam đã mạnh dạn nâng lãi suất tiền gửi ngân hàng nên mức siêu cao để thu hút lượng tiền cung ứng về ngân hàng, đồng thời từng bước thả nổi tỷ giá hối đoái (VNĐ/USD) nhằm tạo lập quan hệ như vậy chỉ là tức thời. Đòi hỏi Việt Nam phải có những biện pháp khác tích cực hơn nữa để sử dụng chính sách tiền tệ là vấn đề sử dụng và thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước. Từ đó để hỗ trợ đầu tư, phát triển kinh tế ... Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải thực thi chính sách tiền tệ sao cho đảm bảo các nguồn tích luỹ, tiết kiệm nguồn vốn nhàn rỗi khác trong nền kinh tế được khai thác, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn. Chiến lược huy động vốn được phát động mạnh mẽ liên tục trong suốt thời kỳ 1993 -1997. Phương châm là hạn chế, giảm thiểu dần cung ứng tiền cơ bản qua kênh tín dụng, buộc các tổ chức tín dụng phải đi vay để cho vay làm tốt vai trò trung gian tài chính của nền kinh tế. Các hình thức huy động vốn cũng được đa dạng hoá, có cơ cấu hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư trung và dài hạn. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chính thức khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ khác trên thế giới như IMF, WB, ADB... Qua đó tranh thủ được sự giúp đỡ về mặt tổ chức, điều hành... của các tổ chức này. Kể từ cuối năm 1993 khi Ngân hàng Nhà nước tổ chức hình thành thị trường nội tệ liên ngân hàng và sau đó gần một năm là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước con phối hợp với hệ thống tài chính đến tháng 6 năm 1995, Ngân hàng Nhà nước chính thức tổ chức bán đấu giá tín phiếu kho bạc tạo nên công cụ huy động vốn mới trên thị trường tiền tệ, góp phần lành mạnh hoá ngân sách. Ngân hàng Nhà nước còn mở rộng đối tượng cho vay sang nhiều thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế làm cho nền kinh tế có sự phát triển đồng đều. Bên cạnh việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua con đường tín dụng, hàng năm Ngân hàng Nhà nước còn phải bổ sung phần tiền cung ứng khi chuyển đổi ngoại tệ ròng kết dư nhằm phục vụ mục tiêu ổn định sức mua đối với đồng tiền Việt Nam. Như vậy, chính sách tiền tệ và đặc biệt là các công cụ của chính sách tiền tệ đã góp phần rất quan trọng vào công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta. Nó góp phần tạo ra các định hướng làm ổn định công ăn việc làm, chống lạm phát, ổn định tỷ giá... từ đó làm cho nền kinh tế phát triển. 2.2. Thực trạng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, chính sách tiền tệ của một quốc gia, nhất là quốc gia đang phát triển khó có thể tách khỏi xu hướng chính sách tiền tệ của các nước lớn. Từ năm 1991 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới ngân hàng, hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ cũng được hình thành và phát triển. Trong điều kiện thị trường tiền tệ và thị trường tài chính chưa phát triển, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện kiểm soát tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ trực tiếp kết hợp với các công cụ gián tiếp và từng bước đổi mới chuyền từ sử dụng công cụ trực tiếp sang sử dụng các công cụ gián tiếp phù hợp với thống lệ quốc tế và xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ thì việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay chưa hẳn là hoàn thiện. Vẫn còn nhiều bất cập khi điều hành chính sách tiền tệ mà Ngân hàng Nhà nước và các Bộ hữu quan cần phải tập trung giải quyết. Kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau: Cách xác định lượng tiền cung ứng: nếu như trong thời kỳ kế hoạch hoá tâp trung chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nyo là do Chính phủ phê duyệt thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền (D) của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác. Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỷ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiền tệ… Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: được sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đông cứng, đóng băng như thời kỳ kế hoạch hóa tập trung (lãi suất cố định nhiều năm… ) Cơ chế điều hành: năm 1988, hệ thống ngân hàng đã được phân thành hai cấp Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng; trực thuộc Chính phủ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang đi đúng hướng. Lãi suất đã được thay đổi linh hoạt và kịp thời. Lãi suất của dự trữ bắt buộc cũng được thay đổi linh hoạt. Tính thanh khoản của thị trường cũng được tăng lên thông qua việc Ngân hàng Nhà nước mua lại trái phiếu đã phát hành. Sự “chênh” giữa cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đã cản trở  rất nhiều đến sự vận hành thông suốt và việc mở rộng lĩnh vực ngoại thương một cách ổn định. Ngân hàng Nhà nước cần phải xem lại việc quản lý hệ thống tiền tệ hiện nay để duy trì tính thông suốt trong các giao dịch hàng ngày. 2.2.1. Công cụ tái cấp vốn Để nâng cao hiệu quả sử dụng của công cụ này, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước đổi mới theo hướng tỷ trọng tái cấp vốn theo hình thức thế chấp các chứng từ có giá tăng dần, còn tỷ trọng tái cấp vốn theo mục tiêu chỉ định ngày càng giảm. Trên thực tế, bên cạnh hai hình thức tái cấp vốn trên, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện cho vay thanh toán bù trừ, một hình thức tái cấp vốn ngắn hạn để bù đắp nhiều thiếu hụt thanh toán tạm thời của các tổ chức tín dụng từ năm 1991. Với hình thức cho vay thế chấp chứng từ, chứng từ thế chấp cũng được mở rộng. Từ ban đầu, chứng từ thế chấp chỉ bao gồm tín phiếu kho bạc chưa đến hạn thanh toán, khế ước cho vay ngắn hạn (theo Quyết định số 285/QĐ-NH14 ngày 10/11/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước). Đến năm 1997, Ngân hàng Nhà nước bổ sung thêm hình thức cho vay thế chấp bằng ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước. Hiện nay, theo quy định của luật Ngân hàng Nhà nước, hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng gồm: cho vay theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có bảo đảm cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn. Đặc biệt, việc quy định về lãi suất tái cấp vốn cũng được đổi mới: từ năm 1994 đến năm 1997, lãi suất tái cấp vốn được quy định theo tỷ lệ % trên lãi suất cho vay áp dụng đối với dự án cho vay của tổ chức tín dụng (bằng từ 60% đến 100% lãi suất cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng). Nhưng từ cuối tháng 5 năm 1997 đến nay, lãi suất tái cấp vốn đã được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với diễn biến cung cầu vốn trên thị trường. 2.2.2. Công cụ dự trữ bắt buộc Công cụ dự trữ bắt buộc được chính thức thực hiện từ năm 1992. Kể từ thời điểm đó cho đến nay, công cụ dự trữ bắt buộc đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiên. Ban đầu, theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước năm 1992 dự trữ bắt buộc được duy trì tại một tài khoản riêng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% trên toàn bộ tiền gửi tại các tổ chức tín dụng. Theo đó, vải trò của tỷ lệ dự trữ bắt buộc là để đảm bảo khả năng thanh toán và kiểm soát cung ứng tiền nhưng lại hạn chế Ngân hàng Nhà nước trong việc dự báo nhu cầu tăng, giảm dự trữ của các ngân hàng thương mại và vốn của các tổ chức tín dụng không được sử dụng linh hoạt. Để khắc phục các hạn chế trên, năm 1995 công cụ này đã được đổi mới như sau: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền thanh toán được thống nhất vào một tài khoản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% áp dụng cho các loại tiền gửi dưới một năm và trong cơ cấu tiền dự trữ bắt buộc có 70% phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng phải thường xuyên duy trì đầy đủ số tiền dự trữ bắt buộc phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước (duy trì hàng ngày). Với những thay đổi này, Ngân hàng Nhà nước có thể dự báo nhu cầu dự trữ của các tổ chức tín dụng thông qua theo dõi mức dự trữ vượt. Tuy nhiên, việc khống chế theo ngày cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ ở mức độ thấp khiến cho công cụ này trở nên cứng nhắc, các tổ chức tín dụng luôn để dự trữ vượt do có hạn chế khả năng sử dụng vốn của các tổ chức tín dụng. Từ năm 1999, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp dụng mở rộng thêm với các đối tượng: ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 0% đến 20% và đặc biệt số tiền dự trữ bắt buộc được tính bình quân số dư tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước trong kỳ duy trì. Với cách tính dự trữ bắt buộc mới, các tổ chức tín dụng có thể điều hành vốn linh hoạt hơn trước đây, đồng thời Ngân hàng Nhà nước có thể dự đoán được nhu cầu dự trữ của các tổ chức tín dụng, tăng khả năng kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Đặc biệt, trong năm 2000 và 2001, công cụ dự trữ bắt buộc tiếp tục được điều hành phù hợp với diễn biến tiền tệ và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước. Việc điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ, đồng thời giảm dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng Việt Nam đồng đã có tác dụng lớn trong việc điều hành lãi suất và tỷ giá, góp phần thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi Việt Nam đồng, do đó hạn chế dòng chuyển đổi từ Việt Nam đồng sang đô la Mỹ. Để phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt là xu hướng giảm mạnh lãi suất trên thị trường quốc tế tháng 12 năm 2001, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ xuống còn 10% năm nhằm tăng khả năng huy động ngoại tệ của các tổ chức tín dụng. Nhìn chung, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc thực sự chưa được sử dụng linh hoạt, nhạy bén nên đã hạn chế chức năng vốn có của nó. Khi nghiên cứu về bản chất của dự trữ bắt buộc thì dự trữ bắt buộc là công cụ mang tính chất hành chính của Ngân hàng Nhà nước nhằm điều tiết mức cung tiền tệ của tổ chức tín dụng cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền đối với lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế. Dự trữ bắt buộc là biện pháp kiểm soát cung ứng tiền tệ không phải là cách để cho tiền ổn định. 2.2.3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong điều hành chính sách tiền tệ, sau một quá trình chuẩn bị, ngày 12 tháng 7 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức khai trương nghiệp vụ thị trường mở. Đây là một bước tiến mới trong điều hành chính sách tiền tệ theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp để phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước. Hiện nay, nghiệp vụ thị trường mở đã được tăng cường sử dụng. Đặc biệt, bên cạnh việc đưa nghiệp vụ hoán đổi (Swap) vào hoạt động, việc Ngân hàng Nhà nước liên tục thực hiện chào mua giấy tờ có giá với khối lượng lớn đã giúp các tổ chức tín dụng khắc phục được khó khắn về nguồn vốn Việt Nam đồng. Mặc dù doanh số giao dịch qua các phiên giao dịch chưa lớn, số lượng thành viên tham gia và lượng hàng hoá có thể sử dụng trên thị trường còn hạn hẹp, nhưng kết quả các phiên giao dịch cho thấy việc sử dụng các công cụ nghiệp vụ thị trường mở đã có những dấu hiệu tích cực, góp phần tác động đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. Hoạt động thị trường mở ở nước ta còn quá trầm lặng, chưa trở thành công cụ đắc lực của chính sách tiền tệ ở nước ta. Với những thống kê cụ thể trên ta thấy được hạn chế trên là do nghiệp vụ thị trường mở là một nghiêp vụ còn rất mới đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam. Người dân thì thiếu thống tin, có sự hiểu biết quá ít về chứng khoán cũng như nhiều loại giấy tờ có giá khác... mặt khác, thị trường liên ngân hàng chưa thực sự phát triển, hàng hoá trên thị trường hạn hẹp về cả chủng loại và số lượng. Thường xuyên diễn ra tình trạng khan hiếm hàng hoá làm nản lòng các nhà đầu tư. Ngoài ra việc sử dụng tín phiếu kho bạc trên thị trường thứ cấp chưa linh hoạt. Các tổ chức tín dụng thường sử dụng tín phiếu kho như một công cụ đầu tư hơn là công cụ của thị trường mở. Từ đó dẫn tới việc khan hiếm hàng hoá. Như vậy, do còn hạn chế cả về cơ sở vật chất, trình độ cán bộ nhân sự đơn sơ của thị trường tài chính, sự bất cập trong vấn đề lượng thành viên tham gia thị trường cũng như khối lượng giấy tờ có giá do các thành viên nắm giữ... nên tác động can thiệp của Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường mở rất còn hạn chế. 2.2.4. Công cụ hạn mức tín dụng Được Ngân hàng Nhà nước áp dụng từ năm 1994, xuất phát từ những đòi hỏi thực tế là lạm phát có xu hướng tăng cao, tổng phương tiện thanh toán tăng nhanh. Trong điều kiện thị trường thứ cấp chưa phát triển, Ngân hàng Nhà nước chưa thể sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng công cụ hạn mức tín dụng để hạn chế hệ số nhân tiền tệ, qua đó kiểm soát sự gia tăng tổng phương tiện thanh toán. Trên thực tế, việc áp dụng công cụ hạn mức tín dụng trong các năm từ 1994 đến 1997 đã góp phần kiểm soát mức độ gia tăng tổng phương tiện thanh toán, góp phần kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, hạn mức tín dụng chỉ được phân bổ đối với một số các ngân hàng thương mại nên phần nào hạn chế tính công bằng trong cạnh tranh. Nhất là trong các năm từ 1998 đến nay, trong điều kiện nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam rất lớn, lạm phát có xu hướng giảm thấp, việc áp dụng công cụ này phần nào ảnh hưởng đến việc đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Do đó từ quý II năm 1998, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định không sử dụng công cụ hạn mức tín dụng như là một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ mà chỉ dùng đến hạn mức tín dụng khi cần phải hạn chế sự gia tăng tín dụng nhanh chóng có nguy cơ lạm phát cao. 2.2.5. Công cụ lãi suất Năm 1992, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bước chuyển đổi quan trọng chuyển từ chính sách lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương tạo đòn bẩy cho các ngân hàng thương mại chuyển từ hoạt động kinh doanh thua lỗ sang có lãi. Năm 1996, Ngân hàng Nhà nước thực hiện tự do hoá lãi suất tiền gửi và quy định trần lãi suất cho vay nhằm hoàn thiện công cụ lãi suất dần tiến tới mục tiêu tự do hoá lãi suất. Tháng 8 năm 2000, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện bước đổi mới oơ bản về điều hành lãi suất. Thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng Việt Nam đồng và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. Với cơ chế điều hành lãi suất này được coi là phù hợp với mức độ phát triển của thị trường tiền tệ và khả năng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước. Năm 2001, để khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng, thực hiện chủ trương kích cầu của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã bốn lần điều chỉnh lãi suất cơ bản từ mức 0,75% /tháng xuống 0,6%/tháng. Tháng 6 năm 2002, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyết định số 546/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận bằng Việt Nam đồng. Theo tinh thần quyết định này, tất cả các tổ chức tín dụng được toàn quyền quyết định lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng mình, Ngân hàng Nhà nước vẫn công bố lãi suất cơ bản để các tổ chức tín dụng tham khảo. Việc quản lý thị trường thông qua lãi suất cơ bản phù hợp với tình hình chung của thế giới, tiến dần tới việc tự do hoá lãi suất, để cho cung - cầu thị trường quyết định lãi suất. Như vậy, Việt Nam có nên thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất hay không? đó là câu trả lời còn để trống. 2.2.6. Công cụ tỷ giá Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ cơ chế điều hành tỷ giá. Từ năm 1994, cùng với sự ra đời của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã bắt đầu thực hiện điều hành tỷ giá theo cơ chế mới thay cho chế độ đa tỷ giá trước đây. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu công bố tỷ giá chính thức giữa ngoại tệ và Việt Nam đồng, tỷ giá mua bán trên thị trường được phép dao động trong biên độ cho phép. Trên thực tế, trong những năm 1997 - 1998, việc Ngân hàng Nhà nước chủ động điều chỉnh biên độ giao dịch và tiếp theo việc Ngân hàng Nhà nước ấn định tỷ giá chính thức trên cơ sở tỷ giá mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng khiến cho tỷ giá phù hợp hơn với tương quan cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Do đó đã góp phần hạn chế ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1998 ở mức 6%/năm, lạm phát được kiềm chế ở mức 9,2%/năm. Năm 1999, Ngân hàng Nhà nước thực hiện bước đổi mới cơ bản về điều hành tỷ giá theo các nguyên tắc thị trường bằng việc hàng ngày công bố tỷ giá chính thức là tỷ giá giao dịch bình q

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDATV1036.doc